PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%

Ánh Tuyết
Dù chịu tác động từ thiên tai, cạnh tranh từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và biến động nội bộ, PJICO vẫn hoàn thành vượt nhiều chỉ tiêu năm 2025. Bước sang 2026, PJICO đặt mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.989 tỷ đồng, tăng 8%; lợi nhuận 324,5 tỷ đồng và cổ tức dự kiến 12%, đồng thời kiện toàn Hội đồng quản trị.
aa
Bảo hiểm PJICO khai thác tối đa tiềm năng các nghiệp vụ, hướng đến doanh thu 5.200 tỷ đồng Bảo hiểm PJICO chính thức bổ nhiệm ông Trần Anh Tuấn là Tổng Giám đốc Doanh nghiệp bảo hiểm khởi động mùa đại hội, dồn dập lên lịch họp cổ đông

Mục tiêu lãi trước thuế 324,5 tỷ đồng, cổ tức dự kiến 12%

Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm Petrolimex (PJICO - mã Ck: PGI) dự kiến tổ chức Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 ngày 15/4 tại Hà Nội. Đại hội sẽ xem xét nhiều nội dung quan trọng như: kết quả kinh doanh năm 2025, kế hoạch năm 2026, phương án phân phối lợi nhuận năm 2025, cùng việc miễn nhiệm và bầu bổ sung 1 thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2024 - 2029.

Trong báo cáo kết quả kinh doanh năm 2025, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2026, lãnh đạo PJICO đánh giá, năm 2026 được đánh giá là nhiều khó khăn, nhưng cũng không ít thuận lợi.

Mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số, cùng các giải pháp đột phá về thể chế, tăng mạnh đầu tư vào hạ tầng và công nghệ được kỳ vọng tạo động lực cho nền kinh tế. Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ dự báo tiếp tục tăng trưởng ở mức cao 10 - 15%.

Năm 2026, PJICO đặt mục tiêu lợi nhuận trước thuế dự kiến đạt 324,5 tỷ đồng, tăng 6% so với thực hiện năm 2025 và phấn đấu tăng 8%. Tỷ lệ chi trả cổ tức dự kiến ở mức 12% vốn điều lệ.

Trong bối cảnh đó, lãnh đạo PJICO nhận định, Tổng công ty có cơ hội đạt mục tiêu tăng trưởng nhanh, dù vẫn đối mặt áp lực cạnh tranh từ các đối thủ mới và những doanh nghiệp theo đuổi chiến lược mở rộng thị phần mạnh mẽ, cùng với ảnh hưởng tiêu cực còn kéo dài từ các sự cố trước đó.

PJICO đặt mục tiêu đạt gần 5.000 tỷ đồng phí bảo hiểm gốc, chia cổ tức 12%
Nguồn: PJICO.

Trên cơ sở đánh giá các yếu tố nêu trên và định hướng của Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam, PJICO xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 với tổng doanh thu dự kiến đạt 5.872 tỷ đồng.

Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm đạt 5.238 tỷ đồng, tăng trưởng 8% so với năm 2025 và phấn đấu đạt mức tăng 10%, gồm 4.989 tỷ đồng doanh thu bảo hiểm gốc và 249 tỷ đồng doanh thu nhận tái bảo hiểm.

Cùng với đó, PJICO đặt mục tiêu doanh thu hoạt động đầu tư tài chính đạt 255 tỷ đồng; hoa hồng nhượng tái bảo hiểm đạt 360 tỷ đồng; doanh thu cho thuê nhà, văn phòng đạt 20 tỷ đồng.

Năm 2026, PJICO triển khai các giải pháp phát triển sản phẩm mới. Theo đó, Tổng công ty đã ban hành các sản phẩm combo kết hợp giữa bảo hiểm trách nhiệm dân sự ô tô; xe máy với tai nạn người ngồi; bảo hiểm nhà ở...

