Doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết giữ nhịp tăng trưởng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Lợi nhuận quý IV/2025 của nhiều doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết sụt giảm mạnh, thậm chí chuyển từ lãi sang lỗ do áp lực bồi thường và chi phí gia tăng vào cuối năm. Dù vậy, tính chung cả năm 2025, các doanh nghiệp vẫn vượt qua “vùng trũng” quý IV, duy trì tăng trưởng phí bảo hiểm gốc và giữ nhịp lợi nhuận ổn định.
aa

“Vùng trũng” lợi nhuận quý IV/2025

Kết quả kinh doanh quý IV/2025 của 13 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết (gồm 10 công ty bảo hiểm phi nhân thọ, Tập đoàn Bảo Việt hoạt động ở cả mảng nhân thọ và phi nhân thọ, cùng 2 doanh nghiệp tái bảo hiểm) phản ánh bức tranh lợi nhuận phân hóa mạnh và chịu nhiều sức ép so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, lợi nhuận của nhiều doanh nghiệp giảm 30 - 90%, thậm chí chuyển từ lãi sang lỗ.

Trong nhóm 10 doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ, chỉ một vài doanh nghiệp ghi nhận mức tăng trưởng dương so với cùng kỳ năm 2024. Theo đó, Bảo hiểm BSH đạt lợi nhuận trước thuế 37 tỷ đồng, tăng 17,9%; PJICO đạt 60,9 tỷ đồng, tăng 25,3%.

Doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết giữ nhịp tăng trưởng
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo tài chính của các doanh nghiệp. Đồ họa: Ánh Tuyết

Ngược lại, nhiều doanh nghiệp sụt giảm lợi nhuận sâu trong quý IV/2025, như Bảo Minh chỉ còn 3,6 tỷ đồng, lao dốc 93,4%. Đáng chú ý, Bảo Long báo lỗ 25,4 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 23,2 tỷ đồng); PVI lỗ 31,3 tỷ đồng (cùng kỳ lãi 154,2 tỷ đồng). Đây là quý hiếm hoi PVI rơi vào tình trạng thua lỗ theo quý trong lịch sử hoạt động, thậm chí tiêu cực hơn cả giai đoạn chịu tác động của bão Yagi năm 2024.

Các doanh nghiệp bảo hiểm khác giảm dưới 50% lợi nhuận có thể kể đến như: BIC đạt 135,1 tỷ đồng, giảm 37%; DBV đạt 23 tỷ đồng, giảm 36,3%; Bảo hiểm Agribank (ABIC) đạt 68,3 tỷ đồng, giảm 26,9%; PTI đạt 82,7 tỷ đồng, giảm nhẹ 4,5%.

Ở chiều tích cực, Tập đoàn Bảo Việt ghi nhận lợi nhuận trước thuế 1.061,8 tỷ đồng trong quý IV/2025, tăng 52% và bỏ xa các doanh nghiệp còn lại. Tuy nhiên, kết quả này chưa tách bạch phần đóng góp lợi nhuận giữa mảng bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ.

Trong nhóm tái bảo hiểm, Tổng Công ty cổ phần Tái Bảo hiểm Quốc gia (Vinare) đạt 146,8 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, giảm 19,4% so với quý IV/2024; Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re, công ty con của PVI Holdings) ghi nhận lãi 55,1 tỷ đồng, giảm 39%. Đà suy giảm cho thấy, hoạt động tái bảo hiểm cũng chịu tác động từ biến động bồi thường.

Nếu loại trừ phần lợi nhuận của Tập đoàn Bảo Việt, các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết còn lại chỉ ghi nhận khoảng 580 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong quý IV/2025, giảm mạnh 48% so với cùng kỳ.

Kế hoạch kinh doanh thận trọng trong năm 2026

Theo đánh giá của TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp, việc lợi nhuận kế toán trước thuế của nhóm doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ và tái bảo hiểm giảm rất sâu trong quý IV/2025 cho thấy mức độ tác động của rủi ro thiên tai là tương đối lớn, đồng thời phản ánh những giới hạn của việc phụ thuộc vào thu nhập tài chính như một nguồn bù đắp lợi nhuận.

Giải trình về kết quả kinh doanh quý cuối năm vừa qua, lãnh đạo PVI cho biết, lợi nhuận sau thuế trên báo cáo tài chính hợp nhất của PVI quý IV/2025 lỗ chủ yếu do dự phòng rủi ro bảo hiểm tăng cao liên quan đến thiên tai xảy ra cuối năm 2025, chi phí hoạt động cũng tăng mạnh trong quý này.

Thiên tai là phép thử đối với doanh nghiệp bảo hiểm

"Xu hướng phân hóa lợi nhuận trong năm 2025 không chỉ là diễn biến ngắn hạn do yếu tố thiên tai, mà còn là tín hiệu cho thấy ngành bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam đang bước sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, trong đó hiệu quả quản trị và chất lượng tăng trưởng sẽ trở thành yếu tố quyết định vị thế của từng doanh nghiệp trên thị trường".

