"Big 4" dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức

Ánh Tuyết
Với tỷ trọng 42,3% tổng dư nợ, nhóm “big 4” dự kiến giải ngân thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng năm 2026 nhằm hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, áp lực giữ ổn định mặt bằng lãi suất cho vay vẫn hiện hữu, khi chi phí vốn gia tăng, lãi suất huy động tăng, đặc biệt chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu chiếm tới 18 - 20% cơ cấu chi phí của ngành.
aa
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng Nợ xấu tăng 14%, nhiều ngân hàng vẫn “ngược dòng” siết kỷ luật tín dụng

Giữ ổn định kinh tế vĩ mô, ổn định lãi suất

Phát biểu tại Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp" được tổ chức ngày 27/3, ông Lê Ngọc Lâm - Tổng Giám đốc BIDV cho rằng, việc thúc đẩy kinh tế Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới không chỉ là mục tiêu về quy mô tăng trưởng, mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong việc nâng cao vị thế quốc gia, tăng cường năng lực cạnh tranh và cải thiện chất lượng sống của người dân.

Trong bối cảnh nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững và mang tính đột phá, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột, chủ lực trong việc thực thi chính sách kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn và dẫn dắt thị trường.

Với lợi thế về quy mô, năng lực tài chính và mạng lưới rộng khắp, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục giữ vai trò chi phối trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế.

"Trong năm 2026, với tốc độ tăng trưởng bình quân do Ngân hàng Nhà nước giao khoảng 11 - 12%, các ngân hàng thương mại nhà nước dự kiến gia tăng giải ngân khoảng 1 triệu tỷ đồng, để phục vụ các nhu cầu vốn của nền kinh tế. Nguồn vốn tín dụng của các ngân hàng sẽ tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp, xuất khẩu, công nghiệp chế biến chế tạo, năng lượng và chuyển đổi số. Đây là các động lực tăng trưởng kinh tế quan trọng".

Ông Lê Ngọc Lâm - Tổng Giám đốc BIDV.

Về tổng tài sản, đến cuối năm 2025, nhóm "big 4" đạt khoảng 11 triệu tỷ đồng, chiếm 46,5% giá trị tổng tài sản toàn ngành ngân hàng. Trong đó, BIDV là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất, đạt 3,27 triệu tỷ đồng, chiếm 13,9% tổng tài sản toàn ngành. Về dư nợ tín dụng, tổng dư nợ của 4 ngân hàng này đạt khoảng 8 triệu tỷ đồng, chiếm 42,3% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Riêng thị phần tín dụng của BIDV đạt 12,5%" - Tổng Giám đốc BIDV thông tin.

Song song với vai trò cung ứng vốn, các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục là lực lượng nòng cốt trong việc thực thi chính sách tiền tệ, chủ động điều tiết thanh khoản, ổn định thị trường ngoại hối, góp phần giữ vững mặt bằng lãi suất hợp lý để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân phục hồi, phát triển sản xuất kinh doanh.

Đồng thời, các ngân hàng thương mại nhà nước cũng triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; tăng cường kết nối ngân hàng - doanh nghiệp, giúp cải thiện khả năng tiếp cận vốn và giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp, từ đó, kích thích đầu tư và tiêu dùng. Đây là những yếu tố cốt lõi để đạt được tăng trưởng kinh tế cao.

Hội nghị "Doanh nghiệp góp phần vào tăng trưởng hai con số và Thủ tướng Chính phủ tri ân doanh nghiệp". Ảnh tư liệu.

Ông Lưu Trung Thái - Chủ tịch Hội đồng quản trị MB cho rằng, việc đạt được tốc độ tăng trưởng hai con số là một thách thức, nhưng để duy trì sự tăng trưởng đó trong dài hạn lại là một bài toán khó hơn rất nhiều.

"Việc ổn định kinh tế vĩ mô bền vững là yêu cầu bắt buộc, trong đó, cốt lõi là ổn định lãi suất. Nếu không duy trì được mặt bằng chi phí tài chính thấp, doanh nghiệp sẽ không có động lực để mở rộng đầu tư. Trong hệ sinh thái này, ngành ngân hàng đóng vai trò then chốt trong việc đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh thường xuyên của khối doanh nghiệp tư nhân" - ông Thái nêu rõ.

Bên cạnh vấn đề lãi suất, dưới góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Thân - Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME) cho rằng, vấn đề then chốt là tốc độ giải ngân và sự tin tưởng của ngân hàng. Nếu ngân hàng triển khai cho vay dàn rộng cho nhiều đối tượng nhỏ, rủi ro hệ thống thực chất còn thấp hơn so với việc tập trung vốn quá lớn vào một vài khách hàng lớn.

