"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Ánh Tuyết
Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
aa
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định lãi suất

Phát biểu tại Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp" được tổ chức ngày 27/3, ông Lê Ngọc Lâm - Tổng Giám đốc BIDV cho rằng, việc thúc đẩy kinh tế Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới không chỉ là mục tiêu về quy mô tăng trưởng, mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao vị thế quốc gia, tăng cường năng lực cạnh tranh và cải thiện chất lượng sống của người dân.

Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và mang tính đột phá, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, chủ lực trong việc thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn và dẫn dắt thị trường.

Với lợi thế về quy mô, năng lực tài chính và mạng lưới rộng khắp, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục giữ vai trò chi phối trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.

"Trong năm 2026, với tốc độ tăng trưởng bình quân do Ngân hàng Nhà nước giao khoảng 11 - 12%, các ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến gia tăng giải ngân khoảng 1 triệu tỷ đồng, để phục vụ các nhu cầu vốn của nền kinh tế. Nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng sẽ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng và chuyển đổi số. Đây là các động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng".

Ông Lê Ngọc Lâm - Tổng Giám đốc BIDV.

Về tổng tài sản, đến cuối năm 2025, nhóm "big 4" đạt khoảng 11 triệu tỷ đồng, chiếm 46,5% giá trị tổng tài sản toàn ngành ngân hàng. Trong đó, BIDV là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất, đạt 3,27 triệu tỷ đồng, chiếm 13,9% tổng tài sản toàn ngành. Về dư nợ tín dụng, tổng dư nợ của 4 ngân hàng này đạt khoảng 8 triệu tỷ đồng, chiếm 42,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Riêng thị phần tín dụng của BIDV đạt 12,5%" - Tổng Giám đốc BIDV thông tin.

Song song với vai trò cung ứng vốn, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong việc thực thi chính sách tiền tệ, chủ động điều tiết thanh khoản, ổn định thị trường ngoại hối, góp phần giữ vững mặt bằng lãi suất hợp lý để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh.

Đồng thời, các ngân hàng thương mại nhà nước cũng triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; tăng cường kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, giúp cải thiện khả năng tiếp cận vốn và giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, từ đó, kích thích đầu tư và tiêu dùng. Đây là những yếu tố cốt lõi để đạt được tăng trưởng kinh tế cao.

Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp". Ảnh tư liệu.

Ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị MB cho rằng, việc đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số là một thách thức, nhưng để duy trì sự tăng trưởng đó trong dài hạn lại là một bài toán khó hơn rất nhiều.

"Việc ổn định kinh tế vĩ mô bền vững là yêu cầu bắt buộc, trong đó, cốt lõi là ổn định lãi suất. Nếu không duy trì được mặt bằng chi phí tài chính thấp, doanh nghiệp sẽ không có động lực để mở rộng đầu tư. Trong hệ sinh thái này, ngành ngân hàng đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên của khối doanh nghiệp tư nhân" - ông Thái nêu rõ.

Bên cạnh vấn đề lãi suất, dưới góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) cho rằng, vấn đề then chốt là tốc độ giải ngân và sự tin tưởng của ngân hàng. Nếu ngân hàng triển khai cho vay dàn rộng cho nhiều đối tượng nhỏ, rủi ro hệ thống thực chất còn thấp hơn so với việc tập trung vốn quá lớn vào một vài khách hàng lớn.

"Cần thúc đẩy hình thức cho vay tín chấp và rút ngắn quy trình phê duyệt. Nếu không tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng một cách nhanh chóng, doanh nghiệp buộc phải tìm đến tín dụng đen với chi phí rất cao, dẫn đến nguy cơ phá sản" - ông Thân đề nghị.

Nợ xấu chiếm tới 20% chi phí, tìm cách xử lý để kéo giảm lãi suất

Để hiện thực hóa mục tiêu giảm lãi suất cho vay và giảm gánh nặng chi phí tài chính cho doanh nghiệp, Chủ tịch Hội đồng quản trị MB cho rằng, cần kiểm soát chặt chẽ 3 yếu tố chính.

Thứ nhất, chi phí quản lý của các ngân hàng. Hiện nay, tỷ lệ chi phí quản lý trên tổng doanh thu (CIR) của những ngân hàng quản trị tốt chỉ ở mức khoảng 25%, trong khi có những đơn vị lên tới 50%. Đây chính là dư địa để tối ưu hóa hoạt động.

Thứ hai, chi phí vốn đầu vào, cụ thể là lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm. Yếu tố này phụ thuộc trực tiếp vào tính thanh khoản và khả năng luân chuyển vốn thông thoáng trong nền kinh tế. Khi dòng vốn được lưu thông thuận lợi, chi phí đầu vào của ngân hàng sẽ giảm xuống.

Thứ ba, kiểm soát chi phí rủi ro nợ xấu. Chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu hiện chiếm khoảng 18 - 20% trong cơ cấu chi phí của ngành ngân hàng.

