Độc quyền sản xuất, nhập khẩu vàng: Lợi bất cập hại

Thanh Mai
Những kinh nghiệm từ việc quản lý thị trường vàng ở hai quốc gia tiêu thụ vàng lớn nhất thế giới và có nhiều điểm tương đồng với Việt Nam cho thấy, sự cần thiết phải xóa bỏ dần cơ chế độc quyền trong hoạt động sản xuất, nhập khẩu vàng.
aa

Cảnh người dân mua vàng tại một cửa hàng ở Trung Quốc.

Trung Quốc: Tự do hóa thị trường vàng

Tại Trung Quốc, hoạt động kinh doanh vàng được quản lý bởi đầu mối duy nhất là Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa (PBOC). Trước năm 2001, Trung Quốc kiểm soát chặt chẽ hoạt động kinh doanh vàng, PBOC độc quyền thị trường vàng trong nước.

Tuy nhiên, việc PBOC độc quyền phân phối và kiểm soát giá khiến giao dịch trên thị trường bị méo mó, giá cả không tuân theo quy luật cung cầu, vàng nhập lậu tăng mạnh. Chính vì vậy, những năm gần đây, Trung Quốc đã từng bước tự do hoá thị trường vàng.

Về cơ bản, quá trình tự do hoá thị trường vàng của Trung Quốc gồm 3 giai đoạn: Xoá bỏ độc quyền kinh doanh vàng và kiểm soát giá, thành lập Sở giao dịch vàng Thượng Hải (SGE); Xoá bỏ dần cơ chế cấp phép sản xuất, bán buôn và bán lẻ vàng, cho phép cá nhân tham gia giao dịch vàng miếng; Xoá bỏ từng bước chế độ quản lý xuất nhập khẩu vàng.

Việc thành lập SGE năm 2002 đánh dấu sự chấm dứt cơ chế độc quyền đối với thị trường vàng của Trung Quốc. Năm 2006, PBOC cho phép nhà đầu tư cá nhân được phép giao dịch vàng miếng trên SGE. Nhờ đó, vàng trở thành kênh đầu tư tài chính hấp dẫn cho các nhà đầu tư cá nhân. Đồng thời, PBOC cũng cho phép các ngân hàng thương mại được cung cấp dịch vụ kinh doanh vàng tài khoản cho khách hàng cá nhân.

Mặc dù hiện nay hoạt động xuất nhập khẩu vàng đang bị quản lý dưới dạng cấp phép, sự liên thông giữa giá vàng trong nước và thế giới cho thấy PBOC có cơ chế quản lý linh hoạt trong việc cho phép các đơn vị xuất hoặc nhập khẩu vàng khi có chênh lệch giá. Ngoài ra, PBOC cũng có thể trực tiếp mua bán can thiệp thị trường nhằm bình ổn giá, hạn chế tình trạng buôn lậu vàng. Hiện nay mức chênh lệch giữa giá vàng giao ngay tại SGE và tại Anh là khoảng 7 USD/ounce.

Mới đây nhất, ngày 30/9/2013, PBOC đã đưa ra dự thảo quy định cho phép tất cả ngân hàng, công ty thành viên SGE được phép xuất nhập khẩu vàng.

Ấn Độ: Quản chặt, vàng nhập lậu càng tăng

Ấn Độ thành lập thị trường giao dịch vàng qua Sở Giao dịch hàng hóa Ấn Độ (MCX) từ năm 2003. Từ tháng 3/2012 trở lại đây, chính phủ và Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI) dồn dập đưa ra các quy định mới để tăng cường quản lý thị trường vàng, thậm chí kêu gọi người dân bớt “yêu” vàng, không mua vàng.

Chính sách tăng cường quản lý thị trường vàng của Ấn Độ có nhiều điểm giống với Việt Nam, đó là cùng theo hướng siết chặt, cắt bỏ dần hoạt động cho vay bằng vàng, cho vay thế chấp bằng vàng, cũng như hạn chế việc nhập khẩu vàng. Chính phủ Ấn Độ gần đây tuyên bố có thể sẽ áp dụng thêm các biện pháp hạn chế nhập khẩu vàng hơn nữa để giảm lượng vàng vật chất nhập khẩu.

Tuy nhiên, tại Ấn Độ, sự say mê giao dịch vàng vẫn được duy trì bất chấp các biện pháp tăng thuế nhập khẩu của chính phủ với mục tiêu cắt giảm thâm hụt cán cân vãng lai.

Độc quyền sản xuất, nhập khẩu vàng: Lợi bất cập hại
Vàng đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người dân Ấn Độ

Lực mua vàng kỷ lục này không xuất phát từ “tình yêu” vàng mà là do tâm lý lo ngại mất giá tài sản cũng như sự bất ổn trong chính sách. Một chính sách tốt có thể kích thích kinh tế tăng trưởng và khiến thị trường phản ứng tốt. Một chính sách tồi lại đem đến những hậu quả trái ngược.

