Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO "nhỏ giọt", tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật trên thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 19 - 23/10 ghi nhận, Ngân hàng Nhà nước chỉ bơm vốn "nhỏ giọt" trong 2 phiên, qua đó hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, đưa lượng OMO lưu hành xuống đáy hơn 1 năm. Dù vậy, lãi suất qua đêm vẫn tương đối ổn định quanh 3-4%, trong bối cảnh áp lực tỷ giá hạ nhiệt.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 12 - 16/10: Bơm ròng trở lại sau đợt hút mạnh 90.000 tỷ đồng, USD tự do rớt giá
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 10/2026 “Phất cờ lệnh” giảm lãi suất, ngân hàng dồn dập nhập cuộc

Hút ròng gần 10.000 tỷ đồng, lãi suất qua đêm ổn định

Trong tuần qua (từ ngày 19 - 23/10), Ngân hàng Nhà nước tiếp tục hút ròng thanh khoản trên thị trường mở (OMO), đảo chiều so với tuần trước đó.

Đáng chú ý, hoạt động bơm vốn mới diễn ra khá hạn chế, trong khi lượng vốn đáo hạn lớn, cho thấy Ngân hàng Nhà nước đang thu hẹp quy mô hỗ trợ thanh khoản qua kênh này.

Tính chung cả tuần, Ngân hàng Nhà nước hút ròng 9.868,06 tỷ đồng khỏi hệ thống ngân hàng qua kênh OMO, đảo chiều so với mức bơm ròng 8.188,63 tỷ đồng của tuần 12 - 16/10. Đến cuối phiên 23/10, khối lượng vốn lưu hành trên thị trường mở giảm xuống còn 95.064,92 tỷ đồng, xuống đáy hơn 1 năm.

Cụ thể, qua kênh cầm cố giấy tờ có giá, Ngân hàng Nhà nước bơm ra tổng cộng 1.652,21 tỷ đồng, với giao dịch phát sinh trong hai phiên ngày 19/10 và 23/10.

Việc hoạt động bơm vốn chỉ tập trung vào hai phiên, với quy mô tương đối nhỏ, cho thấy cơ quan điều hành không đẩy mạnh bổ sung thanh khoản như tuần trước, mà chủ yếu duy trì hỗ trợ ở mức hạn chế.

Trong khi đó, lượng vốn đáo hạn trong tuần lên tới 11.520,27 tỷ đồng, cao gấp gần 7 lần khối lượng bơm mới.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO
Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO “nhỏ giọt”, tỷ giá USD ngân hàng hạ nhiệt. Ảnh tư liệu.

Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất VND biến động tương đối ổn định trong những phiên gần đây. Chốt ngày 22/10, lãi suất kỳ hạn qua đêm ở mức 4,31%/năm, giảm 0,14 điểm phần trăm so với cuối tuần trước; kỳ hạn 1 tuần giảm 0,26 điểm phần trăm xuống 4,35%/năm.

Lãi suất kỳ hạn 1 tháng giảm 0,72 điểm phần trăm xuống 5,11%/năm và kỳ hạn 3 tháng giảm 0,37 điểm phần trăm xuống 6,93%/năm.

Riêng kỳ hạn 2 tuần, lãi suất tăng 0,18 điểm phần trăm lên 5,01%/năm.

Sự kết hợp giữa trạng thái hút ròng trên thị trường OMO và xu hướng giảm của phần lớn lãi suất liên ngân hàng cho thấy áp lực thanh khoản chưa gia tăng.

Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Công văn số 9608/NHNN-CSTT, yêu cầu các tổ chức tín dụng điều chỉnh giảm tối thiểu 0,5 điểm phần trăm/năm đối với lãi suất tiền gửi niêm yết kỳ hạn từ 6 tháng trở lên, đồng thời tập trung giảm 1,5 - 2 điểm phần trăm/năm đối với lãi suất cho vay trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên.

Tuy nhiên, theo Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam (Chứng khoán Yuanta), dư địa giảm lãi suất vẫn chịu giới hạn bởi áp lực cân đối nguồn vốn và rủi ro tỷ giá. Tăng trưởng tín dụng đạt 11,59% tính đến cuối tháng 9, trong khi nhu cầu vốn thường gia tăng vào quý IV/2026, khiến các ngân hàng tiếp tục phải duy trì nguồn huy động ổn định.

Bên cạnh đó, xu hướng thắt chặt tiền tệ tại các ngân hàng trung ương lớn có thể hạn chế khả năng nới lỏng thanh khoản của Ngân hàng Nhà nước. “Mặt bằng lãi suất toàn hệ thống khó giảm sâu, nhưng xu hướng tăng sẽ được kiềm chế và áp lực tăng lãi suất có thể sẽ quay trở lại trong đầu 2027” - Chứng khoán Yuanta nêu quan điểm.

Giữ thăng bằng lãi suất - tỷ giá trước áp lực từ Fed

Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD/VND ghi nhận xu hướng giảm tại Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng thương mại, trong khi thị trường tự do diễn biến ngược chiều.

