Bảo hiểm nhân thọ tìm sức bật sau những năm "sâu rễ bền gốc"

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Bất chấp áp lực suy giảm doanh thu và thực tế 5 doanh nghiệp vẫn ngậm ngùi báo lỗ, lợi nhuận ngành bảo hiểm nhân thọ nửa đầu năm vẫn tăng tốc 137%. Nhiều doanh nghiệp nỗ lực tái cân đối toàn diện, kiên trì "sâu rễ bền gốc" từng bước củng cố nền tảng tăng trưởng dài hạn.
aa

Kiên trì “sâu rễ bền gốc”, vượt những năm đầu thua lỗ

Bức tranh kinh doanh bảo hiểm nhân thọ ghi nhận những tín hiệu tích cực, khi lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp cải thiện đáng kể, dù doanh thu phí bảo hiểm vẫn chịu áp lực suy giảm.

Cập nhật báo cáo tài chính bán niên, bao gồm Techcom Life vừa công bố, cho thấy doanh thu phí bảo hiểm gốc của các doanh nghiệp giảm 4,8%, còn 56.234,1 tỷ đồng; lợi nhuận gộp bảo hiểm giảm 3,5%, xuống 4.034,4 tỷ đồng. Trái chiều, lợi nhuận gộp tài chính tăng 25,2%, đạt 18.121,1 tỷ đồng, góp phần đẩy lợi nhuận trước thuế tăng vọt 137%, lên 9.490 tỷ đồng.

Dù vẫn còn 5 doanh nghiệp chưa có lãi, trong đó có những đơn vị thua lỗ kéo dài cả thập kỷ, bức tranh lợi nhuận đã xuất hiện những gam màu sáng hơn, phản ánh phần nào nỗ lực tái cân đối hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ. Từ đó, giúp củng cố nền tảng tài chính, tạo dư địa cho doanh nghiệp duy trì tăng trưởng và đón đầu sự phục hồi của thị trường thời gian tới.

Bảo hiểm nhân thọ tìm sức bật sau những năm
Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nỗ lực tái cân đối hoạt động, nâng cao hiệu quả kinh doanh. Ảnh: Đức Thanh

Chia sẻ về đặc thù kinh doanh trong những năm đầu hoạt động, ông Bae Seung Jun, Tổng Giám đốc Shinhan Life Việt Nam cho biết, mốc 5 năm đầu tiên là giai đoạn tập trung đầu tư nền tảng, từ cơ sở hạ tầng, mạng lưới kênh đại lý bảo hiểm cá nhân, đến hệ thống công nghệ thông tin.

Việc ghi nhận lỗ lũy kế trong những năm đầu hoạt động là đặc thù chung của ngành bảo hiểm nhân thọ. Tuy nhiên, tỷ lệ biên khả năng thanh toán của Công ty luôn duy trì ở mức rất cao, đạt hơn 4.000% trong năm 2024, khẳng định năng lực tài chính vững chắc và an toàn.

Cũng theo bà Lo, Mei-Fang, Tổng Giám đốc Fubon Life Việt Nam, bảo hiểm nhân thọ là một cam kết quan trọng, đồng hành cùng khách hàng trong nhiều thập kỷ, thậm chí cả cuộc đời. 15 năm qua là giai đoạn đầu tư chiến lược, đặt nền móng cho sự phát triển bền vững của Fubon Life Việt Nam.

“Chúng tôi kiên trì phát triển thị trường với phương pháp ổn định, chắc chắn, sâu rễ bền gốc, liên tục đầu tư nguồn lực vào nền tảng hoạt động, hệ thống thông tin, cơ chế bảo hiểm và giải quyết bồi thường, đồng thời xây dựng đội ngũ kinh doanh chuyên môn sâu với tinh thần tôn trọng sự chuyên nghiệp và tuân thủ quy định pháp luật”, Tổng Giám đốc Fubon Life chia sẻ.

Bà Lo, Mei-Fang nhấn mạnh, ngành bảo hiểm nhân thọ cần thời gian để tích lũy các hợp đồng hiệu lực và phí bảo hiểm tái tục. Với việc từng bước thực hiện xây dựng cơ sở hạ tầng và đổi mới kênh phân phối, các khoản đầu tư chiến lược trong giai đoạn đầu dần mang lại nhiểu kết quả trong hoạt động kinh doanh.

Doanh nghiệp tái cân đối hoạt động, nhìn sâu những “thước đo”

Phân tích sâu hơn về đặc thù lợi nhuận của ngành bảo hiểm nhân thọ, theo ông Trần Nguyên Đán, Viện trưởng Học viện Bảo hiểm và Quản trị rủi ro tài chính (IFRM), có hai loại thua lỗ trong bảo hiểm nhân thọ, vì nếu không phân biệt được thì dễ đánh giá sai bản chất.

Loại thứ nhất, lỗ kỹ thuật do cấu trúc chi phí đầu kỳ, đây là đặc thù không thể tránh của ngành. Một hợp đồng bảo hiểm nhân thọ 20 năm, toàn bộ chi phí hoa hồng đại lý, tuyển dụng, đào tạo, công nghệ đều đổ vào năm đầu, trong khi phí bảo hiểm thu về đều đặn trong suốt vòng đời hợp đồng.

“Mô hình này về nguyên tắc phải lỗ giai đoạn đầu. Không một công ty bảo hiểm nhân thọ nào trên thế giới có thể tránh khỏi điều này khi đang trong giai đoạn tăng trưởng mạnh về khai thác mới”, ông Đán nêu rõ.