"Tại các quốc gia quản trị tốt vấn đề này, họ tập trung vào hai khía cạnh: nâng cao năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng và tăng cường ý thức tuân thủ kỷ luật tài chính của người đi vay. Nếu đảm bảo được sự cân bằng quyền lợi và trách nhiệm giữa bên vay và bên cho vay trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, chi phí rủi ro sẽ giảm, từ đó, có điều kiện kéo lãi suất cho vay xuống mức thấp hơn" - ông Lưu Trung Thái nêu rõ.

Big 4 dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức
Các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh tư liệu.

Để hệ thống ngân hàng phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt và hỗ trợ các động lực tăng trưởng, thay mặt các ngân hàng thương mại nhà nước, Tổng Giám đốc BIDV cũng cho rằng, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời phân bổ hạn mức tín dụng phù hợp để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao.

Về cơ chế xử lý nợ xấu, lãnh đạo BIDV đề xuất Chính phủ cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường (có thể thấp hơn giá gốc của khoản nợ) nhưng vẫn thực hiện đảm bảo đúng quy trình, thủ tục công khai, minh bạch để giải phóng nguồn lực hiện nay đang bị ách tắc do nợ xấu.

Ngoài ra, cần nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước theo hướng bền vững, linh hoạt, cho phép giữ lại lợi nhuận để tăng vốn. Đồng thời, thúc đẩy các chương trình tín dụng trọng điểm trong hạ tầng, năng lượng, chuyển đổi số, đi kèm cơ chế chia sẻ rủi ro. Phát triển thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp để giảm áp lực vốn trung dài hạn cho ngân hàng. Bên cạnh đó, đẩy mạnh hạ tầng số, dữ liệu quốc gia, tăng kết nối liên ngành và hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới...

"Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là thách thức lớn, nhưng hoàn toàn khả thi với sự quyết tâm của Chính phủ, sự hưởng ứng và đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp cũng như hệ thống tài chính ngân hàng" - lãnh đạo BIDV bày tỏ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

Chi trả gần 16.500 tỷ đồng quyền lợi bảo hiểm năm 2025: Prudential Việt Nam xây dựng niềm tin từ năng lực thực thi

(TBTCO) - Với tổng chi trả quyền lợi bảo hiểm và các quyền lợi khác đạt 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, tương đương khoảng 25% tổng chi trả toàn ngành bảo hiểm nhân thọ, Prudential Việt Nam cho thấy năng lực thực hiện cam kết dài hạn đang trở thành thước đo quan trọng của niềm tin trong ngành bảo hiểm.
Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

Bùng nổ ưu đãi lớn dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tại VietinBank

(TBTCO) - Chào đón các khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) mới trong năm 2026, VietinBank triển khai loạt ưu đãi “kép” cho cả dịch vụ mở tài khoản eKYC, tiền gửi và tài trợ thương mại.
Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Ngân hàng có thể “né” áp lực vượt trần tỷ lệ CDR 85%, khi tuân thủ sớm 100% nhiều chuẩn Basel III

Theo đánh giá của nhóm phân tích ACBS, việc chuyển từ tỷ lệ LDR sang CDR có thể khiến nhiều ngân hàng vượt ngưỡng 85%, song tác động tới thanh khoản và tăng trưởng tín dụng được cho là không quá lớn. Bởi ngân hàng có thể lựa chọn áp dụng tỷ lệ CDR hoặc tuân thủ sớm các chuẩn Basel III như LCR và NSFR ở mức 100%, qua đó không cần tuân thủ tỷ lệ CDR.
Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

Tỷ giá USD hôm nay (11/5): Tỷ giá trung tâm tăng, USD tự do tiếp đà giảm

(TBTCO) - Trong phiên đầu tuần sáng ngày 11/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.118 đồng, tăng 6 đồng, trong khi USD tự do giảm 30 đồng, xuống 26.420 - 26.470 VND/USD. Chỉ số DXY ở mức 97,9 điểm, khi căng thẳng Trung Đông có dấu hiệu hạ nhiệt, song thị trường vẫn thận trọng trước những bất định về khả năng đạt được thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

9 năm liên tiếp Top 100 Doanh nghiệp Phát triển Bền vững: Prudential Việt Nam kiên định với giá trị dài hạn

(TBTCO) - Gần 27 năm hiện diện tại Việt Nam, Prudential không chỉ là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ nước ngoài hàng đầu, mà còn là người bạn đồng hành bền bỉ trên hành trình xây dựng cuộc sống yên tâm và bền vững của hàng triệu gia đình Việt.
Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

Chi trả quyền lợi bảo hiểm: Thước đo thật sự của niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ghi nhận chi trả quyền lợi bảo hiểm lên tới 16.489 tỷ đồng trong năm 2025, duy trì biên khả năng thanh toán trên 200% và đứng đầu thị trường về chỉ số rNPS – Prudential Việt Nam đang cho thấy niềm tin trong ngành bảo hiểm nhân thọ không đến từ quảng cáo, mà được xây dựng bằng năng lực thực hiện cam kết dài hạn với khách hàng.
Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

Tỷ giá USD hôm nay (9/5): USD tự do lao dốc gần 300 đồng tuần qua, DXY suy yếu lùi về dưới 98 điểm