Có thể nói, các biện pháp quản lý thị trường vàng của chính phủ Ấn Độ chỉ mang tính ngắn hạn, làm tổn hại đến một trong những ngành công nghiệp chính của Ấn Độ là kinh doanh đồ kim hoàn; luồng vốn nước ngoài tiếp tục chảy ra do quan ngại các chính sách bất ổn, GDP và lòng tin suy giảm; chênh lệch giá vàng trong nước và quốc tế tăng cao, mà phía sau đó là quan ngại về tình trạng nhập lậu vàng gia tăng.

Tổng hợp số liệu của Hội đồng vàng Thế giới, năm 2012 có 102 tấn vàng nhập lậu vào Ấn Độ. Năm 2013, các nhà bán lẻ và các trung tâm bán vàng miếng dự đoán vàng nhập lậu vào Ấn Độ có thể lên tới 140 tấn, tăng 40% so với năm ngoái.

Bài học nào cho Việt Nam ?

Như vậy có thể thấy, các cơ quan nhà nước của cả Ấn Độ và Trung Quốc vẫn quản lý sản xuất, bán buôn, bán lẻ vàng, nhưng đều được thực hiện theo cơ chế minh bạch và hoàn toàn không có sự độc quyền. Ngân hàng trung ương không tham gia trực tiếp vào hoạt động nhập khẩu, sản xuất vàng. Hiện nay, hiếm có nước nào trên thế giới duy trì chính sách chỉ độc quyền một thương hiệu vàng và độc quyền sản xuất vàng miếng.

Thị trường vàng Việt Nam hiện nay có quy mô khoảng 40 tỷ USD, đứng ở vị trí thứ 8 trên thế giới về nhu cầu vàng. Theo đánh giá của Hội đồng Vàng Thế giới, thị trường vàng Việt Nam có nhiều tiềm năng, tuy nhiên vẫn còn kém phát triển, mang nặng tính thủ công, chưa áp dụng công nghệ sản xuất và nghiệp vụ kinh doanh hiện đại trên thị trường quốc tế.

Trong khi thị trường vàng thế giới đang phát triển nhanh chóng với các hình thức đầu tư hiện đại, cho phép nhà đầu tư tiếp cận dễ dàng, nhanh chóng, với chi phí thấp hơn nhiều so với đầu tư vàng vật chất, thì thị trường vàng Việt Nam lại chỉ giới hạn ở các giao dịch vàng vật chất.

Những khác biệt này, ở các góc độ nhất định, đã có tác động không nhỏ tới vấn đề quản lý tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô và huy động nội lực phát triển kinh tế xã hội. Trong bối cảnh giá vàng thế giới vẫn biến động khó lường, yêu cầu cấp thiết hiện nay là phải đổi mới việc quản lý vàng và phát triển thị trường vàng Việt Nam theo thông lệ quốc tế./.

(Bài viết sử dụng tư liệu từ tham luận của TS Tô Ánh Dương, TS Nguyễn Minh Phong, PGS.TS Ngô Trí Long tại Diễn đàn Kinh tế mùa thu).

Thanh Mai

Thanh Mai

Đọc thêm

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

Ngân hàng Việt đầu tiên vượt mốc vốn điều lệ 100.000 tỷ đồng, MB chuyển hóa nguồn lực thành sức bật mới

(TBTCO) - Sau hành trình tích lũy bền bỉ và cú bứt tốc những năm gần đây, MB đã vượt 100.000 tỷ đồng vốn điều lệ, xác lập dấu mốc mới của ngành ngân hàng. Phía sau cột mốc này là không gian tăng trưởng rộng hơn, khi nguồn lực mới được chuyển hóa trên nền tảng vững chắc, MB sẽ nhảy vọt về vị thế trong giai đoạn phát triển mới.
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95%

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước vừa ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN, bổ sung các giới hạn, tỷ lệ an toàn theo chuẩn Basel III. Nổi bật là thay đổi cách tính tỷ lệ LDR, nâng trần từ 85% lên 95%; bổ sung các tỷ lệ LCR, NSFR, LEV, cùng lộ trình áp dụng, hướng tới hoàn thiện khuôn khổ quản trị rủi ro ngân hàng.
LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

LCR và NSFR: Bước chuyển mới trong quản trị thanh khoản ngân hàng

(TBTCO) - Ngày 30/09/2026, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư số 50/2026/TT-NHNN (Thông tư 50) quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Một trong những nội dung đáng chú ý là việc đưa tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) vào khung quản lý thanh khoản, với lộ trình áp dụng bắt buộc từ ngày 1/10/2028.
Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

Đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 844/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 52-CT/TW của Ban Bí thư về bảo hiểm y tế toàn dân trong giai đoạn mới, trong đó đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân.
LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

LPBank tung ngàn quà tặng trên ứng dụng LPBank Plus, đưa giải pháp AI-first đến gần hơn với khách hàng

(TBTCO) - Tiên phong hiện thực hoá chiến lược AI-first thông qua ứng dụng ngân hàng số thế hệ mới LPBank Plus, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tiếp tục triển khai chương trình khuyến mại “Chạm LPBank Plus – Chạm quà chất” nhằm thúc đẩy thói quen giao dịch số thông minh. Không chỉ mang AI vào những nhu cầu tài chính quen thuộc, chương trình còn khuyến khích khách hàng trải nghiệm các tiện ích số, từng bước hình thành thói quen giao dịch thuận tiện, chủ động và an toàn hơn.
Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