Cụ thể, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ngày 23/10 ở mức 25.627 đồng, giảm 10 đồng so với cuối tuần trước, đảo chiều so với mức tăng 8 đồng của tuần trước đó.

Cùng xu hướng, tỷ giá USD tại Vietcombank mua vào - bán ra ở mức 25.610 - 26.020 VND/USD, cùng giảm 60 đồng ở cả hai chiều so với kỳ trước. Tại BIDV, tỷ giá USD mua vào - bán ra ở mức 25.640 - 26.020 VND/USD, cùng giảm 45 đồng.

Trong khi đó, tỷ giá USD trên thị trường tự do diễn biến trái chiều khi tăng 30 đồng so với cuối tuần trước, lên 26.000 - 26.080 VND/USD.

Thị trường tiền tệ tuần 19 - 23/10: Bơm vốn qua kênh OMO
Nguồn: Techcombank.
Một trong những yếu tố hỗ trợ tỷ giá được nhóm phân tích Techcombank chỉ rõ, đó là chênh lệch lãi suất giữa VND (ước tính dựa trên lãi suất huy động kỳ hạn 6 tháng của nhóm 8 ngân hàng) và USD được kỳ vọng tiếp tục duy trì ở mức trên 3 điểm phần trăm, ngay cả khi Fed có thể tiếp tục tăng lãi suất vào tháng 12.

Bộ phận Phân tích kinh tế và Thị trường tài chính nhóm Ngân hàng doanh nghiệp và định chế tài chính Techcombank giữ quan điểm tỷ giá USD/VND sẽ duy trì tương đối ổn định trong những tháng cuối năm và chỉ mất giá nhẹ khoảng 1% so với thời điểm cuối năm 2025.

Tỷ giá được kỳ vọng dao động quanh ngưỡng 26.000 VND/USD từ nay đến cuối năm, nhờ sự hỗ trợ của nhiều yếu tố thuận lợi.

“Mặt bằng chênh lệch lãi suất này kỳ vọng sẽ tiếp tục khuyến khích dòng vốn ngoại tệ vào Việt Nam, hỗ trợ sự ổn định của tỷ giá” - nhóm phân tích Techcombank kỳ vọng.

Ở góc nhìn khác, Chứng khoán Yuanta cho rằng, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước đồng thời đẩy mạnh định hướng giảm lãi suất huy động và cho vay, việc duy trì cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định tỷ giá sẽ trở thành yêu cầu quan trọng.

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY - thước đo sức mạnh đồng USD so với rổ 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) - kết tuần ở 101,81 điểm, gần như đi ngang so với cuối tuần trước.

Các chiến lược gia tại TD Securities (Canada) dự báo Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ giữ nguyên lãi suất điều hành ở mức 4% tại cuộc họp Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) tháng 10, bất chấp áp lực lạm phát gia tăng và thị trường lao động vẫn duy trì sự vững chắc. Tuy nhiên, việc tạm dừng tăng lãi suất lần này không đồng nghĩa với kết thúc chu kỳ thắt chặt tiền tệ, mà có thể mở đường cho Fed tiếp tục nâng lãi suất vào tháng 12/2026 và tháng 3/2027.

Theo TD Securities, trong điều kiện thị trường lao động vẫn ổn định, lạm phát cao lẽ ra đủ cơ sở để Fed tiếp tục tăng lãi suất ngay trong tháng 10, cũng là kịch bản mà tổ chức này từng dự báo. Tuy nhiên, nhóm phân tích hiện nghiêng về khả năng Fed tạm thời giữ nguyên lãi suất tại cuộc họp sắp tới, trước khi nối lại chu kỳ thắt chặt vào cuối năm.

Đáng chú ý, TD Securities cho rằng, Chủ tịch Kevin Warsh khó đưa ra định hướng rõ ràng về lộ trình chính sách tiền tệ trong thời gian tới. Dù vậy, nếu Chủ tịch Fed phát đi thông điệp cứng rắn về kiểm soát lạm phát, điều này có thể giúp củng cố niềm tin của thị trường vào quyết tâm chống lạm phát của Fed, đồng thời thúc đẩy nhà đầu tư gia tăng kỳ vọng về các đợt nâng lãi suất tiếp theo./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Giá vàng hôm nay ngày 23/10: Giá vàng thế giới giảm hơn 100 USD, trong nước vàng nhẫn biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 23/10: Giá vàng thế giới giảm hơn 100 USD, trong nước vàng nhẫn biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 100 USD, xuống 4.028 USD/ounce. Trong nước vàng miếng trong nước chủ yếu đi ngang và vàng nhẫn biến động trái chiều.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng bảo đảm an toàn phải là điều kiện tiên quyết.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
Trang sức 99.9 13,400 ▼30K 14,000 ▼30K
Trang sức 99.99 13,410 ▼30K 14,010 ▼30K
Vàng 99.9 12,850 ▼50K
Vàng 99.99 12,950 ▼100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 ▲1248K 14,172 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 ▲1248K 14,173 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Cập nhật: 24/10/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 24/10/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30