Khen thưởng nhà trường và giáo viên vận động tặng thẻ bảo hiểm y tế cho học sinh khó khăn

Hà My
(TBTCO) - Ngày 20/11, tại TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Đắk Lắk, đại diện lãnh đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh đã tới chúc mừng các thầy cô giáo trường THCS Nguyễn Văn Luông (TP. Hồ Chí Minh) và trưởng Tiểu học Tô Hiệu (Đắk Lắk) nhân Ngày Nhà giáo Việt Nam. Đồng thời trao tặng giấy khen tới các cá nhân, tập thể nhà trường đã có sáng kiến trong công tác vận động tổ chức, cá nhân tặng thẻ bảo hiểm y tế cho các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn.
aa

Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh đã trao giấy khen cho tập thể và cá nhân có thành tích xuất sắc trong công tác bảo hiểm y tế học sinh cho trường THCS Nguyễn Văn Luông (Quận 6), thầy giáo Đinh Phú Cường - Hiệu trưởng nhà trường.

Nhân dịp này, Bảo hiểm xã hội TP. Hồ Chí Minh cũng đã trao tặng 89 suất học bổng cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn của nhà trường với tổng số tiền là 44,5 triệu đồng từ Quỹ hoạt động tình nghĩa do công chức, viên chức, người lao động của đơn vị ủng hộ 1 ngày tiền lương.

Khen thưởng nhà trường và giáo viên vận động tặng thẻ bảo hiểm y tế cho học sinh khó khăn
Đại diện BHXH TP. Hồ Chí Minh trao tặng giấy khen tới tập thể Trường THCS Nguyễn Văn Luông, thầy giáo Đinh Phú Cường. Ảnh: BHXHVN

Trước đó, thầy Đinh Phú Cường - Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Văn Luông đã gửi thư ngỏ đến các nhà hảo tâm và phụ huynh học sinh, trong đó có đoạn viết: “Năm nay, do tình hình kinh tế có nhiều khó khăn sau đại dịch, qua thư ngỏ này, nhà trường kính mong quý doanh nghiệp, quý cha mẹ học sinh thay vì tặng hoa, bánh kem thì xin đổi qua hình thức bằng cách tặng thẻ bảo hiểm y tế học sinh để nhà trường phát cho những học sinh khó khăn của trường”.

Hưởng ứng thư ngỏ này, các cơ quan, chính quyền của quận 6, TP. Hồ Chí Minh, phụ huynh học sinh và nhà hảo tâm đã trao tặng gần 230 thẻ bảo hiểm y tế học sinh tới nhà trường. Đây vừa là món quà tri ân đối với các thầy cô nhân ngày Nhà giáo Việt Nam vừa là món quà nhân văn, có ý nghĩa thiết thực, giúp gia đình và các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn được chăm sóc sức khỏe tốt hơn, nhất là sẽ được giảm phần lớn chi phí trong việc khám, điều trị bệnh.

Tại Đắk Lắk, đại diện lãnh đạo Bảo hiểm xã hội tỉnh cũng đã tổ chức trao giấy khen tới tập thể Trường Tiểu học Tô Hiệu (TP. Buôn Ma Thuột) và cô giáo Đoàn Thị Tuyết Yến - Hiệu trưởng nhà trường đã có thành tích xuất sắc trong tổ chức thực hiện công tác bảo hiểm y tế học sinh năm học 2023 - 2024.

Khen thưởng nhà trường và giáo viên vận động tặng thẻ bảo hiểm y tế cho học sinh khó khăn
Đại diện BHXH tỉnh Đắk Lắk trao tặng giấy khen cho tập thể Trường Tiểu học Tô Hiệu và cô giáo Đoàn Thị Tuyết Yến. Ảnh: BHXHVN

Vào ngày 15/11, Trường Tiểu học Tô Hiệu cũng đã có thư ngỏ gửi đến các cơ quan, doanh nghiệp, cha mẹ học sinh và các mạnh thường quân về việc thay vì tặng hoa nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, nhà trường xin được đổi bằng hình thức tặng thẻ bảo hiểm y tế học sinh để giúp các em học sinh có hoàn cảnh khó khăn của nhà trường chưa tham gia bảo hiểm y tế.

Cô Đoàn Thị Tuyết Yến - Hiệu trưởng Trường Tiểu học Tô Hiệu cho biết, sau khi nhà trường viết thư ngỏ vận động mua thẻ bảo hiểm y tế cho 55 học sinh, đến nay, phụ huynh, nhà tài trợ đã ủng hộ số tiền mua được 43 thẻ bảo hiểm y tế. Cùng với số tiền ủng hộ đóng góp của công chức, viên chức Bảo hiểm xã hội tỉnh Đắk Lắk, nhà trường sẽ tiếp tục mua thêm thẻ bảo hiểm y tế cho các em còn lại.