Tổng công ty chuẩn bị ban hành sản phẩm bảo hiểm vật chất xe có mức khấu trừ cao, để khai thác thị trường xe cá nhân lâu nay chỉ mua trách nhiệm dân sự bắt buộc mà không mua bảo hiểm vật chất xe. Nghiên cứu để triển khai bảo hiểm vật chất xe theo thời gian thực tế lưu thông trên đường.

Về phương án phân phối lợi nhuận năm 2025, tổng lợi nhuận sau thuế của PJICO hơn 245,5 tỷ đồng. Tổng công ty dự kiến trích quỹ đầu tư phát triển 15% (khoảng 36,8 tỷ đồng), quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi cho người lao động mỗi quỹ, tương đương tổng 1 tháng lương, khoảng 33,2 tỷ đồng, cùng các khoản trích thưởng cho Hội đồng quản trị, khách hàng, đối tác và ban điều hành. Dự kiến chi trả cổ tức với tỷ lệ 12%, tương ứng khoảng 133,1 tỷ đồng.

Tại đại hội, Hội đồng quản trị PJICO sẽ trình cổ đông thông qua việc miễn nhiệm bà Nguyễn Thị Hương Giang khỏi vị trí Thành viên Hội đồng quản trị nhiệm kỳ 2024 - 2029, với hiệu lực sau khi được Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026 biểu quyết chấp thuận. Đồng thời, Hội đồng quản trị cũng đề xuất bầu ông Trần Anh Tuấn, do cổ đông Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam đề cử, thay thế vị trí thành viên đã miễn nhiệm.

"Vượt sóng" 2025, hoàn thành vượt kế hoạch nhiều chỉ tiêu

Tại báo cáo kết quả kinh doanh năm 2025, nhiệm vụ và giải pháp trọng tâm năm 2026, Tổng Giám đốc PJICO Trần Anh Tuấn nhận định, năm 2025 là năm có nhiều khó khăn với PJICO, gồm cả khó khăn khách quan do thiên tai bão lụt gây hậu quả nặng nề đến nền kinh tế Việt nam nói chung, thị trường bảo hiểm phi nhân thọ và PJICO nói riêng. Cùng với đó, sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường và sự cố tháng 5/2025 tác động đến hoạt động kinh doanh của Tổng công ty.

Trong năm 2025, PJICO đã có những biến động lớn về nhân sự cấp cao. Theo đó, Tổng Giám đốc mới được bổ nhiệm vào tháng 06/2025, có 2 Phó Tổng nghỉ hưu theo chế độ và bổ nhiệm mới 3 Phó Tổng giám đốc trong năm 2025. PJICO đã sớm kiện toàn các chức danh lãnh đạo chủ chốt, đảm bảo tính ổn định và kinh doanh liên tục, hoàn thành và hoàn thành vượt mức tất cả các chỉ tiêu kinh doanh 2025.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Theo đó, tổng doanh thu PJICO đạt 5.510 tỷ đồng, hoàn thành 106,4% kế hoạch do Hội đồng quản trị giao. Trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc đạt 4.619 tỷ đồng, hoàn thành 105% kế hoạch và tăng 5% so với năm 2024; doanh thu nhận tái bảo hiểm đạt 230,6 tỷ đồng, hoàn thành 107,7% kế hoạch và tăng 7,8%. Còn doanh thu từ hoạt động đầu tư tài chính ước đạt 253,6 tỷ đồng, hoàn thành 115,3% kế hoạch, nhưng giảm 10,5% so với năm trước.

"Lợi nhuận trước thuế đạt 306,1 tỷ đồng hoàn thành 100% kế hoạch Hội đồng quản trị giao, tăng trưởng 5,1% so với năm 2024" - báo cáo nêu rõ.

Về các nghiệp vụ cụ thể, bảo hiểm xe cơ giới đạt doanh thu 1.572 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 34%, nhưng chỉ hoàn thành 95,9% kế hoạch và giảm 4,1% so với năm trước. Bảo hiểm hàng không đạt 43 tỷ đồng, tỷ trọng chỉ 0,9%, hoàn thành 62,8% kế hoạch và giảm mạnh 53,5%.

