Thị trường tiền tệ tuần 6-10.11:

Hoa Kỳ công nhận Việt Nam không thao túng tiền tệ, lãi suất huy động tiếp đà giảm

Chí Tín
(TBTCO) - Tuần qua, sự kiện đáng chú ý thể hiện uy tín của thị trường tiền tệ Việt Nam là việc Bộ Tài chính Hoa Kỳ tiếp tục công nhận Việt Nam không thao túng tiền tệ. Diễn biến cụ thể khác trong nước cho thấy, xu hướng lãi suất huy động giảm cho thấy tín hiệu tích cực cho việc lãi suất cho vay còn có thể tiếp tục giảm thời gian tới.
aa

Việt Nam không thao túng tiền tệ

Trong tuần, Bộ Tài chính Hoa Kỳ đã ban hành Báo cáo về “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mại lớn của Hoa Kỳ” tiếp tục xác định Việt Nam không thao túng tiền tệ, đồng thời đưa ra nhận xét tích cực đối với kết quả điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá của Việt Nam.

3 tiêu chí của Bộ Tài chính Hoa Kỳ để xem xét khả năng thao túng tiền tệ của các đối tác:

- Thặng dư thương mại song phương với Hoa Kỳ
- Thặng dư cán cân vãng lai
- Can thiệp thị trường ngoại tệ một chiều, kéo dài.

Trong thời gian qua, tại các cuộc làm việc song phương với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Bộ Tài chính Hoa Kỳ đánh giá cao công tác điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá của Việt Nam do đã thể hiện sự nghiêm túc của Việt Nam trong việc giải quyết các quan ngại của phía Hoa Kỳ và duy trì được sự ổn định thị trường tài chính, tiền tệ, kinh tế vĩ mô trong bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức.

Tại Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, Hoa Kỳ đánh giá cao những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc tiếp tục hiện đại hóa và tăng cường hơn nữa tính minh bạch của khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ và tỷ giá của Việt Nam, thúc đẩy ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn và lành mạnh của hệ thống ngân hàng.

Hoa Kỳ công nhận Việt Nam không thao túng tiền tệ, lãi suất huy động tiếp đà giảm
Lãi suất huy động tiếp tục giảm gần đây. Ảnh: T.L

Lãi suất đầu vào tiếp tục giảm

Tuần qua ghi nhận chuỗi các động thái giảm lãi suất của nhiều ngân hàng thương mại và đánh dấu làn sóng mới trong giảm lãi suất đầu vào của các ngân hàng. Đây có thể coi là một tín hiệu lạc quan củng cố thêm cho kỳ vọng lãi suất cho vay cũng có thể tiếp tục giảm sâu hơn trong thời gian tới.

Ngân hàng gần đây nhất giảm lãi suất huy động là Vietcombank, khi đã điều chỉnh lãi suất từ ngày 10/11, với lãi suất kỳ hạn 12 tháng xuống chỉ còn 5%/năm. Trên thị trường, lãi suất kỳ hạn 1 năm của các ngân hàng đang phổ biến ở mức khoảng 4,2 đến dưới 6%/năm.

Động thái giảm lãi suất đầu vào của các ngân hàng cũng cho thấy diễn biến thanh khoản của hệ thống ngân hàng vẫn trong trạng thái dồi dào. Một diễn biến khác cũng củng cố cho trạng thái này mặt bằng lãi suất trên thị trường liên ngân hàng vẫn ở mức khá thấp.

Tại thị trường trường tiền tệ liên ngân hàng, lãi suất cho vay qua đêm hiện tại chỉ ở mức 0,83%. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1 tuần là 1,19%, kỳ hạn 2 tuần là 1,42%, kỳ hạn 1 tháng là 1,34%...

Nhấn mạnh vai trò của bảo hiểm tiền gửi

Một trong những sự kiện tiền tệ đáng chú ý tuần qua là Hội thảo của Ngân hàng Nhà nước về bảo hiểm tiền gửi.

Tính đến tháng 10/2023, tổng tài sản của Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam đạt hơn 109 nghìn tỷ đồng tương đương khoảng 4,43 tỷ USD. Đây là một nguồn lực dự phòng để sẵn sàng chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền khi cần thiết và tham gia có hiệu quả vào quá trình cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng thông qua hoạt động hỗ trợ tài chính.

Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam vẫn có dư địa mở rộng khả năng ảnh hưởng

Ông JaeHoon Yoo cũng đánh giá, cơ quan bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hoạt động chuyên nghiệp, có những nhiệm vụ, chế tài rõ ràng từ Chính phủ. Nhưng nếu so sánh với bảo hiểm tiền gửi ở một số nước khác như Mỹ, Hàn Quốc… Bảo hiểm Tiền gửi Việt Nam vẫn còn dư địa để mở rộng khả năng của mình, đảm bảo tính ổn định của thị trường tài chính, toàn bộ thị trường tài chính Việt Nam.

