Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
aa
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2026 “Phất cờ lệnh” giảm lãi suất, ngân hàng dồn dập nhập cuộc Lãi suất huy động giảm tới 0,9 điểm phần trăm, ưu đãi lãi vay được “khoanh vùng”

Giảm lãi suất gắn với chế tài

Trong báo cáo phân tích ngành ngân hàng, Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) đánh giá tác động của Công văn 9608/NHNN-CSTT với trọng tâm hạ mặt bằng lãi suất và siết chặt rủi ro tín dụng.

Trước đó, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Công văn 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng giảm lãi suất tiền gửi niêm yết tối thiểu 0,5%/năm với kỳ hạn từ 6 tháng và giảm lãi suất cho vay 1,5 - 2%/năm đối với lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và lĩnh vực ưu tiên, đồng thời siết chặt kỷ luật tín dụng và quản trị rủi ro.

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó
Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó nóng trở lại cuối năm. Ảnh minh họa.

Nhóm phân tích VDSC đánh giá, công văn sẽ có tác động thực chất hơn các phát biểu chỉ đạo trước đây của Thống đốc, đặc biệt về vấn đề giảm lãi suất.

“Điểm khác biệt so với các chỉ đạo trước là chế tài cụ thể với tổ chức tín dụng không tuân thủ có thể bị xem xét lại chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng còn lại của năm 2026, bị giao chỉ tiêu thấp năm 2027 hoặc phải áp dụng tỷ lệ an toàn cao hơn quy định” - VDSC nêu rõ.

Các ngân hàng cũng phản ứng nhanh, chỉ trong hai ngày 19 - 20/10, ít nhất 19 ngân hàng đã giảm lãi suất huy động, phổ biến 0,5 điểm phần trăm với kỳ hạn từ 6 tháng, trong đó có Vietcombank, ACB, VPBank, SACOMBANK, Shinhan Bank, MSB...; một số ngân hàng giảm mạnh hơn như: NCB giảm 0,6 điểm phần trăm; Kienlong Bank giảm tới 0,9 điểm phần trăm...

Song song với việc giảm lãi suất huy động, nhiều ngân hàng cũng triển khai điều chỉnh giảm lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ khách hàng.

Là một trong những ngân hàng nước ngoài tiên phong triển khai chính sách điều chỉnh giảm lãi suất cho vay, Shinhan Bank triển khai chương trình lãi suất cho vay mới với mức điều chỉnh giảm lên đến 1,5 điểm phần trăm đối với phần biên độ tính lãi suất của một số sản phẩm tín dụng.

Theo đó, với sản phẩm cho vay phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh dành cho hộ kinh doanh và khách hàng kinh doanh quy mô nhỏ (SOHO Facility Loan và SOHO Prime Facility), ngân hàng Shinhan điều chỉnh giảm 1,5 điểm phần trăm/năm đối với phần biên độ tính lãi suất thả nổi. Đây là mức điều chỉnh lớn nhất trong chương trình lần này.

MSB cũng triển khai chương trình tín dụng ưu đãi 10.000 tỷ đồng, với lãi suất cho vay thấp hơn tối thiểu 2%/năm so với mức thông thường, chỉ từ 7,5%/năm.

Hai lý do khiến lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm

Từ nay đến cuối năm, nhóm phân tích VDSC kỳ vọng lãi suất huy động đi ngang, hoặc ít nhất không tăng trở lại, vì hai lý do.

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó
“Kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế. Nhu cầu vốn trung - dài hạn của nền kinh tế còn lớn, trong khi quy mô huy động vẫn thấp hơn tín dụng” - nhóm VDSC nêu quan điểm.

VDSC chỉ rõ, thứ nhất, việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và gắn với chế tài về hạn mức tăng trưởng tín dụng.

Thứ hai, hạn mức tăng trưởng tín dụng còn lại không nhiều, khi phần lớn ngân hàng thương mại cổ phần quy mô lớn đã ở sát trần.