Loại thứ hai mới là vấn đề đáng lo được Viện trưởng IFRM chỉ rõ, đó là lỗ do mô hình kinh doanh có vấn đề, khi doanh nghiệp định phí sai, chi phí vận hành quá cao so với quy mô, tỷ lệ hủy hợp đồng năm đầu và năm thứ hai ở mức báo động, hoặc danh mục đầu tư không hiệu quả.

Từ sự khác biệt trên, ông Đán lưu ý lợi nhuận kế toán không phải thước đo sức khỏe duy nhất và không phải thước đo quan trọng nhất đối với một doanh nghiệp nhân thọ đang trong giai đoạn tăng trưởng. Điều cốt lõi là phải nhìn vào nguyên nhân thua lỗ và một số chỉ tiêu khác để đánh giá toàn diện.

Một đại diện trong ngành bảo hiểm cũng cho rằng, việc một doanh nghiệp lỗ kỹ thuật trong 5 - 10 năm đầu là hoàn toàn bình thường, do đặc thù chi phí khai thác ban đầu, phần lớn là hoa hồng đại lý và chi phí trả trước (upfront fee) cho kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) rất lớn, trong khi doanh thu phí được phân bổ dần qua nhiều năm.

Tối ưu vận hành, tạo đà tăng trưởng dài hạn

Ông Bae Seung Jun, Tổng Giám đốc Shinhan Life Việt Nam kỳ vọng, cùng với việc quy mô doanh thu đang dần đạt đến điểm hòa vốn, chi phí cố định được phân bổ hiệu quả hơn, công ty kỳ vọng sẽ sớm ghi nhận lợi nhuận kênh phân phối dương trong lộ trình 1 - 2 năm tới, tiến tới sự phát triển bền vững.

“Tuy nhiên, tình trạng thua lỗ kéo dài sẽ trở thành nguy cơ 'báo động đỏ' đối với thị trường khi xuất hiện 3 dấu hiệu sau”, vị này nêu rõ. Đó là vốn chủ sở hữu bị bào mòn và biên khả năng thanh toán suy giảm; hiện tượng lỗ do dòng tiền âm, chứ không chỉ là lỗ kế toán; hay cổ đông ngoại từ chối “bơm” thêm vốn.

Đối với nhà đầu tư và đặc biệt là khách hàng, để không bị hoang mang bởi con số “lỗ lũy kế” trên báo cáo lãi lỗ, vị này cũng khuyến nghị tập trung theo dõi một số chỉ tiêu định lượng trên báo cáo tài chính và báo cáo thường niên như: biên khả năng thanh toán; quỹ dự phòng nghiệp vụ; danh mục đầu tư tài chính; tỷ lệ duy trì hợp đồng; dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh...

Để từng bước nâng cao hiệu quả kinh doanh, lãnh đạo Shinhan Life Việt Nam cho biết, công ty sẽ tiếp tục đẩy mạnh số hóa quy trình vận hành, áp dụng công nghệ vào thẩm định tự động và chăm sóc khách hàng để giảm thiểu chi phí quản lý. Đồng thời, doanh nghiệp chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng.

“Tập trung nâng cao tỷ lệ duy trì hợp đồng thông qua việc tuyển dụng chọn lọc và đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu cho đại lý, đảm bảo doanh thu ổn định lâu dài”, ông Bae Seung Jun nhấn mạnh.

Lãnh đạo Fubon Life cũng nhấn mạnh, công ty tập trung vào các sản phẩm cốt lõi có mức bảo vệ cao, không chỉ phí bảo hiểm hợp đồng mới duy trì đà tăng trưởng ổn định mà tỷ lệ duy trì hợp đồng cũng có xu hướng cải thiện; đồng thời, sự chuyển dịch từ số lượng sang chất lượng của đội ngũ kinh doanh đã nâng cao năng suất bình quân đầu người, giúp thu hẹp đáng kể khoản lỗ nửa đầu năm và tiếp tục tăng dòng tiền hoạt động và sức khỏe tài chính.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 19 - 23/10 ghi nhận, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm vốn "nhỏ giọt" trong 2 phiên, qua đó hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, đưa lượng OMO lưu hành xuống đáy hơn 1 năm. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn tương đối ổn định quanh 3-4%, trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt.
Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay 24/10: USD ngân hàng giảm đáng kể trong tuần, Fed trước khả năng tiếp tục tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 24/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước; giá USD tại các ngân hàng đồng loạt hạ nhiệt. Chỉ số DXY chốt tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang. Dữ liệu PMI cho thấy kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh, củng cố kỳ vọng Fed sẽ tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/10: Vàng thế giới “thủng” mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Vàng thế giới rơi dưới ngưỡng 4.000 USD/ounce sau một tuần bán tháo mạnh, trong khi đó, vàng miếng và vàng nhẫn trong nước cũng đồng loạt giảm.
VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

VSBF 2026: Định hình tương lai tài chính - ngân hàng giữa "làn sóng" công nghệ và xu thế phát triển bền vững

Từ ngày 22 - 24/10, tại Hà Nội, Hội thảo quốc tế về Ngân hàng và Tài chính Việt Nam 2026 (Vietnam Symposium in Banking and Finance 2026 - VSBF 2026) diễn ra, với sự phối hợp tổ chức của Tổ chức Khoa học và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu (AVSE Global), Học viện Ngân hàng, Hiệp hội Quốc tế về Phát triển Kinh tế Tài chính (ISAFE) và Đại học Massey.
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 14,170
Miếng SJC Nghệ An 13,870 14,170
Miếng SJC Thái Bình 13,870 14,170
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 14,120
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 14,120
Trang sức 99.9 13,400 14,000
Trang sức 99.99 13,410 14,010
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 14,172
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 14,173
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 1,417
Cập nhật: 25/10/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 25/10/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30