"Cần thúc đẩy hình thức cho vay tín chấp và rút ngắn quy trình phê duyệt. Nếu không tiếp cận được nguồn vốn ngân hàng một cách nhanh chóng, doanh nghiệp buộc phải tìm đến tín dụng đen với chi phí rất cao, dẫn đến nguy cơ phá sản" - ông Thân đề nghị.

Nợ xấu chiếm tới 20% chi phí, tìm cách xử lý để kéo giảm lãi suất

Để hiện thực hóa mục tiêu giảm lãi suất cho vay và giảm gánh nặng chi phí tài chính cho doanh nghiệp, Chủ tịch Hội đồng quản trị MB cho rằng, cần kiểm soát chặt chẽ 3 yếu tố chính.

Thứ nhất, chi phí quản lý của các ngân hàng. Hiện nay, tỷ lệ chi phí quản lý trên tổng doanh thu (CIR) của những ngân hàng quản trị tốt chỉ ở mức khoảng 25%, trong khi có những đơn vị lên tới 50%. Đây chính là dư địa để tối ưu hóa hoạt động.

Thứ hai, chi phí vốn đầu vào, cụ thể là lãi suất huy động tiền gửi tiết kiệm. Yếu tố này phụ thuộc trực tiếp vào tính thanh khoản và khả năng luân chuyển vốn thông thoáng trong nền kinh tế. Khi dòng vốn được lưu thông thuận lợi, chi phí đầu vào của ngân hàng sẽ giảm xuống.

Thứ ba, kiểm soát chi phí rủi ro nợ xấu. Chi phí dự phòng rủi ro nợ xấu hiện chiếm khoảng 18 - 20% trong cơ cấu chi phí của ngành ngân hàng.

"Tại các quốc gia quản trị tốt vấn đề này, họ tập trung vào hai khía cạnh: nâng cao năng lực quản trị rủi ro của ngân hàng và tăng cường ý thức tuân thủ kỷ luật tài chính của người đi vay. Nếu đảm bảo được sự cân bằng quyền lợi và trách nhiệm giữa bên vay và bên cho vay trong việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ, chi phí rủi ro sẽ giảm, từ đó, có điều kiện kéo lãi suất cho vay xuống mức thấp hơn" - ông Lưu Trung Thái nêu rõ.

Big 4 dự kiến bơm thêm 1 triệu tỷ đồng, giữ ổn định lãi suất vẫn là thách thức
Các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh tư liệu.

Để hệ thống ngân hàng phát huy hơn nữa vai trò dẫn dắt và hỗ trợ các động lực tăng trưởng, thay mặt các ngân hàng thương mại nhà nước, Tổng Giám đốc BIDV cũng cho rằng, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa để duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời phân bổ hạn mức tín dụng phù hợp để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao.

Về cơ chế xử lý nợ xấu, lãnh đạo BIDV đề xuất Chính phủ cho phép bán nợ xấu theo giá thị trường (có thể thấp hơn giá gốc của khoản nợ) nhưng vẫn thực hiện đảm bảo đúng quy trình, thủ tục công khai, minh bạch để giải phóng nguồn lực hiện nay đang bị ách tắc do nợ xấu.

Ngoài ra, cần nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước theo hướng bền vững, linh hoạt, cho phép giữ lại lợi nhuận để tăng vốn. Đồng thời, thúc đẩy các chương trình tín dụng trọng điểm trong hạ tầng, năng lượng, chuyển đổi số, đi kèm cơ chế chia sẻ rủi ro. Phát triển thị trường vốn, trái phiếu doanh nghiệp để giảm áp lực vốn trung dài hạn cho ngân hàng. Bên cạnh đó, đẩy mạnh hạ tầng số, dữ liệu quốc gia, tăng kết nối liên ngành và hoàn thiện khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới...

"Mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số là thách thức lớn, nhưng hoàn toàn khả thi với sự quyết tâm của Chính phủ, sự hưởng ứng và đồng hành của cộng đồng doanh nghiệp cũng như hệ thống tài chính ngân hàng" - lãnh đạo BIDV bày tỏ./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

Tỷ giá USD hôm nay (13/5): USD tự do giảm nhẹ, DXY bật lên khi lạm phát Mỹ vượt dự báo

(TBTCO) - Sáng ngày 13/5, tỷ giá trung tâm được Ngân hàng Nhà nước giữ ở mức 25.123 đồng sau hai phiên tăng liên tiếp, trong khi USD tự do giảm 20 đồng còn 26.330 - 26.360 VND/USD. DXY phục hồi ở mức 98,33 điểm khi lạm phát Mỹ tháng 4 cao hơn dự báo, cùng lúc, thỏa thuận ngừng bắn giữa Mỹ và Iran có nguy cơ trên bờ vực sụp đổ.
Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

Giá vàng hôm nay ngày 13/5: Giá vàng trong nước quay đầu giảm

(TBTCO) - Giá vàng miếng trong nước tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên vùng 162,5 - 165,5 triệu đồng/lượng. Trong khi đó, vàng thế giới tiếp tục biến động trước dữ liệu lạm phát của Mỹ.
Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Ngành Thuế và Công an phối hợp xử lý nhiều vụ chuyển giá, trốn thuế, ngăn chặn thất thu ngân sách