Ngoại lệ là nhóm ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc, gồm MB, VPBank và HDBank, với hạn mức tăng trưởng tín dụng lên tới 35%. Trong khi đó, ba ngân hàng thương mại nhà nước vẫn còn dư địa đáng kể khi tăng trưởng tín dụng mới đạt khoảng 5%, thấp hơn nhiều so với hạn mức được giao từ 10,6 - 13%.

Theo VDSC, nhiều ngân hàng vượt hạn mức room tín dụng khi tính thêm số dư mua hẳn L/C. Theo số liệu cuối quý II/2026, quy mô lớn nhất thuộc về SHB (khoảng 75.500 tỷ đồng), tiếp theo là Techcombank (khoảng 26.200 tỷ đồng), MB (khoảng 16.000 tỷ đồng mỗi ngân hàng)...

Đáng chú ý, khi cộng phần này vào tăng trưởng tín dụng 6 tháng đầu năm 2026, một số ngân hàng đã vượt hạn mức năm 2026.

Còn sang năm 2027, áp lực cân đối nguồn vốn và chi phí huy động của hệ thống ngân hàng được dự báo vẫn còn lớn.

Đến ngày 14/10/2026, tăng trưởng huy động đã cải thiện lên 11,22% từ đầu năm, bám sát tín dụng (11,44%), giúp chênh lệch quy mô thu hẹp từ mức đỉnh khoảng 2,8 triệu tỷ đồng giữa năm xuống khoảng 2,35 triệu tỷ đồng.

Dù vậy, theo VDSC, khoảng chênh lệch giữa huy động - tín dụng vẫn tương đương mức đầu năm 2026 và gấp đôi đầu năm 2025, cho thấy áp lực cấu trúc lên chi phí vốn của hệ thống ngân hàng chưa được giải quyết.

NIM ngân hàng nào chịu tác động lớn?

Đánh giá tác động lên biên lãi ròng (NIM), theo VDSC, NIM chịu áp lực trong ngắn hạn và phân hóa giữa các ngân hàng. Mức giảm lãi suất cho vay theo yêu cầu (1,5 - 2%) lớn hơn nhiều so với mức giảm huy động (tối thiểu 0,5%).

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó

Theo phát biểu của Thống đốc tại cuộc họp với các tổ chức tín dụng ngày 19/10, việc giảm lãi suất cần được xem xét cho cả dư nợ hiện hữu lẫn khoản vay mới, trong khi chi phí vốn chỉ giảm dần khi tiền gửi cũ đáo hạn.

Trên toàn hệ thống, các ngành sản xuất, kinh doanh (ngoài bất động sản và hoạt động khác) chiếm khoảng 55% dư nợ, nên về lý thuyết phạm vi chịu tác động là lớn.

Tuy nhiên, các ngân hàng đang giảm lãi suất chủ yếu qua các gói tín dụng có hạn mức và thời hạn như: BIDV khoảng 100.000 tỷ đồng, SACOMBANK tối đa 40.000 tỷ đồng, MSB 10.000 tỷ đồng.

“Phần dư nợ thực sự được giảm 1,5 - 2% vì vậy có thể thấp hơn nhiều, và tác động cuối cùng lên NIM toàn ngành chưa thể lượng hóa rõ” - nhóm phân tích VDSC tính toán.

Theo VDSC, ở từng ngân hàng, áp lực có thể tập trung ở nhóm có tỷ trọng cho vay sản xuất, kinh doanh cao như: VietinBank (66%), MB (57%), Vietcombank (56%) và BIDV (51%)...

Ngược lại, Techcombank, VPBank, VIB và ACB có tỷ trọng dưới 30% nên ít chịu ảnh hưởng hơn về lý thuyết. Trong nhóm chịu áp lực, Vietcombank và MB có lợi thế CASA cao và chi phí vốn thấp để hấp thụ một phần tác động.

