GDP 9 tháng tăng 9,01%, 12 địa phương tăng trưởng hai con số
Sáng 3/10, Cục Thống kê tổ chức họp báo công bố số liệu thống kê kinh tế - xã hội quý III và 9 tháng năm 2026. Theo báo cáo do Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương trình bày, mặc dù bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều bất ổn, kinh tế - xã hội nước ta tiếp tục đạt được kết quả tích cực, quan trọng trên hầu hết các ngành, lĩnh vực.
GDP tăng qua từng quý
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý III/2026 ước tính tăng 9,95% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 8,15% của quý I và 8,81% của quý II. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,21%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 12,50%; khu vực dịch vụ tăng 9,54%.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê |
Tính chung 9 tháng, GDP ước tăng 9,01% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,02%, đóng góp 5,35% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11,21%, đóng góp 49,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,69%, đóng góp 45,03%.
Có 12/34 địa phương đạt mức tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) từ 10% trở lên. Quảng Ninh dẫn đầu với mức tăng 12,54%, tiếp theo là Hà Tĩnh 12,36%, Hải Phòng 12,08%, Bắc Ninh 11,81%, Ninh Bình 11,31%.
Ngành công nghiệp duy trì mức tăng trưởng khá nhờ các động lực tăng trưởng được mở rộng, một số dự án có quy mô lớn đi vào hoạt động, đơn hàng xuất khẩu phục hồi và tiến độ đầu tư công được đẩy mạnh, tạo hiệu ứng lan tỏa đến sản xuất và xây dựng.
Giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng tăng 11,02%. Công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò động lực chủ yếu với tốc độ tăng 11,36%, đóng góp 33,85% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế; ngành xây dựng tăng 12,22%, đóng góp 8,23%.
Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) quý III ước tăng 14,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, IIP ước tăng 12,3%, là mức tăng 9 tháng cao nhất kể từ năm 2019 đến nay. Trong đó, chế biến, chế tạo tăng 12,9%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,6%; khai khoáng tăng 8,0%.
Chỉ số tiêu thụ toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo 9 tháng tăng 12,8%. Chỉ số tồn kho tại thời điểm 30/9/2026 tăng 11,9% so với cùng thời điểm năm trước.
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê |
Nhập siêu 19,42 tỷ USD, tăng hơn 15% so với cùng kỳ
Trong khu vực dịch vụ, ngành vận tải, kho bãi tăng 11,03%; bán buôn và bán lẻ tăng 9,85%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 9,45%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,83% so với cùng kỳ năm trước. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành quý III ước đạt 2.039,0 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, tổng mức ước đạt 5.925,7 nghìn tỷ đồng, tăng 13,4%; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,8%.
Khách quốc tế đến Việt Nam trong quý III ước đạt 5,4 triệu lượt người, tăng 13,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 9 tháng, lượng khách quốc tế đạt 17,7 triệu lượt người, tăng 14,5%.
Về xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa quý III đạt 167,85 tỷ USD, tăng 30,4% so với cùng kỳ năm trước; nhập khẩu đạt 170,33 tỷ USD, tăng 42,2%.
Tính chung 9 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 888,02 tỷ USD, tăng 30,4%. Xuất khẩu đạt 434,30 tỷ USD, tăng 24,5%; nhập khẩu đạt 453,72 tỷ USD, tăng 36,7%.
Trong tổng kim ngạch xuất khẩu, khu vực kinh tế trong nước đạt 83,89 tỷ USD, tăng 7,5%, chiếm 19,3%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt 350,41 tỷ USD, tăng 29,4%, chiếm 80,7%.
Nhóm hàng công nghiệp chế biến chiếm 90,4% tổng kim ngạch xuất khẩu. Ở chiều nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất chiếm 94,1% tổng kim ngạch. Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất với kim ngạch 140,0 tỷ USD; Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 187,34 tỷ USD.
Cán cân thương mại hàng hóa tháng 9 xuất siêu 1,27 tỷ USD. Tuy nhiên, tính chung 9 tháng, cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 19,42 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 16,87 tỷ USD. Nhập siêu dịch vụ 9 tháng là 8,21 tỷ USD.
![]() |
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội tăng 15,1%
Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội 9 tháng năm 2026 theo giá hiện hành ước đạt 3.109,6 nghìn tỷ đồng, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn mức tăng 11,6% cùng kỳ năm 2025. Theo Cục Thống kê, mức tăng này phản ánh hiệu quả từ các chính sách điều hành vĩ mô, sự quyết liệt trong đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư công và niềm tin vững chắc của khu vực tư nhân cùng các nhà đầu tư nước ngoài.
Vốn khu vực nhà nước đạt 931,0 nghìn tỷ đồng, tăng 17,3%; khu vực ngoài nhà nước đạt 1.649,2 nghìn tỷ đồng, tăng 14,0%; khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 529,4 nghìn tỷ đồng, tăng 14,5%.
Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 30/9/2026, đạt 50,36 tỷ USD, tăng 76,4%. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện tại Việt Nam 9 tháng ước đạt 21,07 tỷ USD, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước, đạt mức cao nhất 9 tháng của các năm từ 2022 đến nay.
CPI bình quân quý III tăng 4,80% so với cùng kỳ năm trước. Bình quân 9 tháng, CPI tăng 4,52%; lạm phát cơ bản tăng 4,26%.
Cục trưởng Cục Thống kê Nguyễn Thị Hương đánh giá, mức tăng trưởng 9,01% là mức tăng trưởng rất cao trong nhiều năm qua, tạo nền tảng quan trọng để đạt mức cao nhất có thể theo mục tiêu đã đề ra.
Tuy nhiên, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số là thách thức rất lớn. Cục Thống kê đề nghị kiên định mục tiêu ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm các cân đối lớn, kiểm soát lạm phát, giá cả và ổn định thị trường.





