Đề nghị kéo dài thời hạn thanh toán kết dư quỹ BHYT

H.Y

H.Y

(TBTCVN) - Căn cứ tình hình thực tiễn và các lý do Chính phủ trình, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) nhất trí trình Quốc hội xem xét, quyết định việc cho phép kéo dài thời hạn thanh toán khoản kết dư quỹ khám bệnh, chữa bệnh (KCB) bảo hiểm y tế (BHYT).
aa

Từ năm 2016, số thu BHYT luôn nhỏ hơn số chi KCB BHYT.

Từ năm 2016, số thu BHYT luôn nhỏ hơn số chi KCB BHYT.

Giảm áp lực chi ngân sách

Ngày 17/7, UBTVQH đã cho ý kiến về việc sử dụng 20% kinh phí kết dư Quỹ KCB BHYT năm 2015. Theo tờ trình của Chính phủ do Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng trình bày tại phiên họp, năm 2015 có 38 tỉnh, thành phố và Bộ Quốc phòng có kết dư quỹ KCB BHYT, tổng số tiền là 5.838 tỷ đồng. Theo quy định tại Luật BHYT và Nghị định số 105/2014/NĐ-CP, phần 20% được để lại cho địa phương sử dụng là 1.167 tỷ đồng.

Khoản kinh phí này đã được các địa phương phân bổ và sử dụng theo đúng thứ tự ưu tiên. Cụ thể, hỗ trợ quỹ KCB cho người nghèo 109.043 triệu đồng; hỗ trợ mức đóng BHYT cho một số nhóm đối tượng 294.555 triệu đồng; mua trang thiết bị y tế, mua phương tiện vận chuyển người bệnh ở tuyến huyện 763.497 triệu đồng.

Trong số 763.497 triệu đồng mua trang thiết bị y tế, phương tiện vận chuyển người bệnh, đã hoàn thành việc thanh toán 230.077 triệu đồng, còn lại 518.389 triệu đồng tạm thời chưa thanh toán. Để sử dụng có hiệu quả kinh phí kết dư này, Chính phủ đề nghị cho phép các địa phương được kéo dài thời gian thanh toán vì nhiều lý do.

Thứ nhất, do năm 2017 là năm đầu một số tỉnh, thành phố được sử dụng 20% kinh phí kết dư quỹ KCB năm 2015 theo quy định của Luật BHYT nên việc tổ chức thực hiện có nhiều lúng túng, vướng mắc. Lý do thứ hai, việc mua trang thiết bị y tế, phương tiện vận chuyển người bệnh từ nguồn 20% kinh phí kết dư quỹ KCB BHYT chỉ thực hiện trong một giai đoạn nhất định, đến hết năm 2020. Thực tế từ năm 2016, số thu BHYT luôn nhỏ hơn số chi KCB BHYT. Số bội chi quỹ BHYT đang gia tăng chủ yếu do thực hiện lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ KCB. Đồng thời, mức đóng BHYT theo quy định của Luật BHYT tối đa bằng 6% mức tiền lương làm căn cứ đóng BHYT, nhưng mức đóng BHYT thực tế từ năm 2008 đến nay vẫn giữ nguyên là 4,5%, chưa điều chỉnh. Theo báo cáo quyết toán thu, chi quỹ BHYT của Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam, năm 2015 có 38 địa phương có kết dư quỹ KCB, nhưng năm 2016 chỉ có 12 địa phương, năm 2017 có 4 địa phương và từ năm 2018 dự kiến không có tỉnh, thành phố kết dư quỹ.