BHXH Việt Nam cho biết, sáng kiến “Xin không nhận hoa ngày 20/11, mà thay bằng thẻ bảo hiểm y tế học sinh” của Trường THCS Nguyễn Văn Luông và Tiểu học Tô Hiệu có ý nghĩa thiết thực và tiếp tục được lan tỏa, nhân rộng ra các trường học khác trong cả nước.
Hà My

Đọc thêm

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

Mở thêm dư địa cho vay trung dài hạn, ba trụ cột giữ nhịp an toàn cho ngân hàng

(TBTCO) - Thông tư số 25/2026/TT-NHNN nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn từ 30% lên 40% từ ngày 1/7, tạo thêm dư địa tín dụng ước 1,3 - 1,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, dư địa lớn hơn không đồng nghĩa hạ chuẩn an toàn, các ngân hàng cần đồng thời củng cố ba trụ cột cốt lõi, để vừa thúc đẩy tăng trưởng vừa bảo đảm an toàn hệ thống.
Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

Đại hội đồng cổ đông ABIC: Lực đẩy bancassurance đưa doanh thu bảo hiểm lên 3.100 tỷ đồng, dự kiến chào bán cổ phiếu riêng lẻ

(TBTCO) - Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026 của ABIC đã thông qua kế hoạch doanh thu bảo hiểm 3.100 tỷ đồng, tăng 11%; lợi nhuận trước thuế tối thiểu 350 tỷ đồng và xác định bancassurance qua Agribank là động lực tăng trưởng chủ lực. ABIC nhiều khả năng sẽ chia cổ tức 15% bằng tiền mặt và dự kiến phát hành cổ phiếu riêng lẻ để đáp ứng điều kiện về cổ đông theo quy định.
Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

Life Care 2.0: Chỉ từ 1.000 đồng/ngày, 10 phút để tham gia, bảo vệ tới 1,3 tỷ đồng trước 4 bệnh lý nghiêm trọng

(TBTCO) - Ngày 25/6/2026, Bảo Việt Nhân thọ chính thức mở bán sản phẩm bảo hiểm mới Life Care 2.0. Đây là sản phẩm bảo vệ trước 4 bệnh lý nghiêm trọng với quyền lợi tới 1,3 tỷ đồng. Thủ tục đơn giản, có thể tham gia nhanh chóng trong vòng 10 phút.
Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 25/6: Giá vàng trong nước tiếp tục giảm tới 1 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce sau khi giảm hơn 100 USD/ounce so với phiên trước, kéo chênh lệch với giá vàng trong nước lên 20 triệu đồng/lượng.
Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

Chính sách "mở đường", ngân hàng mở lối tiếp sức doanh nghiệp nhỏ và vừa

(TBTCO) - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm số đông, nhưng dư nợ dành cho khu vực này mới chiếm khoảng 20% tín dụng toàn nền kinh tế. Bên cạnh các chính sách mới mở đường, việc gỡ "nút thắt" tài sản bảo đảm, đa dạng hóa giải pháp tín dụng của ngân hàng, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao tính minh bạch mở rộng cơ hội tiếp cận vốn.
“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

“Bước lùi chiến thuật” hỗ trợ tăng trưởng

(TBTCO) - Việc nâng tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40% được xem là “bước lùi chiến thuật”, giúp ngân hàng mở rộng dư địa cấp vốn, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đổi lại, rủi ro lệch pha kỳ hạn gia tăng, trong khi không gian phát triển các kênh vốn khác thu hẹp và tiềm ẩn nguy cơ che giấu nợ xấu nếu không được giám sát chặt.
Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

Tổng tài sản SeABank tăng hơn 4,6 lần, đóng góp gần 5.300 tỷ đồng ngân sách trong 5 năm

(TBTCO) - Trải qua 32 năm phát triển, Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank, HOSE: SSB) từng bước mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động, qua đó khẳng định vị thế trong hệ thống ngân hàng Việt Nam. Đáng chú ý, trong giai đoạn 2020 - 2025, tổng nộp ngân sách nhà nước của Ngân hàng đạt gần 5.300 tỷ đồng và quy mô tài sản tăng gấp hơn 4,6 lần, phản ánh rõ nét chiến lược phát triển bền vững gắn với hiệu quả, tuân thủ và đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Cho vay trung, dài hạn mở thêm dư địa 1 triệu tỷ đồng, lợi thế thuộc về ngân hàng nào?

