Tài chính tiêu dùng, mạch máu nhỏ sức lan tỏa lớn

Bài 1: Tài chính tiêu dùng, kênh tiếp cận vốn thuận lợi cho người dân

Chí Tín
(TBTCO) - Tài chính tiêu dùng là một kênh dẫn vốn quy mô nhỏ, nhưng đã và đang ngày càng chứng tỏ vai trò và thể hiện những đóng góp đáng kể trong việc lấp đầy khoảng trống trên thị trường, đa dạng hóa dịch vụ tài chính và đáp ứng rộng rãi nhu cầu người dân. Tuy nhiên, tài chính tiêu dùng cũng bộc lộ những mặt trái. Trong đó, chuyện “đánh lận con đen”, thật giả lẫn lộn vẫn diễn ra khá phổ biến đặt ra những thách thức lớn trong khâu quản lý để thị trường này phát triển an toàn, lành mạnh.
aa

Hoạt động tài chính tiêu dùng trong những năm gần đây tăng cao đã đáp ứng nhu cầu vay vốn thuận lợi và dễ dàng cho người dân. Mặt tích cực của tài chính tiêu dùng nằm ở chỗ người dân có thể vay vốn khá thuận lợi với những yêu cầu đơn giản. Tài chính tiêu dùng cũng có tác động kích thích tăng trưởng thông qua làm tăng sức cầu mua hàng từ bán hàng trả góp.

Tốc độ tăng nhanh

Theo đánh giá của Viện Chiến lược thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), sự phát triển của dịch vụ tài chính tiêu dùng nằm trong xu hướng chung trong chuỗi phát triển dịch vụ tài chính trên thế giới.

Cụ thể, từ cuối những năm 1990 khi các sản phẩm tín dụng tiêu dùng và tài chính tiêu dùng được cung cấp bởi hệ thống ngân hàng bắt đầu ra đời và phát triển, đến trước 2007 – khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu được châm ngòi tại Mỹ, thị trường tín dụng tiêu dùng đã ghi nhận xu hướng tăng trưởng mạnh mẽ trên khắp toàn cầu. Tổng dư nợ của khu vực hộ gia đình tính theo tỷ lệ phần trăm trên GDP tại Mỹ trong giai đoạn này đã tăng từ 58% lên 97% và tiếp tục xu hướng tăng trong các năm tiếp theo.

Đến ngày 30/9/2022 dư nợ cho vay tiêu dùng đạt khoảng 2,42 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 16% so với cuối năm 2021.
Đến ngày 30/9/2022 dư nợ cho vay tiêu dùng đạt khoảng 2,42 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 16% so với cuối năm 2021.

Tại Việt Nam, trong 5 năm gần đây, tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 20%/năm.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế thuộc NHNN cho biết, hoạt động cho vay tiêu dùng đã có bước nhảy vọt cả về số lượng tổ chức tín dụng tham gia, mức độ đa dạng về sản phẩm tài chính tiêu dùng và quy mô dư nợ (dư nợ tăng 1,8 lần 5 năm qua và tăng hơn 10 lần trong 10 năm qua). Tăng trưởng dư nợ cho vay tiêu dùng bình quân 10 năm 2010-2020 (33,7%) luôn cao hơn tăng trưởng dư nợ cho vay nền kinh tế (17,3%).

Trong 2 năm 2020 và năm 2021, ảnh hưởng của dịch Covid-19 làm tốc độ tăng trưởng tín dụng tiêu dùng thấp hơn tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế. Tuy nhiên từ đầu năm 2022, theo sự phục hồi của kinh tế - xã hội, tín dụng tiêu dùng có xu hướng tăng trưởng nhanh trở lại và đạt mức cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung. Tỷ trọng tín dụng tiêu dùng ngày càng tăng trong tổng dư nợ nền kinh tế (từ 8,17% năm 2010 lên xấp xỉ 20% cuối năm 2021 và ước trên 21% cuối năm 2022), từ đó ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của người dân.

Tiếp tục sức lan tỏa

Riêng trong năm 2022, tăng trưởng cho vay tiêu dùng vẫn ghi nhận tốc độ nhanh hơn so với tăng trưởng tín dụng bình quân. Số liệu từ NHNN cho biết, đến ngày 30/9/2022, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 11,6 triệu tỷ đồng, tăng 10,9% so với cuối năm 2021; trong đó dư nợ cho vay tiêu dùng đạt khoảng 2,42 triệu tỷ đồng, tăng khoảng 16% so với cuối năm 2021, chiếm gần 21% dư nợ tín dụng nền kinh tế với 84 tổ chức tín dụng tham gia cho vay. Dư nợ cho vay tiêu dùng của các công ty tài chính tiêu dùng đạt khoảng 145 nghìn tỷ đồng, chiếm gần 6% dư nợ cho vay tiêu dùng của hệ thống và chiếm gần 1,3% dư nợ toàn nền kinh tế.

Thị trường tín dụng tiêu dùng được phân khúc bởi hai nhóm nhà cung cấp chính là ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng không phải ngân hàng như: công ty tài chính tiêu dùng, các tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân, các tổ chức cho vay khác… Gần đây, thị trường tài chính tiêu dùng còn được đa dạng hóa hơn với sự tham gia của các công ty công nghệ tài chính và các hoạt động cấp tín dụng thông qua bán hàng trả chậm của các công ty bán lẻ.