Theo Chính phủ, trong điều kiện nguồn ngân sách đầu tư cho y tế giai đoạn 2016 - 2020 còn hạn chế thì nguồn 20% kết dư quỹ KCB BHYT năm 2015 là một trong những giải pháp quan trọng để cơ sở KCB có trang thiết bị thực hiện dịch vụ và người dân được thụ hưởng dịch vụ có chất lượng. Việc cho phép kéo dài thời gian thanh toán số kinh phí này cũng là một giải pháp quan trọng góp phần giảm áp lực chi ngân sách nhà nước (NSNN) (nếu không, NSNN hoặc cơ sở KCB sẽ phải đầu tư); đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2020 giảm ít nhất 50% tình trạng quá tải ở bệnh viện tuyến tỉnh, trung ương theo Nghị quyết số 68/2013/QH13 của Quốc hội.

Trong trường hợp không cho phép các địa phương kéo dài thời gian thanh toán, thực hiện thu hồi số kinh phí này về quỹ dự phòng chung theo quy định của Luật BHYT, thì các địa phương sẽ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại cho đơn vị cung cấp tài sản mà theo quy định của Luật NSNN và Luật BHYT, nội dung chi từ nguồn ngân sách địa phương và quỹ BHYT không có nội dung chi bồi thường thiệt hại nêu trên.

Phê bình các địa phương chưa thực hiện đúng Luật BHYT

Thẩm tra nội dung này, căn cứ vào tình hình thực tiễn và các lý do nêu trên, đa số ý kiến trong Ủy ban Tài chính ngân sách (UBTCNS) Quốc hội cho rằng, phần lớn các địa phương trên là các tỉnh khó khăn, vì vậy, đồng ý với đề nghị của Chính phủ cho phép kéo dài thời hạn thanh toán đối với số tiền 518.389 triệu đồng đến hết 30/6/2020 và đề nghị UBTVQH yêu cầu Chính phủ báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định vấn đề này tại Kỳ họp thứ 8. Bên cạnh đó, UBTCNS cũng đề nghị Chính phủ chỉ đạo các cơ quan, địa phương có liên quan nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc sử dụng Quỹ BHYT, bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả. Trong quá trình quản lý, nếu tiếp tục phát sinh khoản kinh phí còn dư không sử dụng, đề nghị thực hiện theo đúng quy định là thu về quỹ dự phòng của BHXH để điều tiết chung.

Qua thảo luận tại phiên họp, UBTVQH nhất trí việc tìm cách tháo gỡ khó khăn này, xét trong điều kiện hoàn cảnh năm 2015 là năm đầu tiên thực hiện Luật BHYT sửa đổi, nên không tránh khỏi lúng túng, vướng mắc. Đồng thời, do kinh phí này liên quan đến yếu tố sức khỏe con người nên UBTVQH thống nhất trình để Quốc hội xem xét, quyết định.

Bên cạnh đó, UBTVQH cũng đề nghị Chính phủ làm rõ nguyên nhân, trách nhiệm việc vì sao có nhiều tỉnh thực hiện rất tốt, trong đó có nhiều tỉnh khó khăn, trong khi 11 địa phương như Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai…, là những nơi kết dư ngân sách lớn lại chưa làm tốt.

Báo cáo thêm về số tiền mua trang thiết bị y tế chưa thanh toán, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, việc chậm trễ do cả khâu thủ tục ở trung ương và quá trình triển khai ở địa phương mất nhiều thời gian. Nhiều địa phương đã hoàn thành tốt song còn 11 địa phương, trong đó có Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh… lại chưa hoàn thành. Đây là vấn đề cần rút kinh nghiệm trong quá trình điều hành, cả ở trung ương và địa phương, ở các bộ, ngành… Cùng một nội dung, cùng một khoản tiền nhưng phải đảm bảo công bằng trong chi tiêu. Địa phương nào triển khai chậm thì phải chịu trách nhiệm.