(TBTCO) - Sáng ngày 9/5, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.112 đồng trong phiên cuối tuần, trong khi USD tự do giảm sâu gần 300 đồng sau một tuần. Chỉ số DXY chốt tuần tại 97,86 điểm, giảm 0,19%, khi căng thẳng Trung Đông có tín hiệu hạ nhiệt, dù vẫn nhiều bất định để đạt thỏa thuận ngừng bắn lâu dài giữa Mỹ và Iran.
Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

Chứng khoán MBS dự báo áp lực lên tỷ giá quý II/2026, mức biến động quanh 26.350 - 26.700 đồng

(TBTCO) - Theo đánh giá của Chứng khoán MBS, tỷ giá USD/VND tháng 4/2026 tương đối ổn định, tuy nhiên, áp lực vẫn hiện hữu khi giá dầu neo cao do căng thẳng Trung Đông tiếp tục thúc đẩy đà tăng đồng USD, Fed dự báo trì hoãn giảm lãi suất hết năm 2027 và thặng dư thương mại trong nước thu hẹp. Tỷ giá USD quý II/2026 dự báo dao động quanh 26.350 - 26.700 VND/USD.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Kim TT/AVPL 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Nguyên Liệu 99.99 15,240 ▼160K 15,440 ▼160K
Nguyên Liệu 99.9 15,190 ▼160K 15,390 ▼160K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,020 ▼180K 16,420 ▼180K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,970 ▼180K 16,370 ▼180K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,900 ▼180K 16,350 ▼180K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Hà Nội - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đà Nẵng - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Miền Tây - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Tây Nguyên - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
Đông Nam Bộ - PNJ 162,200 ▼2100K 165,200 ▼2100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Nghệ An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
Miếng SJC Thái Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,220 ▼230K 16,520 ▼230K
NL 99.90 15,070 ▼80K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,120 ▼80K
Trang sức 99.9 15,710 ▼230K 16,410 ▼230K
Trang sức 99.99 15,720 ▼230K 16,420 ▼230K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,622 ▼23K 16,522 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,622 ▼23K 16,523 ▼230K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,617 ▲1453K 1,647 ▲1480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,617 ▲1453K 1,648 ▼23K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 ▲1436K 1,633 ▼22K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 ▼2178K 161,683 ▼2178K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 ▼1650K 122,637 ▼1650K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 ▼1496K 111,205 ▼1496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 ▼1342K 99,773 ▼1342K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 ▼1283K 95,363 ▼1283K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 ▲53326K 68,253 ▲61336K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,622 ▼23K 1,652 ▼23K
Cập nhật: 11/05/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18508 18785 19360
CAD 18720 18998 19613
CHF 33135 33521 34161
CNY 0 3832 3924
EUR 30334 30608 31632
GBP 34984 35378 36308
HKD 0 3231 3433
JPY 160 164 171
KRW 0 16 18
NZD 0 15332 15919
SGD 20183 20467 20990
THB 727 790 843
USD (1,2) 26057 0 0
USD (5,10,20) 26098 0 0
USD (50,100) 26127 26146 26373
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,373
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,507 30,531 31,827
JPY 163.47 163.76 172.76
GBP 35,220 35,315 36,352
AUD 18,751 18,819 19,433
CAD 18,933 18,994 19,595
CHF 33,489 33,593 34,402
SGD 20,354 20,417 21,118
CNY - 3,809 3,934
HKD 3,303 3,313 3,434
KRW 16.52 17.23 18.65
THB 775.61 785.19 835.94
NZD 15,351 15,494 15,880
SEK - 2,806 2,891
DKK - 4,082 4,205
NOK - 2,822 2,907
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,278.17 - 7,052.17
TWD 758.72 - 914.54
SAR - 6,914.01 7,245.8
KWD - 83,853 88,772
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,133 26,373
EUR 30,412 30,534 31,718
GBP 35,165 35,306 36,318
HKD 3,294 3,307 3,422
CHF 33,244 33,378 34,322
JPY 163.72 164.38 171.86
AUD 18,691 18,766 19,358
SGD 20,403 20,485 21,073
THB 794 797 832
CAD 18,884 18,960 19,535
NZD 15,424 15,960
KRW 17.16 18.86
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26209 26209 26373
AUD 18703 18803 19726
CAD 18907 19007 20021
CHF 33405 33435 35014
CNY 3813.5 3838.5 3973.6
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30531 30561 32283
GBP 35303 35353 37114
HKD 0 3355 0
JPY 164.06 164.56 175.07
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2772 0
NZD 0 15452 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20351 20481 21214
THB 0 756.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16220000 16220000 16520000
SBJ 14000000 14000000 16520000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,130 26,180 26,373
USD20 26,130 26,180 26,373
USD1 26,130 26,180 26,373
AUD 18,723 18,823 19,950
EUR 30,647 30,647 32,090
CAD 18,815 18,915 20,243
SGD 20,428 20,578 21,490
JPY 164.57 166.07 170.77
GBP 35,157 35,507 36,656
XAU 16,448,000 0 16,752,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 11/05/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80