Về kinh nghiệm quốc tế liên quan đến lĩnh vực bảo hiểm tiền gửi, ông Hidenori Mitsui, Chủ tịch Tổng Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Nhật Bản nhận định, một số sự việc đổ vỡ một số ngân hàng trên thế giới xảy ra thời gian vừa qua càng thấy rõ được vai trò của bảo hiểm tiền gửi trong việc phát hiện sớm và can thiệp kịp thời.

Thông qua hoạt động này, trường hợp một ngân hàng đổ vỡ sẽ có thể giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất, đây là cách làm tốt để giải quyết khủng hoảng.

Trong khi đó, TS. JaeHoon Yoo - Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Bảo hiểm Tiền gửi Hàn Quốc lưu ý, để có thể hạn chế tối đa thiệt hại của quỹ thì các tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải chủ động, tích cực, có đủ quyền để có thể bảo vệ các ngân hàng, tránh các tổ chức này gặp khó khăn và sụp đổ. Các tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải hợp tác chặt chẽ với ngân hàng trung ương và cơ quan thanh tra giám sát ngân hàng để giữ sự ổn định của nền tài chính.

Tỷ giá có xu hướng giảm

Tỷ giá diễn biến theo xu hướng giảm trong tuần vừa qua. Cụ thể, tỷ giá trung tâm mở đầu tuần mới ở mức 24.084 VND/USD, sau đó giảm đều qua các phiên và chốt phiên cuối tuần ở 24.002 đồng/USD.

Trong khi đó, tỷ giá tại Vietcombank mở đầu tuần ở mức bán ra là 24.690 đồng/USD, giảm 2 phiên đầu tuần và sau đó giữ ổn định phiên cuối tuần. Hôm thứ sáu cuối tuần, tỷ giá USD bán ra tại Vietcombank là 24.530 đồng/USD, giảm 160 đồng mỗi đô la so với hôm đầu tuần.

Hoa Kỳ công nhận Việt Nam không thao túng tiền tệ, lãi suất huy động tiếp đà giảm
Giá vàng thế giới giảm rời xa ngưỡng 2.000 USD/ounce. Ảnh: T.L

Giá vàng thế giới đuối sức

Giá vàng thế giới tuần qua liên tục giảm điểm và ngày càng rời xa ngưỡng 2.000 USD/ounce. Giá vàng sáng thứ hai đầu tuần giao dịch ở mức 1.991 USD/ounce, nhưng sau đó giảm đều qua các phiên và chỉ nhích tăng trở lại vào sáng hôm thứ sáu cuối tuần và giao dịch ở mức khoảng 1.959 USD/ounce. Tính chung từ đầu đến cuối tuần, giá vàng thế giới đã giảm hơn 30 USD/ounce.

Hiện tại, nhu cầu trú ẩn an toàn của vàng từ căng thẳng địa chính trị cũng đang dần cạn kiệt khiến vàng khó có được mức tăng bền vững trong tuần qua. Trong khi đó, thị trường đang chờ đợi về thái độ của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) về chính sách tiền tệ trong tương lai.

Trong bối cảnh giá vàng thế giới giới giảm, nhưng vàng trong nước vẫn giữ được giá. Giá vàng SJC 9999 mở đầu tuần mới ở mức 69,05 triệu đồng/lượng mua vào và 70,07 triệu đồng/lượng bán ra và kết thúc tuần ở mức 69,1 triệu đồng/lượng mua vào và 70,12 triệu đồng/lượng bán ra. Việc giá vàng trong nước giữ được giá cũng không quá khó hiểu bởi diễn biến lãi suất giảm thường là động thái có lợi hơn cho việc nắm giữ những tài sản không lãi suất, trong đó có vàng./.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

Giá vàng hôm nay ngày 4/4: Giá vàng tăng cả ở phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn

(TBTCO) - Ngày 4/4, giá vàng trong nước hiện đang ghi nhận tăng tại nhiều doanh nghiệp, với cả vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt điều chỉnh tăng, phổ biến quanh 171 - 174,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 2/4: Giá vàng tiếp tục tăng, neo cao quanh vùng 173 - 176 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 2/4: Giá vàng tiếp tục tăng, neo cao quanh vùng 173 - 176 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 2/4 tiếp tục tăng mạnh tại nhiều doanh nghiệp, với mức điều chỉnh phổ biến 1,8 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh ngưỡng 173 - 176 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 1/4: Giá vàng trong nước tiếp tục tăng, tiến sát ngưỡng 175 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 1/4: Giá vàng trong nước tiếp tục tăng, tiến sát ngưỡng 175 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 1/4 tiếp tục tăng tại hầu hết doanh nghiệp kinh doanh lớn, đưa mặt bằng giao dịch vàng miếng lên sát ngưỡng 175 triệu đồng/lượng.
Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

