Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
aa
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn Thanh tra phát hiện loạt vi phạm tại Bảo Tín Minh Châu, hạch toán sai để "né thuế"

Trong nước “giữ giá” kéo giãn chênh lệch

Phiên chiều ngày 26/3, giá vàng thế giới suy giảm, rời khỏi ngưỡng 4.500 USD/ounce. Tính đến 17h ngày 26/3 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay lùi về 4.448 USD/ounce, giảm trên 138 USD/ounce. So với mức cao nhất từng chinh phục 5.595,46 USD/ounce được thiết lập ngày 29/1, giá vàng thế giới giảm tới 20%, tức giảm gần 1.150 USD/ounce.

Tại thị trường trong nước, giá vàng SJC phiên chiều ngày 26/3 ghi nhận xu hướng giảm đồng loạt ở các thương hiệu. Trong đó, SJC, DOJI và PNJ cùng niêm yết ở mức 168,5 - 171,5 triệu đồng/lượng; giảm 2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều. Phú Quý SJC giao dịch ở 168 - 171,5 triệu đồng/lượng, giảm 2,5 triệu đồng/lượng chiều mua và 2 triệu đồng/lượng chiều bán.

Giá vàng thế giới quy đổi (chưa tính thuế, phí) khoảng 140 triệu đồng/lượng. Như vậy, chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới vẫn giãn rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng.

Tại Bảo Tín Mạnh Hải, giá vàng SJC giảm mạnh hơn, xuống 168 - 171 triệu đồng/lượng, giảm 2,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.

Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng miếng SJC ở mức 168,4 - 171,5 triệu đồng/lượng, giảm mạnh nhất thị trường với 3,6 triệu đồng/lượng chiều mua và 3,5 triệu đồng/lượng chiều bán sau khi mở cửa trở lại.

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Trước đó, chiều 25/3, một số cửa hàng của doanh nghiệp này đã tạm dừng giao dịch để phối hợp với cơ quan chức năng trong quá trình xác minh, làm rõ một số thông tin. Lực lượng chức năng đã vận chuyển nhiều thùng tài liệu được niêm phong lên các ô tô chờ sẵn.

So với mức giá đỉnh lịch sử bán ra 190,92 triệu đồng/lượng ghi nhận ngày 2/3, giá vàng trong nước giảm gần 19,5 triệu đồng/lượng, tương ứng giảm hơn 10%, thấp hơn đáng kể mức lao dốc 20% của giá vàng quốc tế.

Chung xu thế với vàng miếng, giá vàng nhẫn chiều nay cũng được điều chỉnh giảm mạnh. Nhẫn tròn trơn Bảo Tín Minh Châu bán ra ở mức 168 - 171 triệu đồng/lượng, giảm tới 4,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều.

Nhiều yếu tố lấn át vai trò trú ẩn của vàng

Giới phân tích cho rằng, diễn biến chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), các dữ liệu lạm phát sắp công bố cùng tình hình căng thẳng tại Trung Đông sẽ là những yếu tố then chốt chi phối xu hướng giá vàng trong thời gian tới.

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh. Ảnh minh họa.

Theo các chuyên gia hàng hóa của ING Bank N.V, trong ngắn hạn, giá vàng sẽ biến động mạnh theo ba yếu tố chính, đó là kỳ vọng lãi suất của Fed, diễn biến tỷ giá và tình hình địa chính trị. Cùng với đó, rủi ro hiện vẫn ở mức cao khi Iran kiểm soát eo biển Hormuz, trong khi Israel tiếp tục các hoạt động nhằm vào các mục tiêu của Iran.

Ngoài ra, ING cũng ghi nhận những dấu hiệu ban đầu cho thấy một số ngân hàng trung ương, đặc biệt ở các quốc gia chịu áp lực chi phí nhập khẩu năng lượng tăng cao có thể sử dụng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tệ. Đơn cử, ngân hàng trung ương Thổ Nhĩ Kỳ đang chuẩn bị các biện pháp nhằm hạn chế biến động của đồng Lira, trong bối cảnh xung đột leo thang.