H.Y

H.Y

Đọc thêm

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

MB đạt Top 1 thương hiệu Ngân hàng & sản phẩm vay cấp vốn dành cho khách hàng ưu tiên

(TBTCO) - Theo báo cáo khảo sát mức độ nhận diện thương hiệu/sản phẩm ngân hàng dành cho khách hàng ưu tiên do Mibrand công bố tháng 6/2026, MB được ghi nhận Top 1 về Top-of-mind (mức độ được nhắc nhớ đầu tiên) đối với thương hiệu Ngân hàng ưu tiên, đồng thời dẫn đầu Top-of-mind ở nhóm sản phẩm vay vốn được Khách hàng ưu tiên lựa chọn.
Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

Lượng hóa rủi ro an ninh mạng, nâng cao vai trò của bảo hiểm trong quản trị và bồi thường

(TBTCO) - Trong hai ngày 16/6 tại TP. Hồ Chí Minh và 18/6 tại Hà Nội, Công ty TNHH Môi giới bảo hiểm Willis Towers Watson Việt Nam (WTW) đã phối hợp cùng Tập đoàn Bảo hiểm DBV, Tập đoàn Bảo hiểm QBE, Tập đoàn Beazley, Công ty luật Tilleke & Gibbins tổ chức Hội thảo chuyên đề: “Đồng thuận kiểm soát và bồi thường trong quản trị rủi ro an ninh mạng”. Hội thảo thu hút gần 300 doanh nghiệp, tổ chức tham dự.
Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

Chính sách mở đường, quỹ bảo hiểm hưu trí quy mô 100 triệu USD trước yêu cầu tăng tốc

(TBTCO) - Tổng tài sản do các công ty quản lý quỹ nắm giữ đã đạt khoảng 25 tỷ USD, song quy mô các quỹ bảo hiểm hưu trí mới dưới 100 triệu USD. Hoàn thiện thể chế và khung khổ pháp lý là bước đi đầu tiên để thúc đẩy thị trường, song cần thêm sự đồng hành của người lao động và doanh nghiệp.
Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

Đề xuất nâng trần vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn lên 40%, linh hoạt tỷ lệ loại trừ tiền gửi Kho bạc khi tính LDR

(TBTCO) - Sau gần ba năm áp dụng mức trần 30%, Ngân hàng Nhà nước đề xuất đưa tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn trở lại 40%. Đồng thời, điều chỉnh cách tính tỷ lệ LDR, trong đó, cho phép áp dụng một tỷ lệ khác đối với tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước theo quyết định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước từng thời kỳ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

Tỷ giá USD hôm nay (18/6): Tỷ giá trung tâm giảm nhẹ, DXY vượt 100 điểm sau cuộc họp đầu tiên của Chủ tịch Fed Kevin Warsh

(TBTCO) - Sáng 18/6, tỷ giá trung tâm được công bố ở mức 25.173 đồng, giảm 2 đồng. Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY tăng lên 100,4 điểm sau khi Fed giữ nguyên lãi suất ở mức 3,5% - 3,75% và tái khẳng định mục tiêu ổn định giá cả là ưu tiên xuyên suốt trong điều hành chính sách tiền tệ.
OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB chốt quyền nhận cổ phiếu 15% ngày 1/7, đưa vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

(TBTCO) - OCB vừa chốt ngày 1/7 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông thực hiện quyền nhận cổ phiếu phát hành từ nguồn vốn chủ sở hữu, với tỷ lệ 15%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành gần 399,46 triệu cổ phiếu cho cổ đông hiện hữu, qua đó, tăng vốn điều lệ thêm gần 4.000 tỷ đồng lên 30.625 tỷ đồng, củng cố năng lực tài chính và nguồn lực cho các mục tiêu tăng trưởng.
SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

SeABank hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) chính thức hoàn tất tăng vốn điều lệ lên 34.288 tỷ đồng. Nguồn vốn bổ sung sẽ giúp Ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh, cải thiện các chỉ số an toàn hoạt động và mở rộng dư địa tăng trưởng trong thời gian tới.
Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

Đề án mới cơ cấu lại quỹ tín dụng nhân dân, thí điểm phá sản quỹ yếu kém, phát triển Co-opBank