TS. Lê Bá Chí Nhân - chuyên gia kinh tế cao cấp

Thông tin từ Hội nghị Nhà đầu tư của PVI cho thấy, năm 2026, doanh nghiệp này sẽ theo đuổi định hướng thận trọng, không đặt mục tiêu tăng trưởng quá cao. PVI dự kiến đạt 28.820 tỷ đồng doanh thu và 1.244 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế. So với kết quả năm 2025, kế hoạch năm nay đặt mục tiêu doanh thu tăng nhẹ, còn lợi nhuận được xây dựng trên cơ sở thận trọng hơn trước các yếu tố rủi ro.

Đại diện PVI dự báo, chi phí quản lý rủi ro và chi phí tái bảo hiểm sẽ gia tăng, trong khi thị trường vẫn cạnh tranh chủ yếu bằng giá. Bên cạnh đó, khả năng xuất hiện các sự kiện bảo hiểm lớn cao hơn và tỷ lệ bồi thường năm 2026 có thể tăng, tạo thêm áp lực lên biên lợi nhuận.

Trao đổi với phóng viên, đại diện PVI chia sẻ, doanh nghiệp lựa chọn cách tiếp cận thận trọng vì cho rằng, năm 2025 nhìn chung là một năm thuận lợi nếu tính bình quân, dù những tháng cuối năm kém tích cực hơn. Năm 2026, ban lãnh đạo xác định điều hành theo hướng linh hoạt, tức là thường xuyên cập nhật dự báo theo quý để thích ứng với biến động thị trường, thay vì bám cứng vào một kịch bản cố định.

Mặt khác, theo đại diện PVI, nếu như năm 2024 hứng chịu nhiều thiệt hại do bão Yagi, rủi ro dồn vào một cơn bão lớn mang tính lịch sử nên gây chú ý xã hội, thì năm 2025 lại xuất hiện nhiều đợt bão lũ liên tiếp. Mỗi đợt không gây tổn thất cực lớn riêng lẻ, nhưng cộng dồn lại vẫn tạo áp lực đáng kể.

Còn với Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Bảo Long, tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2025 là 332 tỷ đồng, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2024. Ông Phan Quốc Dũng - Tổng Giám đốc Bảo hiểm Bảo Long lý giải, do ảnh hưởng của thiên tai, bão lũ, nên tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm quý IV/2025 tăng nhiều hơn so với cùng kỳ năm 2024, khiến Bảo Long lỗ 25,415 tỷ đồng trong quý này.

Doanh nghiệp bảo hiểm duy trì đà tăng lợi nhuận cả năm 2025

Dù quý IV/2025 là vùng trũng lợi nhuận, song cả năm 2025 vẫn ghi nhận bước chuyển mình tích cực của ngành bảo hiểm niêm yết, với tổng lợi nhuận kế toán trước thuế toàn nhóm khảo sát đạt 8.500 tỷ đồng, tăng mạnh 24,8% so với năm 2024.

Sự bứt phá này chủ yếu được dẫn dắt bởi "ông lớn" Bảo Việt khi ghi nhận mức lợi nhuận kỷ lục trong lịch sử hoạt động, lên tới 3.715 tỷ đồng, tăng gần 40%. PVI tiếp tục khẳng định vị thế và hiệu quả hoạt động khi ghi nhận lợi nhuận đạt 1.455,5 tỷ đồng, tăng 28,5%.

Các doanh nghiệp khác trong nhóm cũng ghi nhận sự tăng trưởng ổn định, nhưng có sự phân hóa rõ rệt về tốc độ. Theo đó, Bảo hiểm DBV và BSH có mức tăng trưởng đột biến, lần lượt là 150,4% (đạt 38,9 tỷ đồng) và 89,1% (đạt 23,6 tỷ đồng).

Các doanh nghiệp khác cũng duy trì tốc độ tăng lợi nhuận ấn tượng như: MIC (408,8 tỷ đồng, tăng 32,7%), ABIC (318,8 tỷ đồng, tăng 24,5%) và BIC (678,2 tỷ đồng, tăng 4%). Ngược lại, bức tranh lợi nhuận vẫn còn gam màu "xám" khi PTI giảm 7,9% còn 370,7 tỷ đồng và Bảo Long dốc mạnh nhất ngành với mức giảm 49%, chỉ đạt 41,9 tỷ đồng.

Ở mảng tái bảo hiểm, hai doanh nghiệp niêm yết tiếp tục duy trì tăng trưởng ổn định, khi Hanoi Re lãi trước thuế 301,4 tỷ đồng, tăng 24,6%; Vinare đạt 527,9 tỷ đồng, tăng 9,8%.