Còn theo bà Suki Cooper - Trưởng bộ phận Nghiên cứu Hàng hóa Toàn cầu tại Ngân hàng Standard Chartered, một bộ phận lớn nhà đầu tư cá nhân - lực mua chính đẩy giá vàng lên đỉnh vào tháng 1/2026, hiện đang chịu thua lỗ. Điều này có thể khiến họ bán ra để cắt lỗ, từ đó tạo thêm áp lực giảm giá vàng trong ngắn hạn. Theo phân tích dòng vốn ETF vàng, có khoảng 83 tấn vàng đang ở trạng thái thua lỗ khi giá quanh 4.500 USD/ounce; nếu giá giảm về 4.000 USD/ounce, lượng vàng “lỗ” có thể tăng lên tới 268 tấn.

Thanh khoản cao khiến vàng bị bán ra khi thị trường biến động

"Mặc dù vàng trong lịch sử đã thể hiện mức độ ổn định cao và thường là một trong những nhóm tài sản phục hồi sớm sau các giai đoạn căng thẳng của thị trường, nhưng vàng không hoàn toàn tránh khỏi các biến động trong ngắn hạn. Trong các đợt điều chỉnh mạnh, nhà đầu tư có thể bán bớt vàng nhờ tính thanh khoản cao của tài sản này, nhằm đáp ứng các yêu cầu ký quỹ hoặc gia tăng lượng tiền mặt nắm giữ, qua đó, khiến giá vàng tạm thời suy yếu dù vẫn giữ vai trò trú ẩn an toàn".

Ông Shaokai Fan - Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại Hội đồng Vàng thế giới (WGC).

Trước diễn biến trái ngược khi giá vàng đã trải qua tuần giảm mạnh nhất trong vòng 6 năm, bất chấp một cuộc xung đột lớn tại Trung Đông, trao đổi với báo giới, ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại Hội đồng Vàng thế giới (WGC) cho rằng, những kỳ vọng về lãi suất đang cho thấy mức độ chi phối đối với giá vàng lớn hơn so với dự kiến ban đầu.

Quyết định của Fed trong tuần trước về việc duy trì lập trường chính sách “lãi suất cao trong thời gian dài” đã củng cố sức mạnh của đồng USD và đẩy lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng lên, qua đó, tạo ra áp lực đáng kể lên giá vàng.

"Lạm phát do giá năng lượng tăng cao, xuất phát từ xung đột liên quan đến Iran, cũng góp phần vào diễn biến này. Yếu tố này làm giảm khả năng cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn và tiếp tục duy trì lợi suất thực ở mức cao - vốn được xem là một trở ngại lớn đối với các tài sản không sinh lợi suất như vàng" - ông Shaokai Fan nhấn mạnh.

Đáng chú ý, theo nhận định của chuyên gia WGC, trong bối cảnh hiện tại, căng thẳng địa chính trị kéo dài cùng với giá năng lượng gia tăng có xu hướng thúc đẩy dòng vốn chảy vào các tài sản định giá bằng đồng USD, từ đó, phần nào làm suy yếu vai trò trú ẩn an toàn truyền thống của vàng.

Ở góc độ nhà đầu tư tổ chức, theo thống kê từ WGC, đến tháng 2/2026, các quỹ ETF vàng toàn cầu đã ghi nhận 9 tháng liên tiếp hút ròng, đưa tổng tài sản quản lý (AUM) lên mức kỷ lục 701 tỷ USD. Bắc Mỹ tiếp tục là khu vực dẫn dắt dòng tiền, nhờ nhu cầu trú ẩn an toàn, chi phí cơ hội giảm khi đồng USD suy yếu giai đoạn đầu năm, cùng với những bất ổn kéo dài về thương mại và chính sách.

Ngược lại, châu Âu là khu vực duy nhất ghi nhận dòng vốn rút ròng trong tháng 2, chủ yếu do hoạt động rút vốn mạnh trong tuần đầu tiên sau đợt bán tháo kim loại quý cuối tháng 1, tập trung ở các quỹ niêm yết tại Anh. Tuy vậy, xu hướng này nhiều khả năng chỉ mang tính ngắn hạn, chưa phản ánh một sự đảo chiều mang tính cấu trúc trong dài hạn.

"Trong tương lai, chúng tôi kỳ vọng nhu cầu đầu tư sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao, được thúc đẩy bởi bối cảnh địa chính trị khó lường, triển vọng tăng trưởng thấp hơn và các chính sách tiền tệ mang tính hỗ trợ" - ông Shaokai Fan kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80