Giai đoạn 2022 - 2025, cơ quan Thuế đã tiếp nhận 22.235 đề nghị phối hợp từ cơ quan Công an, qua đó, góp phần phát hiện nhiều vụ trốn thuế, chuyển giá quy mô lớn và truy thu, truy hoàn, xử phạt hàng nghìn tỷ đồng. Theo Ban Kiểm tra thuế, việc tăng cường phối hợp giữa hai ngành là yếu tố then chốt nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý, kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm, hạn chế thất thu ngân sách.
SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

SHB lãi trước thuế 4.656 tỷ đồng quý I, thu nhập dịch vụ tăng mạnh, tiếp tục tăng cường nền tảng vốn

(TBTCO) - Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) công bố kết quả kinh doanh quý I/2026 với nhiều chỉ tiêu tăng trưởng tích cực. Trong đó, lợi nhuận trước thuế đạt 4.656 tỷ đồng, tăng gần 7% so với cùng kỳ và hoàn thành 26% kế hoạch năm.
Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

Nợ xấu có khả năng mất vốn áp sát 170.000 tỷ đồng, nhiều ngân hàng vẫn “lội ngược dòng” kéo giảm

(TBTCO) - Cuối quý I/2026, nợ xấu nhóm 5 tại 27 ngân hàng niêm yết tăng 12,7% cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng gần 19.000 tỷ đồng, dù vậy, có 12/27 nhà băng ghi nhận xu hướng “lội ngược dòng”. Áp lực vẫn rất lớn khi quy mô nợ nhóm 5 lên tới 168.543 tỷ đồng, chiếm 57,7% tổng nợ xấu, thậm chí có ngân hàng ghi nhận 95% nợ xấu thuộc nhóm có khả năng mất vốn.
Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

Tỷ giá USD hôm nay (12/5): USD tự do giảm mạnh, DXY nhích lên trước thềm cuộc gặp lãnh đạo Mỹ - Trung

(TBTCO) - Sáng ngày 12/5, tỷ giá trung tâm tiếp tục tăng 5 đồng, lên 25.123 đồng, trong khi USD tự do giảm mạnh về quanh 26.350 - 26.380 VND/USD. Chỉ số DXY nhích lên 98,02 điểm khi nhà đầu tư lo ngại căng thẳng Trung Đông kéo dài. Thị trường dõi theo cuộc gặp giữa Tổng thống Trump và Chủ tịch Tập Cận Bình tại Bắc Kinh từ ngày 13 - 15/5, liên quan nhiều vấn đề chiến lược, trong đó có chiến sự tại Iran.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 14/05/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18551 18828 19403
CAD 18700 18978 19593
CHF 33044 33430 34065
CNY 0 3840 3931
EUR 30211 30485 31509
GBP 34813 35206 36136
HKD 0 3234 3436
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15313 15898
SGD 20161 20444 20971
THB 729 793 846
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26379
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,129 26,129 26,379
USD(1-2-5) 25,084 - -
USD(10-20) 25,084 - -
EUR 30,437 30,461 31,754
JPY 162.88 163.17 172.16
GBP 35,110 35,205 36,237
AUD 18,761 18,829 19,443
CAD 18,916 18,977 19,578
CHF 33,401 33,505 34,316
SGD 20,328 20,391 21,088
CNY - 3,814 3,940
HKD 3,306 3,316 3,437
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.57
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,792 2,876
DKK - 4,074 4,196
NOK - 2,821 2,911
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,284.16 - 7,058.83
TWD 756.46 - 911.22
SAR - 6,919.14 7,251.11
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,119 26,139 26,379
EUR 30,336 30,458 31,641
GBP 35,008 35,149 36,159
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,154 33,287 34,228
JPY 163.02 163.67 171.09
AUD 18,697 18,772 19,364
SGD 20,344 20,426 21,011
THB 793 796 831
CAD 18,876 18,952 19,526
NZD 15,431 15,967
KRW 16.86 18.51
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26379
AUD 18729 18829 19752
CAD 18880 18980 19994
CHF 33286 33316 34894
CNY 3820.1 3845.1 3980.2
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30389 30419 32144
GBP 35108 35158 36911
HKD 0 3355 0
JPY 163.39 163.89 174.43
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15417 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20317 20447 21180
THB 0 759 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,176 26,226 26,379
USD20 26,176 26,226 26,379
USD1 26,176 26,226 26,379
AUD 18,761 18,861 19,969
EUR 30,559 30,559 31,968
CAD 18,817 18,917 20,223
SGD 20,403 20,553 21,520
JPY 163.96 165.46 170.02
GBP 35,036 35,386 36,248
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 794 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 14/05/2026 08:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80