Kênh tiếp cận vốn thuận tiện hơn so với tín dụng thông thường cho người dân

Nhóm khách hàng chủ yếu tìm đến giải pháp vay trả góp là những người lao động có thu nhập trung bình thấp, nhu cầu vay vốn cao nhưng không đủ điều kiện tiếp cận nguồn vốn vay từ ngân hàng. Đặc biệt, việc vay qua các công ty tài chính là giải pháp tài chính mà không đòi hỏi người dân về tài sản thế chấp hay bắt buộc phải chứng minh thu nhập thì mới được vay. Ngoài ra, tài chính tiêu dùng được nhiều người dân chọn vay do thủ tục vay đơn giản và giải ngân nhanh hơn so với vay tín dụng thông thường theo quy trình của các ngân hàng.

Theo đánh giá của bà Trần Thanh Nữ Tường Vy - Phó Tổng giám đốc thường trực Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB Finance), tiềm năng thị trường tài chính tiêu dùng tại Việt Nam rất tốt nhờ các chính sách đúng đắn từ Chính phủ. Trong đó, điểm đáng chú ý của thị trường là nhóm dân số thuộc độ tuổi lao động chín muồi từ 25 - 49 tuổi, cũng là nhóm khách hàng tiềm năng của các công ty tài chính, chiếm tỷ lệ khá cao với khoảng 40% dân số. “Như vậy, bức tranh lớn về cơ hội cho công ty tài chính còn rất nhiều và cũng là mảnh đất lớn đầy hấp dẫn đối với các tổ chức tài chính nước ngoài đầu tư vào Việt Nam” - bà Tường Vy nhận định.

Trong khi đó theo đại diện Công ty Tài chính TNHH MTV Home Credit Việt Nam, giai đoạn dịch Covid-19 đã thúc đẩy sự chuyển đổi số mạnh mẽ tại Việt Nam và các dịch vụ số thu hút tới 41% khách hàng mới (cao hơn trung bình của Đông Nam Á). 94% trong số này có kế hoạch tiếp tục duy trì những hành vi sử dụng dịch vụ số hóa sau dịch bệnh.

Hệ thống dữ liệu lớn, phân tích chuyên sâu và trí tuệ nhân tạo mở ra hàng loạt các cơ hội tiếp cận dịch vụ tài chính và đây cũng là cơ hội cho các đối tác bán lẻ đẩy cao doanh số hơn. Các công ty tài chính tiêu dùng ở Việt Nam cũng đã triển khai ứng dụng di động, đã chuyển đổi thành nơi khách hàng có thể tự phục vụ qua cách tiếp cận dễ hiểu, nội dung chuyên biệt và những sản phẩm đặc thù theo nhu cầu cá nhân.

Chí Tín

Đọc thêm

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI chi đậm cổ tức trên 770 tỷ đồng, kinh doanh vượt “bão” thiên tai

PVI dự kiến tiếp tục chi đậm cổ tức gần 773 tỷ đồng, khi trình cổ đông phương án chia cổ tức năm 2025 ở mức 33%, gồm 23% bằng tiền mặt và 10% bằng cổ phiếu, sau khi ghi nhận kết quả kinh doanh tích cực. Năm 2025, công ty ghi dấu ấn với doanh thu hợp nhất lần đầu cán mốc 1 tỷ USD, nhiều chỉ tiêu vượt kế hoạch; đồng thời nâng tổng tài sản lên 44.512 tỷ đồng, tăng 41%.
Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

Sửa quy định về xử phạt vi phạm hành chính lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm

(TBTCO) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 174/2024/NĐ-CP ngày 30/12/2024 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực thi hành từ 1/5/2025.
OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

OCB đặt mục tiêu lãi kỷ lục gần 7.000 tỷ đồng, tín dụng tăng 15%

(TBTCO) - Ngân hàng OCB vừa thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2026 với loạt chỉ tiêu tăng trưởng hai chữ số. Theo đó, ngân hàng đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế 6.960 tỷ đồng, tăng 39% và hướng tới mức cao nhất lịch sử. Dư nợ tín dụng thị trường 1 dự kiến đạt 235.875 tỷ đồng, tăng 15%; đồng thời kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 3%, đảm bảo tăng trưởng đi kèm an toàn.
ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

ACB muốn lập công ty bảo hiểm vốn điều lệ 500 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa bổ sung tờ trình sửa đổi đề án thành lập công ty bảo hiểm phi nhân thọ tại Đại hội đồng cổ đông tới đây. Theo đó, ACB Insurance có vốn điều lệ dự kiến 500 tỷ đồng. Doanh nghiệp đặt mục tiêu sau 5 năm sẽ chiếm trên 1,5% thị phần nhờ tăng trưởng phí trên 50%/năm.
Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

Bài toán điều hành chính sách tiền tệ trước "ẩn số kép"

(TBTCO) - Theo TS. Nguyễn Trí Hiếu - Viện trưởng Viện Nghiên cứu và Phát triển Thị trường Tài chính và Bất động sản Toàn Cầu, căng thẳng tại Trung Đông khiến giá năng lượng tăng và tỷ giá chịu áp lực, kéo theo tác động tới mặt bằng giá trong nước. Nguy cơ "nhập khẩu lạm phát" gia tăng, đặt ra thách thức lớn cho điều hành chính sách tiền tệ.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 04:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 04:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80