Vietcombank khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cam Ranh

(TBTCO) - Ngày 30/9/2026, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) khai trương phòng chờ Vietcombank Priority Lounge tại Cảng hàng không quốc tế Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa. Đây là phòng chờ thương hiệu riêng thứ tư của ngân hàng, tiếp tục mở rộng hệ sinh thái đặc quyền và nâng cao trải nghiệm dành cho khách hàng ưu tiên.
Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

Mở rộng hệ sinh thái số: Bảo hiểm Quân đội (MIC) bắt tay cùng VNPT-Media

(TBTCO) - Ngày 29/9/2026 vừa qua, Tổng Công ty cổ phần Bảo hiểm Quân đội (MIC) và Tổng công ty Truyền thông - Chi nhánh Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (Tổng công ty VNPT-Media) đã chính thức tổ chức Lễ ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác. Sự kiện mở ra giai đoạn hợp tác mới giữa hai đơn vị, kết nối năng lực bảo hiểm của MIC với thế mạnh về công nghệ, nền tảng và hệ sinh thái khách hàng của VNPT, hướng tới nâng cao giá trị và trải nghiệm cho khách hàng.
Thanh toán QR xuyên biên giới: Bài toán không dừng ở độ phủ

Thanh toán QR xuyên biên giới: Bài toán không dừng ở độ phủ

(TBTCO) - Một lần quét QR giúp người Việt thanh toán tại nhiều quốc gia và ngược lại, nhưng phía sau là hệ thống phức tạp cùng nỗ lực của nhiều bên. VietQR Global hiện phủ hơn 6% điểm chấp nhận trong nước, với nhiều dư địa mở rộng, song bài toán không chỉ là độ phủ, kết nối thêm thị trường mà còn gia tăng giao dịch thực tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Hà Nội - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đà Nẵng - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Miền Tây - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Tây Nguyên - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,100 ▼200K 144,100 ▼200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Nghệ An 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
Miếng SJC Thái Bình 14,110 ▼20K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,010 ▼70K 14,410 ▼20K
NL 99.99 13,350
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,250
Trang sức 99.9 13,720 ▼20K 14,320 ▼20K
Trang sức 99.99 13,730 ▼20K 14,330 ▼20K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,411 ▼2K 14,412 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,411 ▼2K 14,413 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,406 ▼2K 1,436 ▼2K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,406 ▼2K 1,437 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,381 ▼2K 1,426 ▼2K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,188 ▼198K 141,188 ▼198K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,311 ▼150K 107,111 ▼150K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,328 ▼136K 97,128 ▼136K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,345 ▼122K 87,145 ▼122K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,494 ▼117K 83,294 ▼117K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,982 ▼44922K 5,962 ▼53742K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,411 ▼2K 1,441 ▼2K
Cập nhật: 02/10/2026 16:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17505 17777 18351
CAD 17736 18010 18626
CHF 30765 31142 31785
CNY 0 3833 3928
EUR 28630 28848 29927
GBP 33526 33914 34861
HKD 0 3180 3383
JPY 158 161 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14285 14873
SGD 19787 20069 20636
THB 690 753 807
USD (1,2) 25719 0 0
USD (5,10,20) 25758 0 0
USD (50,100) 25786 25800 26167
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 28,691 28,714 30,074
JPY 160.36 160.65 170.35
GBP 33,743 33,834 35,002
AUD 17,708 17,772 18,443
CAD 17,943 18,001 18,668
CHF 30,972 31,068 31,979
SGD 19,906 19,968 20,760
CNY - 3,803 3,949
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 738.19 747.31 800.16
NZD 14,280 14,413 14,843
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,848 3,984
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,949.04 - 6,714.78
TWD 736.28 - 892.03
SAR - 6,805.99 7,169.58
KWD - 82,156 87,420
AED - 6,822 7,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,667 28,782 29,993
GBP 33,663 33,798 34,828
HKD 3,244 3,257 3,375
CHF 30,729 30,852 31,799
JPY 160.49 161.13 169.11
AUD 17,650 17,721 18,316
SGD 19,929 20,009 20,600
THB 752 755 792
CAD 17,939 18,011 18,604
NZD 14,291 14,838
KRW 18.41 20.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25810 25810 26170
AUD 17621 17721 18651
CAD 17909 18009 19026
CHF 30822 30852 32433
CNY 3816.7 3841.7 3976.8
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28749 28779 30502
GBP 33768 33818 35578
HKD 0 3315 0
JPY 160.87 161.37 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14335 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19899 20029 20751
THB 0 716.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14150000 14150000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,697 25,817 26,170
USD20 25,667 25,817 26,170
USD1 25,647 25,817 26,170
AUD 17,730 17,830 18,937
EUR 28,611 28,711 30,370
CAD 17,874 17,974 19,280
SGD 19,879 19,879 20,719
JPY 161.69 163.19 168.75
GBP 33,742 33,892 35,260
XAU 14,108,000 0 14,412,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/10/2026 16:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30