Việc nâng tỷ lệ tối đa sử dụng vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40% được kỳ vọng mở thêm khoảng 1 triệu tỷ đồng dư địa tín dụng cho nền kinh tế. VCBS dự báo dư nợ cho vay trung và dài hạn có thể tăng khoảng 23% kể từ đầu năm, nâng tỷ trọng lên 48 - 49%. Tuy nhiên, mức độ hưởng lợi sẽ phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,380 ▲80K 14,680 ▲80K
Kim TT/AVPL 14,380 ▲80K 14,680 ▲80K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,380 ▲80K 14,680 ▲80K
Nguyên Liệu 99.99 13,180 ▲80K 13,380 ▲80K
Nguyên Liệu 99.9 13,130 ▲80K 13,330 ▲80K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,750 ▲50K 14,250 ▲50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,700 ▲50K 14,200 ▲50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,630 ▲50K 14,180 ▲50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Hà Nội - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Miền Tây - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,700 ▲700K 146,700 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,380 ▲130K 14,680 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,380 ▲130K 14,680 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,380 ▲130K 14,680 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,280 ▲80K 14,630 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,280 ▲80K 14,630 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,280 ▲80K 14,630 ▲80K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,820 ▲80K 14,520 ▲80K
Trang sức 99.99 13,830 ▲80K 14,530 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,438 ▲6K 14,682 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,438 ▲6K 14,683 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,437 ▲6K 1,467 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,437 ▲6K 1,468 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,417 ▲6K 1,452 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,762 ▲594K 143,762 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,561 ▲450K 109,061 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,396 ▲408K 98,896 ▲408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,231 ▲366K 88,731 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 7,531 ▲35K 8,481 ▲35K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,204 ▲250K 60,704 ▲250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,438 ▲6K 1,468 ▲6K
Cập nhật: 26/06/2026 10:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17560 17832 18408
CAD 17989 18264 18877
CHF 31787 32168 32819
CNY 0 3828 3920
EUR 29248 29469 30544
GBP 33884 34273 35207
HKD 0 3225 3427
JPY 155 160 166
KRW 0 16 18
NZD 0 14493 15083
SGD 19739 20021 20596
THB 702 765 818
USD (1,2) 26050 0 0
USD (5,10,20) 26091 0 0
USD (50,100) 26120 26134 26454
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,134 26,134 26,454
USD(1-2-5) 25,089 - -
USD(10-20) 25,089 - -
EUR 29,436 29,460 30,795
JPY 158.36 158.65 167.83
GBP 34,149 34,241 35,339
AUD 17,847 17,911 18,542
CAD 18,218 18,276 18,901
CHF 32,112 32,212 33,084
SGD 19,899 19,961 20,702
CNY - 3,801 3,938
HKD 3,293 3,303 3,433
KRW 15.68 16.35 17.75
THB 752.23 761.52 813.14
NZD 14,548 14,683 15,082
SEK - 2,659 2,747
DKK - 3,938 4,067
NOK - 2,623 2,710
LAK - 0.9 1.25
MYR 6,004.73 - 6,764.28
TWD 746.19 - 901.83
SAR - 6,897.73 7,248
KWD - 83,270 88,388
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,114 26,134 26,454
EUR 29,366 29,484 30,664
GBP 34,119 34,256 35,266
HKD 3,289 3,302 3,418
CHF 31,940 32,068 32,980
JPY 158.58 159.22 167
AUD 17,818 17,890 18,476
SGD 19,954 20,034 20,610
THB 768 771 806
CAD 18,214 18,287 18,848
NZD 14,613 15,142
KRW 16.29 17.90
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26454
AUD 17812 17912 18835
CAD 18189 18289 19304
CHF 32083 32113 33687
CNY 3811 3836 3971.7
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29466 29496 31226
GBP 34232 34282 36034
HKD 0 3355 0
JPY 159.13 159.63 170.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14651 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19915 20045 20772
THB 0 732.3 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14500000 14500000 14900000
SBJ 13000000 13000000 14900000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,101 26,101 26,456
USD20 26,101 26,101 26,456
USD1 26,101 26,101 26,456
AUD 17,845 17,945 19,058
EUR 29,617 29,617 31,023
CAD 18,087 18,187 19,495
SGD 19,991 20,141 20,706
JPY 159.67 161.17 165.74
GBP 34,090 34,440 35,584
XAU 14,318,000 0 14,622,000
CNY 0 3,718 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/06/2026 10:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80