Giá vàng đang trên đà giảm mạnh nhất kể từ năm 2008

(TBTCO) - Giá vàng tăng nhẹ trong phiên giao dịch đầu ngày 31/3, với giá vàng tương lai tại New York tăng 0,7% lên 4.589,30 USD/ounce, nhưng vẫn đang trên đà ghi nhận mức giảm hàng tháng lớn nhất trong gần 17 năm.
Giá vàng hôm nay ngày 31/3: Giá vàng đồng loạt tăng, tiến sát mốc 174 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 31/3: Giá vàng đồng loạt tăng, tiến sát mốc 174 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 31/3 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến quanh 1 triệu đồng/lượng. Vàng miếng và vàng nhẫn hiện giao dịch chủ yếu trong vùng 170,7 - 173,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 30/3: Giá vàng trong nước duy trì quanh ngưỡng 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng sáng ngày 30/3 ghi nhận trạng thái đi ngang khi các thương hiệu lớn đồng loạt giữ giá, với cả vàng miếng và vàng nhẫn duy trì mặt bằng giao dịch quanh 169,8 - 172,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 29/3: Giá vàng chạm ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng ngày 29/3 tiếp tục tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến lên ngưỡng 172,8 triệu đồng/lượng.
"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

"Cầm lái" linh hoạt khi tỷ giá USD tự do chạm 28.000 đồng, lãi suất liên ngân hàng vượt 8%

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 23 - 27/3 cho thấy, tỷ giá USD/VND tăng mạnh đầu tuần rồi hạ nhiệt về cuối tuần, với tỷ giá USD tự do có lúc chạm 28.000 đồng, nối dài đà tăng 5 tuần. Ngân hàng Nhà nước điều hành linh hoạt theo hướng “bơm hút" nhịp nhàng, vừa bán USD kỳ hạn và hút ròng để giảm áp lực tỷ giá; sau đó, nhanh chóng bơm ròng trở lại khi lãi suất liên ngân hàng vượt 8%.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,100 17,450
Kim TT/AVPL 17,110 17,460
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,100 17,450
Nguyên Liệu 99.99 15,650 15,850
Nguyên Liệu 99.9 15,600 15,800
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 16,900
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 16,880
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,400 172,900
Hà Nội - PNJ 169,400 172,900
Đà Nẵng - PNJ 169,400 172,900
Miền Tây - PNJ 169,400 172,900
Tây Nguyên - PNJ 169,400 172,900
Đông Nam Bộ - PNJ 169,400 172,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,100 17,450
Miếng SJC Nghệ An 17,100 17,450
Miếng SJC Thái Bình 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,100 17,450
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,100 17,450
NL 99.90 15,670
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700
Trang sức 99.9 16,640 17,340
Trang sức 99.99 16,650 17,350
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,715 17,452
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,715 17,453
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,713 1,743
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,713 1,744
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,693 1,728
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 164,589 171,089
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 120,863 129,763
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 108,766 117,666
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,669 105,569
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,002 100,902
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,315 72,215
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,715 1,745
Cập nhật: 05/04/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17614 17886 18465
CAD 18352 18628 19245
CHF 32224 32607 33261
CNY 0 3470 3830
EUR 29695 29966 31005
GBP 33935 34325 35279
HKD 0 3229 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14681 15267
SGD 19917 20199 20733
THB 721 784 838
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26362
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,142 26,142 26,362
USD(1-2-5) 25,097 - -
USD(10-20) 25,097 - -
EUR 29,967 29,991 31,233
JPY 161 161.29 169.96
GBP 34,331 34,424 35,403
AUD 17,918 17,983 18,551
CAD 18,623 18,683 19,257
CHF 32,687 32,789 33,540
SGD 20,129 20,192 20,863
CNY - 3,768 3,888
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.17 16.86 18.23
THB 772.39 781.93 832.02
NZD 14,752 14,889 15,243
SEK - 2,754 2,834
DKK - 4,010 4,126
NOK - 2,668 2,745
LAK - 0.92 1.26
MYR 6,127.75 - 6,875.1
TWD 746.55 - 898.82
SAR - 6,919.09 7,243.39
KWD - 83,805 88,618
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,112 26,142 26,362
EUR 29,822 29,942 31,117
GBP 34,228 34,365 35,363
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,391 32,521 33,435
JPY 161.12 161.77 169.03
AUD 17,856 17,928 18,513
SGD 20,136 20,217 20,793
THB 788 791 825
CAD 18,572 18,647 19,208
NZD 14,809 15,336
KRW 16.76 18.38
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26362
AUD 17830 17930 18861
CAD 18565 18665 19676
CHF 32587 32617 34212
CNY 3767.8 3792.8 3928
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29951 29981 31709
GBP 34344 34394 36162
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.55
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14825 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20098 20228 20961
THB 0 752.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17450000
SBJ 16000000 16000000 17450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,140 26,190 26,362
USD20 26,140 26,190 26,362
USD1 26,140 26,190 26,362
AUD 17,867 17,967 19,104
EUR 30,064 30,064 31,530
CAD 18,500 18,600 19,937
SGD 20,162 20,312 20,902
JPY 161.85 163.35 168.17
GBP 34,211 34,561 35,498
XAU 17,098,000 0 17,452,000
CNY 0 3,674 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/04/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80