Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
aa
Bán tháo vàng và bạc tăng mạnh khi nỗi lo lạm phát bao trùm thị trường toàn cầu Giá vàng hôm nay ngày 26/3: Giá vàng tiếp tục tăng tại các thương hiệu lớn Thanh tra phát hiện loạt vi phạm tại Bảo Tín Minh Châu, hạch toán sai để "né thuế"

Trong nước “giữ giá” kéo giãn chênh lệch

Phiên chiều ngày 26/3, giá vàng thế giới suy giảm, rời khỏi ngưỡng 4.500 USD/ounce. Tính đến 17h ngày 26/3 (giờ Việt Nam), giá vàng giao ngay lùi về 4.448 USD/ounce, giảm trên 138 USD/ounce. So với mức cao nhất từng chinh phục 5.595,46 USD/ounce được thiết lập ngày 29/1, giá vàng thế giới giảm tới 20%, tức giảm gần 1.150 USD/ounce.

Tại thị trường trong nước, giá vàng SJC phiên chiều ngày 26/3 ghi nhận xu hướng giảm đồng loạt ở các thương hiệu. Trong đó, SJC, DOJI và PNJ cùng niêm yết ở mức 168,5 - 171,5 triệu đồng/lượng; giảm 2 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều. Phú Quý SJC giao dịch ở 168 - 171,5 triệu đồng/lượng, giảm 2,5 triệu đồng/lượng chiều mua và 2 triệu đồng/lượng chiều bán.

Giá vàng thế giới quy đổi (chưa tính thuế, phí) khoảng 140 triệu đồng/lượng. Như vậy, chênh lệch giá vàng trong nước - thế giới vẫn giãn rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng.

Tại Bảo Tín Mạnh Hải, giá vàng SJC giảm mạnh hơn, xuống 168 - 171 triệu đồng/lượng, giảm 2,5 triệu đồng/lượng ở cả hai chiều.

Trong khi đó, Bảo Tín Minh Châu niêm yết giá vàng miếng SJC ở mức 168,4 - 171,5 triệu đồng/lượng, giảm mạnh nhất thị trường với 3,6 triệu đồng/lượng chiều mua và 3,5 triệu đồng/lượng chiều bán sau khi mở cửa trở lại.

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Trước đó, chiều 25/3, một số cửa hàng của doanh nghiệp này đã tạm dừng giao dịch để phối hợp với cơ quan chức năng trong quá trình xác minh, làm rõ một số thông tin. Lực lượng chức năng đã vận chuyển nhiều thùng tài liệu được niêm phong lên các ô tô chờ sẵn.

So với mức giá đỉnh lịch sử bán ra 190,92 triệu đồng/lượng ghi nhận ngày 2/3, giá vàng trong nước giảm gần 19,5 triệu đồng/lượng, tương ứng giảm hơn 10%, thấp hơn đáng kể mức lao dốc 20% của giá vàng quốc tế.

Chung xu thế với vàng miếng, giá vàng nhẫn chiều nay cũng được điều chỉnh giảm mạnh. Nhẫn tròn trơn Bảo Tín Minh Châu bán ra ở mức 168 - 171 triệu đồng/lượng, giảm tới 4,5 triệu đồng/lượng cả hai chiều.

Nhiều yếu tố lấn át vai trò trú ẩn của vàng

Giới phân tích cho rằng, diễn biến chính sách của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), các dữ liệu lạm phát sắp công bố cùng tình hình căng thẳng tại Trung Đông sẽ là những yếu tố then chốt chi phối xu hướng giá vàng trong thời gian tới.

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh. Ảnh minh họa.

Theo các chuyên gia hàng hóa của ING Bank N.V, trong ngắn hạn, giá vàng sẽ biến động mạnh theo ba yếu tố chính, đó là kỳ vọng lãi suất của Fed, diễn biến tỷ giá và tình hình địa chính trị. Cùng với đó, rủi ro hiện vẫn ở mức cao khi Iran kiểm soát eo biển Hormuz, trong khi Israel tiếp tục các hoạt động nhằm vào các mục tiêu của Iran.