(TBTCO) - Đề án cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đặt ra nhiều mục tiêu. Nổi bật là, sắp xếp lại để chỉ có tối đa một quỹ tín dụng nhân dân hoạt động mỗi xã; xử lý dứt điểm quỹ tín dụng nhân dân yếu kém đang tồn đọng; hoàn thành thí điểm phá sản quỹ tín dụng nhân dân trước năm 2030...
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,730 15,030
Kim TT/AVPL 14,730 15,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,730 15,030
Nguyên Liệu 99.99 13,850 14,050
Nguyên Liệu 99.9 13,800 14,000
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 14,550 14,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,500 14,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,430 14,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 148,300 151,300
Hà Nội - PNJ 148,300 151,300
Đà Nẵng - PNJ 148,300 151,300
Miền Tây - PNJ 148,300 151,300
Tây Nguyên - PNJ 148,300 151,300
Đông Nam Bộ - PNJ 148,300 151,300
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,880 15,130
Miếng SJC Nghệ An 14,880 15,130
Miếng SJC Thái Bình 14,880 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,830 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,830 15,130
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,830 15,130
NL 99.90 13,750
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,800
Trang sức 99.9 14,320 15,020
Trang sức 99.99 14,330 15,030
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,488 15,132
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,488 15,133
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,487 1,512
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,487 1,513
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,467 1,497
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 141,218 148,218
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 102,936 112,436
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 92,456 101,956
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 81,976 91,476
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 77,934 87,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 53,081 62,581
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,488 1,513
Cập nhật: 19/06/2026 03:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17905 18179 18758
CAD 18105 18380 18999
CHF 32096 32478 33127
CNY 0 3847 3940
EUR 29536 29757 30838
GBP 34007 34397 35346
HKD 0 3228 3430
JPY 156 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14847 15434
SGD 19847 20129 20710
THB 718 781 834
USD (1,2) 26056 0 0
USD (5,10,20) 26097 0 0
USD (50,100) 26126 26140 26431
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,431
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,845 29,869 31,222
JPY 159.52 159.81 169.05
GBP 34,469 34,562 35,672
AUD 18,199 18,265 18,908
CAD 18,330 18,389 19,021
CHF 32,583 32,684 33,560
SGD 20,041 20,103 20,844
CNY - 3,821 3,958
HKD 3,294 3,304 3,434
KRW 15.9 16.58 18
THB 769.42 778.92 831.73
NZD 14,933 15,072 15,478
SEK - 2,731 2,821
DKK - 3,993 4,124
NOK - 2,696 2,785
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,011.37 - 6,771.77
TWD 753.5 - 910.67
SAR - 6,900.43 7,250.85
KWD - 83,423 88,551
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,431
EUR 29,736 29,855 31,040
GBP 34,390 34,528 35,542
HKD 3,288 3,301 3,417
CHF 32,377 32,507 33,416
JPY 159.56 160.20 167.98
AUD 18,137 18,210 18,801
SGD 20,076 20,157 20,739
THB 785 788 823
CAD 18,322 18,396 18,954
NZD 14,962 15,496
KRW 16.55 18.15
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26149 26149 26431
AUD 18119 18219 19142
CAD 18284 18384 19398
CHF 32386 32416 34006
CNY 3828.3 3853.3 3988.4
CZK 0 1210 0
DKK 0 4060 0
EUR 29767 29797 31520
GBP 34362 34412 36165
HKD 0 3355 0
JPY 160.19 160.69 171.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6720 0
NOK 0 2770 0
NZD 0 14980 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2776 0
SGD 20022 20152 20880
THB 0 748.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14850000 14850000 15150000
SBJ 13500000 13500000 15150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,144 26,194 26,431
USD20 26,144 26,194 26,431
USD1 26,144 26,194 26,431
AUD 18,201 18,301 19,409
EUR 29,987 29,987 31,394
CAD 18,252 18,352 19,658
SGD 20,127 20,277 20,840
JPY 160.82 162.32 166.88
GBP 34,371 34,721 35,600
XAU 14,878,000 0 15,132,000
CNY 0 3,741 0
THB 0 786 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 19/06/2026 03:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80