Góc khuất của nợ xấu

Chính Trung
Một phần của thực trạng nợ xấu trong hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn lẩn khuất đâu đó. Minh bạch thực sự trong vấn đề này vẫn chưa dành cho số đông. Với công chúng, bức tranh toàn diện về nợ xấu đang trở nên... xa xỉ bởi sự hạn chế của thông tin, hay mức độ có hạn của sự minh bạch.
aa

“Một bức tranh toàn diện về thực trạng nợ xấu ngân hàng chưa bao giờ được đưa ra”, TS. Trịnh Quang Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế của Tập đoàn Đầu tư phát triển Việt Nam, từng nhìn nhận như vậy trong bản tham luận về vấn đề nợ xấu ở các ngân hàng thương mại Việt Nam, tại Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân diễn ra đầu năm nay.

Nhìn nhận trên được giải thích từ thực tế nhạy cảm của nợ xấu, nó có thể thay đổi hàng ngày hoặc theo góc nhìn của người/cơ quan đánh giá.

Còn với công chúng, bức tranh toàn diện về nợ xấu đang trở nên xa xỉ bởi sự hạn chế của thông tin, hay mức độ có hạn của sự minh bạch.

“Kín” thông tin, rõ lo ngại

Ngày 11/11/2011, Ngân hàng Nhà nước ban hành Thông tư số 35 quy định việc công bố và cung cấp thông tin của Ngân hàng Nhà nước. Đây được xem là một cuộc “cách mạng thông tin” trong chính sách tiền tệ, khi nhiều dữ liệu và chỉ số quan trọng của hệ thống lần đầu tiên được đều đặn công bố và cập nhật, bắt đầu từ 1/4/2012.

Theo quy định tại Thông tư 35, tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế sẽ được công bố định kỳ hàng tháng, thời hạn công bố là trong vòng 45 ngày kể từ khi kết thúc tháng báo cáo. Đến nay, đã hơn 50 ngày kể từ 30/6/2013, tỷ lệ nợ xấu tính đến tháng 6/2013 vẫn chưa được cập nhật.

Khi bản thân cơ quan quản lý còn chưa chặt trong quy định công bố thông tin, thì cũng dễ hiểu vì sao đến thời điểm này vẫn còn nhiều ngân hàng thương mại chưa công bố báo cáo tài chính quý 2/2013. Vậy nên, một góc khuất của nợ xấu vẫn tồn tại.

Song không vì thế mà diễn biến phức tạp hơn, đáng lo ngại hơn của nợ xấu trong hệ thống ngân hàng khuất đi. Báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại cho thấy, nợ xấu tiếp tục gia tăng trong 6 tháng đầu năm nay, thậm chí tăng mạnh tại nhiều thành viên.

Ở khối quốc doanh, tốc độ gia tăng nợ xấu cũng thể hiện rõ ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), từ 2,26% cuối 2012 lên 2,81% đến 30/6/2013, trong khi dư nợ giảm 1,47% trong kỳ; Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank) tăng từ 1,46% lên 2,1%.

Trong số các thành viên đã công bố, Ngân hàng Kỹ thương (Techcombank) gây bất ngờ khi có tỷ lệ nợ xấu tăng mạnh từ 2,69% cuối năm 2012 lên tới 5,28% tính đến 30/6/2013, góp phần giải thích vì sao lợi nhuận của ngân hàng này giảm mạnh trong 6 tháng đầu năm nay. Nợ xấu tại một số ngân hàng cổ phần lớn cũng tăng mạnh trong kỳ, như tại Ngân hàng Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) từ 1,89% lên 2,5%; Ngân hàng Quân đội (MB) từ 1,86% lên 2,45%; Ngân hàng Á châu (ACB) từ 2,5% lên 2,99%.

Bên cạnh Techcombank, Ngân hàng Nam Việt (Navibank) cũng có tỷ lệ nợ xấu ở mức cao, tăng từ 5,6% cuối 2012 lên 6,1% tính đến 30/6/2013; Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) sau khi sáp nhập Habubank nợ xấu vẫn chưa thể xử lý, khi tăng từ 8,51% lên 9,04%.