Ngoài ra, ING cũng ghi nhận những dấu hiệu ban đầu cho thấy một số ngân hàng trung ương, đặc biệt ở các quốc gia chịu áp lực chi phí nhập khẩu năng lượng tăng cao có thể sử dụng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tệ. Đơn cử, ngân hàng trung ương Thổ Nhĩ Kỳ đang chuẩn bị các biện pháp nhằm hạn chế biến động của đồng Lira, trong bối cảnh xung đột leo thang.

Còn theo bà Suki Cooper - Trưởng bộ phận Nghiên cứu Hàng hóa Toàn cầu tại Ngân hàng Standard Chartered, một bộ phận lớn nhà đầu tư cá nhân - lực mua chính đẩy giá vàng lên đỉnh vào tháng 1/2026, hiện đang chịu thua lỗ. Điều này có thể khiến họ bán ra để cắt lỗ, từ đó tạo thêm áp lực giảm giá vàng trong ngắn hạn. Theo phân tích dòng vốn ETF vàng, có khoảng 83 tấn vàng đang ở trạng thái thua lỗ khi giá quanh 4.500 USD/ounce; nếu giá giảm về 4.000 USD/ounce, lượng vàng “lỗ” có thể tăng lên tới 268 tấn.

Thanh khoản cao khiến vàng bị bán ra khi thị trường biến động

"Mặc dù vàng trong lịch sử đã thể hiện mức độ ổn định cao và thường là một trong những nhóm tài sản phục hồi sớm sau các giai đoạn căng thẳng của thị trường, nhưng vàng không hoàn toàn tránh khỏi các biến động trong ngắn hạn. Trong các đợt điều chỉnh mạnh, nhà đầu tư có thể bán bớt vàng nhờ tính thanh khoản cao của tài sản này, nhằm đáp ứng các yêu cầu ký quỹ hoặc gia tăng lượng tiền mặt nắm giữ, qua đó, khiến giá vàng tạm thời suy yếu dù vẫn giữ vai trò trú ẩn an toàn".

Ông Shaokai Fan - Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại Hội đồng Vàng thế giới (WGC).

Trước diễn biến trái ngược khi giá vàng đã trải qua tuần giảm mạnh nhất trong vòng 6 năm, bất chấp một cuộc xung đột lớn tại Trung Đông, trao đổi với báo giới, ông Shaokai Fan - Giám đốc khu vực châu Á - Thái Bình Dương (không bao gồm Trung Quốc) kiêm Giám đốc Ngân hàng Trung ương toàn cầu tại Hội đồng Vàng thế giới (WGC) cho rằng, những kỳ vọng về lãi suất đang cho thấy mức độ chi phối đối với giá vàng lớn hơn so với dự kiến ban đầu.

Quyết định của Fed trong tuần trước về việc duy trì lập trường chính sách “lãi suất cao trong thời gian dài” đã củng cố sức mạnh của đồng USD và đẩy lợi suất trái phiếu Kho bạc Mỹ tăng lên, qua đó, tạo ra áp lực đáng kể lên giá vàng.

"Lạm phát do giá năng lượng tăng cao, xuất phát từ xung đột liên quan đến Iran, cũng góp phần vào diễn biến này. Yếu tố này làm giảm khả năng cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn và tiếp tục duy trì lợi suất thực ở mức cao - vốn được xem là một trở ngại lớn đối với các tài sản không sinh lợi suất như vàng" - ông Shaokai Fan nhấn mạnh.

Đáng chú ý, theo nhận định của chuyên gia WGC, trong bối cảnh hiện tại, căng thẳng địa chính trị kéo dài cùng với giá năng lượng gia tăng có xu hướng thúc đẩy dòng vốn chảy vào các tài sản định giá bằng đồng USD, từ đó, phần nào làm suy yếu vai trò trú ẩn an toàn truyền thống của vàng.

Ở góc độ nhà đầu tư tổ chức, theo thống kê từ WGC, đến tháng 2/2026, các quỹ ETF vàng toàn cầu đã ghi nhận 9 tháng liên tiếp hút ròng, đưa tổng tài sản quản lý (AUM) lên mức kỷ lục 701 tỷ USD. Bắc Mỹ tiếp tục là khu vực dẫn dắt dòng tiền, nhờ nhu cầu trú ẩn an toàn, chi phí cơ hội giảm khi đồng USD suy yếu giai đoạn đầu năm, cùng với những bất ổn kéo dài về thương mại và chính sách.