"Xe cơ giới là nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất và là nghiệp vụ duy nhất có doanh thu giảm dẫn đến làm giảm tỷ lệ tăng trưởng của Tổng công ty. Nếu nghiệp vụ xe cơ giới không bị ảnh hưởng của sự cố tháng 5 và đạt kế hoạch được giao thì doanh thu toàn Tổng công ty năm 2025 đã đạt mức tăng trưởng hai con số và không bị giảm thị phần. Tuy vậy ngoài doanh thu sụt giảm, nghiệp vụ xe cơ giới năm 2025 cũng đạt một số kết quả tích cực" - Tổng Giám đốc PJICO đánh giá.

Lý giải sự sụt giảm bảo hiểm hàng không, lãnh đạo PJICO thông tin do Tổng công ty không duy trì tái tục được đội tàu bay của Vietnam Airlines, nhưng tái tục thành công đội tàu bay của Vietjet và Bamboo Airways.

Còn về sụt giảm kết quả hoạt động đầu tư tài chính, theo PJICO, lãi suất ngân hàng đã sụt giảm từ giữa năm 2024 đến cuối năm 2025. Ngoài việc lựa chọn ngân hàng có lãi suất tốt, đầu tư an toàn, Tổng Công ty đã và đang tiếp tục hợp tác với các ngân hàng có lãi suất vay ưu đãi từ đó tối ưu hoá dòng tiền đầu tư, đồng thời, tìm kiếm các tổ chức tín dụng có mức lãi suất tốt, phù hợp từng thời điểm để đầu tư đem lại hiệu quả cao nhất.

Cũng trong năm vừa qua, PJICO thực hiện tái cấu trúc bộ máy tại các đơn vị trực thuộc với định hướng chuẩn hóa và tinh gọn và theo 03 mô hình và giảm được tổng cộng 39 phòng nghiệp vụ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Kim TT/AVPL 16,870 ▲10K 17,170 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲100K 16,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲100K 16,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 ▲150K 17,100 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 ▲150K 17,050 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 ▲150K 17,030 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Hà Nội - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Miền Tây - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
NL 99.90 15,770 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▲100K
Trang sức 99.9 16,350 ▲60K 17,050 ▲60K
Trang sức 99.99 16,360 ▲60K 17,060 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,686 ▲1K 17,162 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,686 ▲1K 17,163 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,684 ▲1K 1,714 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,684 ▲1K 1,715 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,664 ▲1K 1,699 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,718 ▲99K 168,218 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,688 ▲75K 127,588 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,794 ▲68K 115,694 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,899 ▲61K 103,799 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,312 ▲59K 99,212 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,105 ▲41K 71,005 ▲41K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cập nhật: 27/03/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17636 17909 18488
CAD 18483 18760 19378
CHF 32403 32786 33432
CNY 0 3470 3830
EUR 29716 29988 31018
GBP 34253 34643 35580
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14891 15477
SGD 19926 20209 20737
THB 716 779 832
USD (1,2) 26069 0 0
USD (5,10,20) 26110 0 0
USD (50,100) 26138 26158 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17813 17913 18838
CAD 18658 18758 19774
CHF 32700 32730 34317
CNY 3749.5 3774.5 3909.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29931 29961 31686
GBP 34622 34672 36432
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14994 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20105 20235 20959
THB 0 745.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16760000 16760000 17060000
SBJ 15000000 15000000 17060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,355
USD20 26,168 26,218 26,355
USD1 26,168 26,218 26,355
AUD 17,871 17,971 19,083
EUR 30,076 30,076 31,492
CAD 18,610 18,710 20,022
SGD 20,179 20,329 21,310
JPY 161.83 163.33 167.92
GBP 34,511 34,861 35,742
XAU 0 16,858,000 0
CNY 0 3,660 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80