Ở khối quốc doanh, tốc độ gia tăng nợ xấu cũng thể hiện rõ ở Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), từ 2,26% cuối 2012 lên 2,81% đến 30/6/2013, trong khi dư nợ giảm 1,47% trong kỳ; Ngân hàng Công thương Việt Nam (VietinBank) tăng từ 1,46% lên 2,1%. Riêng Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), tỷ lệ nợ xấu giảm từ 2,77% xuống 2,57%, chủ yếu do mở rộng tổng dự nợ còn con số tuyệt đối của nợ xấu vẫn chưa cải thiện.

Riêng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank), nợ xấu đến 30/6/2013 vẫn là một ẩn số. Đây là thành viên chiếm tới hơn 15% tổng dư nợ của toàn hệ thống mức độ co hoặc đẩy đối với tỷ lệ chung là rất lớn.

Ngoài Agribank, hiện vẫn còn khoảng phân nửa các ngân hàng thương mại chưa hoặc không công bố báo cáo tài chính, nên một phần diễn biến nợ xấu vẫn bị khuất đi, nhất là ở nhóm các ngân hàng thuộc diện phải tái cơ cấu.

Và dù chiếm tỷ trọng không lớn, song ẩn số nợ xấu còn có ở khối các công ty tài chính, mà biểu hiện của nó là các chỉ số an toàn xấu đi rất nhiều qua các kỳ cập nhật số liệu từ Ngân hàng Nhà nước…

Còn nhiều biến số

Vẫn còn góc khuất khiến việc định hình bức tranh toàn diện về nợ xấu hiện nay trở nên khó khăn. Nhưng ngay cả khi có thể định hình, thực tế lại có những biến số làm thay đổi “gam màu” của nó.

Tại cuộc trao đổi với giới chuyên môn gần đây, phó tổng giám đốc một ngân hàng nêu quan điểm rằng, việc siết chặt hơn quy định về phân loại nợ cần bám sát thực tế hơn. Ví dụ mà ông đưa ra là một doanh nghiệp gặp khó khăn với khoản vay ở ngân hàng nọ, nhưng tại ngân hàng mình vẫn tốt và được đánh giá là có triển vọng. Theo đó, nếu cùng xếp nợ của khách hàng này theo nhóm rủi ro cao hơn ở ngân hàng kia thì “oan”.

Thế nhưng, ý kiến của vị phó tổng giám đốc trên gặp quan điểm phản biện trái chiều, rằng: nếu anh đã khó trả nợ một khoản thôi thì các khoản khác cũng cần nâng cao mức cảnh báo. Theo đó, tất cả các khoản nợ đều phải xếp vào nhóm rủi ro cao như với khoản khó trả. Đây cũng là tinh thần chính của Thông tư 02 mà hiện Ngân hàng Nhà nước đang cho hoãn áp dụng.

Ví dụ trên cũng là khác biệt giữa các ngân hàng thương mại hiện nay trong phân loại nợ. Cùng một khách hàng có nhiều khoản vay tại các tổ chức tín dụng khác nhau, nhưng có thể vướng nợ xấu ở chỗ này mà vẫn tốt ở chỗ kia. Đây cũng là một biến số mà khi làm rõ, thống nhất lại trong toàn hệ thống thì chắc chắn tỷ lệ nợ xấu sẽ còn cao hơn nhiều.

Và cũng do Thông tư 02 hoãn áp dụng, nên hiện nay một số khoản thực chất là nợ xấu tại một số ngân hàng vẫn còn “treo” mà chưa tính vào tỷ lệ báo cáo. Đó là những khoản tiền gửi liên ngân hàng chưa thu hồi được, hoặc đã được cơ cấu lại và chuyển thể thành tiền vay.

Một biến số khác là các khoản nợ được cơ cấu lại theo cơ chế của Quyết định 780 mà không phải chuyển sang nhóm có rủi ro cao hơn. Đã hơn một năm thực hiện cơ chế Quyết định 780 song vẫn chưa có báo cáo cập nhật mức độ trì hoãn của dạng này đối với nợ xấu, hay tỷ lệ được “tái sinh” khi được trao cơ hội cơ cấu lại là bao nhiêu?