Ngược lại, châu Âu là khu vực duy nhất ghi nhận dòng vốn rút ròng trong tháng 2, chủ yếu do hoạt động rút vốn mạnh trong tuần đầu tiên sau đợt bán tháo kim loại quý cuối tháng 1, tập trung ở các quỹ niêm yết tại Anh. Tuy vậy, xu hướng này nhiều khả năng chỉ mang tính ngắn hạn, chưa phản ánh một sự đảo chiều mang tính cấu trúc trong dài hạn.

"Trong tương lai, chúng tôi kỳ vọng nhu cầu đầu tư sẽ tiếp tục duy trì ở mức cao, được thúc đẩy bởi bối cảnh địa chính trị khó lường, triển vọng tăng trưởng thấp hơn và các chính sách tiền tệ mang tính hỗ trợ" - ông Shaokai Fan kỳ vọng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

ADB: Giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tốc độ tăng trưởng 8,18% của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm là rất tích cực, chứng tỏ khả năng phục hồi, tính chống chịu của nền kinh tế và sức mạnh của các động lực tăng trưởng. Chuyên gia của ADB khuyến nghị Việt Nam tiếp tục giữ vững ổn định vĩ mô để duy trì tăng trưởng cao.
Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

Đổi mới diện mạo kênh phân phối, lấy lại đà tăng trưởng bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Ông Trương Minh Cát Nguyên - Giám đốc Công ty cổ phần Tư vấn pháp lý bảo hiểm Tila cho rằng, những doanh nghiệp nhanh chóng thích ứng với tâm lý khách hàng, để đẩy mạnh chuyển dịch sản phẩm và tái cấu trúc kênh phân phối, đặc biệt là bancassurance, sẽ dẫn dắt quá trình phục hồi, tạo động lực để thị trường bảo hiểm nhân thọ sớm tăng trưởng dương vào cuối năm.
Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

Hoàn thiện quy định, tạo thuận lợi khi triển khai bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng

(TBTCO) - Nghị định số 220/2026/NĐ-CP sửa đổi nhiều quy định về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng theo hướng đồng bộ với Luật Xây dựng, bổ sung quy định về mức phí, mức khấu trừ nhiều công trình. Nhiều nội dung được làm rõ, góp phần tăng trách nhiệm, tính tự chủ của doanh nghiệp, chuyển mạnh sang hậu kiểm và tạo thuận lợi cho sự phát triển của thị trường.
PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

PVcomBank sắp chào sàn, lên kế hoạch tăng vốn giữa áp lực về nợ xấu và tín dụng

(TBTCO) - PVcomBank vừa được HNX chấp thuận đăng ký giao dịch 900 triệu cổ phiếu, đồng thời lên kế hoạch tăng vốn thêm 3.000 tỷ đồng sau hơn một thập kỷ giữ nguyên vốn điều lệ. Dù lợi nhuận gần đây khởi sắc, ngân hàng này vẫn đối mặt bài toán xử lý nợ xấu và hàng loạt cảnh báo về nợ xấu, tăng trưởng tín dụng, giới hạn cấp tín dụng và dư nợ bất động sản.
Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

Đặt con người làm trọng tâm, Chubb Life Việt Nam được HR Asia vinh danh với nhiều hạng mục giải thưởng danh giá trong năm 2026

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) vừa được vinh danh tại HR Asia Awards 2026 với nhiều hạng mục giải thưởng gồm: Giải thưởng “Nơi làm việc tốt nhất châu Á” (Best Companies to Work for in Asia), cùng với các hạng mục đặc biệt về “Chuyển đổi Năng lực Nhân sự” (People Transformation) và “Dẫn đầu Công nghệ” (Tech Empowerment).
SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

SHB đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026, chung tay kiến tạo nguồn nhân lực AI cho tương lai đất nước

(TBTCO) - Từ kinh tế đến giáo dục, từ văn hóa, thể thao đến an sinh xã hội, từ chuyển đổi số đến phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, SHB luôn kiên định với triết lý phát triển gắn liền với lợi ích quốc gia và cộng đồng. Đồng hành cùng Vietnam AI Innovation Challenge 2026 là một dấu ấn tiếp theo trên hành trình ấy, thể hiện khát vọng của SHB trong việc cùng Việt Nam kiến tạo nền kinh tế tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bồi đắp nguồn lực để đất nước vững bước trong kỷ nguyên số.
Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