Cũng trong năm qua, các doanh nghiệp duy trì đà tăng trưởng tích cực về phí bảo hiểm gốc. Tổng 11 doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết ghi nhận doanh thu đạt 62.278,5 tỷ đồng, tăng 6,7% so với cùng kỳ. Đáng chú ý, dù có 2 doanh nghiệp trong quá trình tái cơ cấu ghi nhận sụt giảm phí bảo hiểm gốc, song lợi nhuận vẫn ổn định, cho thấy hiệu quả trong chiến lược tối ưu chi phí và chủ động chuyển dịch sang các mảng kinh doanh có biên lợi nhuận cao hơn, tiêu biểu như BSH và PTI.

Bên cạnh đó, năng lực bồi thường kịp thời và đầy đủ sau các đợt thiên tai tiếp tục củng cố uy tín và niềm tin thị trường, tạo nền tảng để các doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh và sẵn sàng bứt tốc trong mùa kinh doanh 2026.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (4/4): Tỷ giá trung tâm nhích nhẹ kéo dài mạch tăng 5 tuần, DXY giữ trên 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 4/4, tỷ giá trung tâm kết tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; lũy kế tăng 7 đồng tuần qua; trong khi tỷ giá bán ra tại các ngân hàng thương mại ổn định quanh ngưỡng trần 26.362 đồng. Trên thị trường quốc tế, DXY duy trì trên 100 điểm, phản ánh sức mạnh USD nhưng đà tăng chậm lại trong bối cảnh thị trường thận trọng trước dữ liệu lạm phát Mỹ và rủi ro địa chính trị.
TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

TPBank đặt mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng, tăng 12%, muốn lập ngân hàng thành viên tại VIFC

(TBTCO) - Mục tiêu lợi nhuận 10.300 tỷ đồng năm 2026, tăng 12% của TPBank không chỉ là bài toán tăng trưởng. Điều đáng chú ý nằm ở cách ngân hàng đang xây dựng động lực phía sau con số đó.
Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

Sacombank "siết nợ" Bamboo Airways, thu giữ 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở của FLC

(TBTCO) - Phòng xử lý nợ - Khối Quản trị rủi ro thuộc ngân hàng Sacombank vừa thông báo thu giữ tài sản bảo đảm khoản nợ xấu của Bamboo Airways. Tài sản bảo đảm là 355 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tại dự án ở Gia Lai, thuộc sở hữu Tập đoàn FLC. Ngân hàng sẽ tiến hành thu giữ từ 22/4 đến 22/6/2026.
Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

Bộ Tài chính đề xuất sửa đổi, bổ sung nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng

(TBTCO) - Bộ Tài chính đang xây dựng dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động xây dựng, nhằm đồng bộ với Luật Kinh doanh bảo hiểm và Luật Xây dựng có hiệu lực; đồng thời, giải quyết các khó khăn, vướng mắc cấp thiết nhằm tạo điều kiện thuận lợi và đáp ứng nhu cầu thực tiễn của thị trường.
NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

NAPAS mở rộng dịch vụ thanh toán qua mã QR giữa Việt Nam - Trung Quốc

(TBTCO) - Ngày 3/4, Công ty cổ phần Thanh toán Quốc gia Việt Nam (NAPAS), Ant International, và Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phối hợp tổ chức Lễ công bố mở rộng triển khai dịch vụ thanh toán QR giữa Việt Nam - Trung Quốc.
Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

Chuyển tiền du học – Không lo tỷ giá giải pháp tối ưu chi phí cho phụ huynh và du học sinh từ BAC A BANK

(TBTCO) - Nhằm hỗ trợ khách hàng có nhu cầu chuyển đổi ngoại tệ đáp ứng nhu cầu học tập ở nước ngoài với tỷ giá ưu đãi, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức triển khai chương trình "Chuyển tiền du học - Không lo tỷ giá" từ tháng 4/2026
Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

Sự dịch chuyển cơ cấu bảo hiểm phi nhân thọ và "cuộc chơi" chiến lược

(TBTCO) - Đằng sau mức tăng trưởng 2 con số của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ là sự dẫn dắt của các nghiệp vụ chủ lực như bảo hiểm sức khỏe và xe cơ giới, song cơ cấu doanh thu có sự dịch chuyển đáng kể. Không ít doanh nghiệp chấp nhận duy trì sản phẩm lỗ như “đòn bẩy” để khai thác các mảng có biên lợi nhuận cao hơn.
Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (3/4): Tỷ giá trung tâm đi ngang, DXY giằng co quanh mốc 100 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 3/4, tỷ giá trung tâm phiên cuối tuần giữ nguyên ở mức 25.107 VND/USD; trong khi chiều bán tỷ giá USD tại nhiều ngân hàng chạm trần. Trên thị trường quốc tế, DXY phục hồi lên 99,98 điểm, tiếp tục giằng co quanh mốc 100 điểm khi Tổng thống Trump phát tín hiệu cứng rắn về nguy cơ leo thang xung đột Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 ▲1544K 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 ▲1544K 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 ▲5K 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 ▲5K 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 ▲5K 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 ▲1544K 1,745
Cập nhật: 04/04/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 04/04/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80