Và một biến số nữa là các khoản nợ được khoanh, cơ cấu lại của Vinashin, Vinalines - dễ nhận thấy ở các khoản mục còn để ngỏ trong thuyết minh báo cáo tài chính một số ngân hàng thương mại, với chú giải chờ hướng dẫn cụ thể của Ngân hàng Nhà nước…

Vậy nên, với nợ xấu của các tổ chức tín dụng hiện nay, thực khó để định lượng một cách đầy đủ với góc khuất cùng những biến số như vậy.

Chính Trung

Chính Trung

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

Nhóm Ngân hàng Thế giới sẵn sàng triển khai hỗ trợ quy mô lớn ứng phó khủng hoảng Trung Đông

(TBTCO) - Xung đột tại Trung Đông đang đẩy giá năng lượng, phân bón tăng mạnh, làm gián đoạn chuỗi cung ứng và gia tăng chi phí toàn cầu. Nhóm Ngân hàng Thế giới khẳng định sẽ triển khai hỗ trợ quy mô lớn, kết hợp tài chính, chính sách và khu vực tư nhân để giúp các nền kinh tế vượt qua cú sốc và phục hồi tăng trưởng.
"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

Sacombank có tân Phó Tổng giám đốc người Pháp

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank, mã Ck: STB) vừa công bố và trao quyết định bổ nhiệm ông Loic Faussier giữ chức Phó Tổng giám đốc, phụ trách mảng Quản trị rủi ro, pháp chế và tuân thủ.
PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,980 17,280
Kim TT/AVPL 16,980 17,280
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,980 17,280
Nguyên Liệu 99.99 16,000 16,200
Nguyên Liệu 99.9 15,950 16,050
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,800 17,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,750 17,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,680 17,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,800 172,800
Hà Nội - PNJ 169,800 172,800
Đà Nẵng - PNJ 169,800 172,800
Miền Tây - PNJ 169,800 172,800
Tây Nguyên - PNJ 169,800 172,800
Đông Nam Bộ - PNJ 169,800 172,800
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,980 17,280
Miếng SJC Nghệ An 16,980 17,280
Miếng SJC Thái Bình 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,980 17,280
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,980 17,280
NL 99.90 15,820
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850
Trang sức 99.9 16,470 17,170
Trang sức 99.99 16,480 17,180
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,698 17,282
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,698 17,283
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,696 1,726
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,696 1,727
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,676 1,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,906 169,406
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,588 128,488
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,761 11,651
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,631 104,531
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 91,011 99,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,606 71,506
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,698 1,728
Cập nhật: 30/03/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17564 17837 18427
CAD 18421 18698 19322
CHF 32313 32696 33362
CNY 0 3470 3830
EUR 29682 29954 30993
GBP 34118 34508 35456
HKD 0 3232 3435
JPY 157 161 167
KRW 0 16 18
NZD 0 14824 15409
SGD 19889 20171 20705
THB 711 774 838
USD (1,2) 26076 0 0
USD (5,10,20) 26117 0 0
USD (50,100) 26145 26165 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26221 26221 26355
AUD 17805 17905 18828
CAD 18660 18760 19776
CHF 32627 32657 34239
CNY 3752.7 3777.7 3912.9
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29887 29917 31643
GBP 34541 34591 36352
HKD 0 3355 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14990 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20087 20217 20939
THB 0 744.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16860000 16860000 17160000
SBJ 15000000 15000000 17160000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,145 26,195 26,355
USD20 26,145 26,195 26,355
USD1 23,845 26,195 26,355
AUD 17,834 17,934 19,072
EUR 30,015 30,015 31,464
CAD 18,599 18,699 20,032
SGD 20,145 20,295 21,310
JPY 161.62 163.12 167.88
GBP 34,412 34,762 35,673
XAU 16,858,000 0 17,162,000
CNY 0 3,659 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 30/03/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80