Bảo đảm chi trả lương hưu tại nhà, thông báo sớm trước khi ủy quyền hết hạn

(TBTCO) - Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu tổ chức hỗ trợ chi trả thực hiện chi trả trực tiếp tại nhà đối với người già yếu, không có khả năng đến điểm chi trả để nhận lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội, trợ cấp hằng tháng. Đồng thời, kịp thời thông báo trước khi văn bản ủy quyền hết hiệu lực, bảo đảm chi trả liên tục, đúng quy định và tạo thuận lợi tối đa cho người hưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

Giá vàng hôm nay ngày 16/7: Thế giới giữ trên 4.060 USD/ounce, trong nước quay lại giảm nhẹ

(TBTCO) - Vàng thế giới tăng nhẹ lên 4.064 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước quay lại giảm nhẹ. Ghị nhận vào sáng nay (16/7), bình quân giá giảm khoảng từ 200 - 500 nghìn đồng/lượng đối với cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Hà Nội - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Đà Nẵng - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Miền Tây - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Tây Nguyên - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,500 ▲1000K 146,500 ▲1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
Miếng SJC Nghệ An 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
Miếng SJC Thái Bình 14,450 ▲90K 14,750 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,340 ▲90K 14,690 ▲90K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,880 ▲90K 14,580 ▲90K
Trang sức 99.99 13,890 ▲90K 14,590 ▲90K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,445 ▲9K 14,752 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,445 ▲9K 14,753 ▲90K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 143 ▼1278K 1,465 ▲9K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 143 ▼1278K 1,466 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 ▼1251K 1,445 ▲9K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 ▲891K 143,069 ▲891K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 ▲675K 108,536 ▲675K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 ▼79146K 9,842 ▼87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 ▲549K 88,304 ▲549K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 ▲525K 84,402 ▲525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 ▲376K 60,413 ▲376K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,445 ▲9K 1,475 ▲9K
Cập nhật: 18/07/2026 18:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17818 18092 18679
CAD 18218 18494 19113
CHF 31910 32291 32944
CNY 0 3838 3932
EUR 29444 29665 30746
GBP 34567 34960 35898
HKD 0 3222 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15643
SGD 19810 20092 20674
THB 696 759 814
USD (1,2) 26026 0 0
USD (5,10,20) 26067 0 0
USD (50,100) 26096 26110 26475
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,557 29,581 30,990
JPY 157.47 157.75 167.26
GBP 34,753 34,847 36,053
AUD 18,015 18,080 18,760
CAD 18,368 18,427 19,105
CHF 32,112 32,212 33,157
SGD 19,937 19,999 20,786
CNY - 3,802 3,947
HKD 3,281 3,291 3,429
KRW 16.36 17.06 18.57
THB 745.85 755.06 808.82
NZD 15,010 15,149 15,604
SEK - 2,677 2,771
DKK - 3,954 4,093
NOK - 2,665 2,763
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,011.91 - 6,788.09
TWD 732.76 - 887.63
SAR - 6,873.09 7,239.41
KWD - 83,091 88,403
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,040 26,060 26,440
EUR 29,491 29,609 30,802
GBP 34,757 34,897 35,931
HKD 3,280 3,293 3,410
CHF 31,928 32,056 32,987
JPY 157.56 158.19 166.09
AUD 18,029 18,101 18,698
SGD 19,996 20,076 20,666
THB 762 765 801
CAD 18,372 18,446 19,026
NZD 15,106 15,651
KRW 17.01 18.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26092 26092 26490
AUD 17972 18072 19003
CAD 18386 18486 19502
CHF 32146 32176 33754
CNY 3819.3 3844.3 3979.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29619 29649 31374
GBP 34830 34880 36638
HKD 0 3355 0
JPY 158.41 158.91 169.42
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15128 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19983 20113 20840
THB 0 727 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14360000 14360000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,105 26,155 26,516
USD20 26,105 26,155 26,516
USD1 23,992 26,155 26,516
AUD 17,950 18,064 19,244
EUR 29,350 29,450 31,199
CAD 18,250 18,350 19,751
SGD 20,001 20,150 20,783
JPY 158.24 159.74 166.01
GBP 34,650 34,806 35,967
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,726 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/07/2026 18:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80