Ngân hàng trước áp lực siết lãi dự thu, chia cổ tức

Kênh tác động trực tiếp và đo lường được hơn là yêu cầu kiểm soát lãi dự thu và chia cổ tức, khi Ngân hàng Nhà nước yêu cầu kiểm soát các khoản lãi dự thu, nhất là những khoản có giá trị lớn, kéo dài hoặc khó thu hồi.

Theo VDSC, MSB, Nam A Bank và SHB có tỷ lệ lãi dự thu trên tài sản sinh lãi cao nhất nhóm (2,1 - 3%), với số ngày phải thu lãi bình quân 82 - 143 ngày, gấp 3 - 5 lần Vietcombank (28 ngày). Nếu phải thoái bớt các khoản lãi dự thu kéo dài, nhóm này có thể ghi nhận thu nhập lãi thấp hơn, đồng thời kế hoạch chia cổ tức có thể bị xem xét kỹ hơn./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng bảo đảm an toàn phải là điều kiện tiên quyết.
OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

OCB bổ nhiệm Tổng Giám đốc, kiện toàn bộ máy điều hành

(TBTCO) - OCB vừa bổ nhiệm ông Dương Đức Hùng giữ chức Tổng Giám đốc từ ngày 26/10/2026, đồng thời giao ông Chris Shayan phụ trách chuyển đổi số và phát triển kinh doanh bán lẻ. Việc kiện toàn nhân sự cấp cao được kỳ vọng củng cố năng lực điều hành, tạo động lực tăng trưởng cho ngân hàng.
TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

TPBank nhận 50 triệu USD vốn dài hạn từ DEG: Tối ưu nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính xanh

(TBTCO) - Chiều 20/10/2026, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác tài chính trị giá 50 triệu USD với DEG – Định chế tài chính đầu tư phát triển trực thuộc Ngân hàng Tái thiết Đức (KfW). Thỏa thuận không chỉ bổ sung nguồn vốn USD trung dài hạn, đa dạng hóa cơ cấu nguồn vốn quốc tế cho TPBank, mà còn mở rộng dòng tín dụng xanh và nâng tầm hệ thống quản trị rủi ro Môi trường – Xã hội theo chuẩn mực toàn cầu.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Hà Nội - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Đà Nẵng - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Miền Tây - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Tây Nguyên - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 ▼400K 141,000 ▼400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,900 ▼30K 14,200 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,900 ▼30K 14,200 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,900 ▼30K 14,200 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,750 ▼60K 14,150 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,750 ▼60K 14,150 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,750 ▼60K 14,150 ▼60K
Trang sức 99.9 13,430 ▼60K 14,030 ▼60K
Trang sức 99.99 13,440 ▼60K 14,040 ▼60K
Vàng 99.9 12,900 ▼100K
Vàng 99.99 13,050 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 139 ▼1254K 14,202 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 139 ▼1254K 14,203 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 ▼1228K 139 ▼1264K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 ▼1228K 1,391 ▼13K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 ▼1210K 138 ▼1255K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 ▼1287K 136,634 ▼1287K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 ▼85449K 10,366 ▼94269K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 ▼884K 93,999 ▼884K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 ▼793K 84,338 ▼793K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 ▲63655K 80,612 ▲72475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 ▼542K 57,702 ▼542K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 139 ▼1254K 142 ▼1281K
Cập nhật: 23/10/2026 19:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17596 17869 18448
CAD 17917 18192 18810
CHF 30722 31098 31744
CNY 0 3831 3927
EUR 28297 28514 29597
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3163 3366
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14375 14962
SGD 19677 19958 20530
THB 681 744 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,545 25,665 25,970
USD20 25,515 25,665 25,970
USD1 25,495 25,665 25,970
AUD 17,706 17,856 19,032
EUR 28,339 28,439 30,114
CAD 18,013 18,113 19,431
SGD 19,926 20,076 20,645
JPY 161.64 163.14 168.79
GBP 33,972 34,122 35,204
XAU 13,928,000 0 14,232,000
CNY 0 3,791 0
THB 0 742 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 23/10/2026 19:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30