Khuyến khích đổi mới sáng tạo khu vực tư nhân, thúc đà tăng trưởng

Đức Việt
(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên TBTCVN, chuyên gia kinh tế - TS. Nguyễn Minh Phong cho rằng, để đạt mục tiêu tăng trưởng trong năm nay và tạo đà cho những năm tiếp theo, cần tập trung mạnh vào khuyến khích đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân, tiếp tục tăng "cầu" xã hội…, đồng thời, chủ động làm tốt công tác nghiên cứu dự báo tình hình kinh tế.
aa
Khuyến khích đổi mới sáng tạo khu vực tư nhân, thúc đà tăng trưởng
9 tháng cả nước có 183 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động. Ảnh tư liệu

PV: Trong quý III/2024, kinh tế Việt Nam đạt được mức tăng trưởng cao. Ông đánh giá thế nào về tình hình kinh tế 9 tháng qua?

TS. Nguyễn Minh Phong: Theo như kết quả Tổng cục Thống kê mới công bố, tính chung 9 tháng năm 2024, GDP tăng 6,82%, có thể nói đây là kết quả tăng trưởng kinh tế rất ấn tượng, tích cực; chúng ta đang đi theo đúng lộ trình và mục tiêu Quốc hội đặt ra, thậm chí có thể vượt được kế hoạch đề ra từ đầu năm. Đặc biệt, cả 3 khu vực nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ đều tăng trưởng tốt; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch tích cực. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; an ninh năng lượng, an ninh lương thực, cân đối cung cầu lao động được bảo đảm.

Đồng thời, xuất nhập khẩu cũng rất tốt, trong đó, xuất khẩu tiếp tục tăng mạnh, xuất siêu lớn, góp phần bảo đảm cán cân thanh toán. Kim ngạch xuất khẩu tăng 15,4%; nhập khẩu tăng 17,3%; xuất siêu ước đạt 20,8 tỷ USD. Như vậy, tính tổng cán cân thương mại lần đầu tiên Việt Nam xuất siêu thực cả về tổng xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ.

Thu hút FDI tăng trưởng cả về mặt mới cũng như thực hiện, cụ thể, thu hút FDI 9 tháng đạt 24,78 tỷ USD, tăng 11,6%; vốn FDI thực hiện đạt 17,3 tỷ USD, tăng 8,9% và cao nhất trong nhiều năm qua; các lĩnh vực dịch vụ, du lịch phục hồi rất ấn tượng. Số lượt khách quốc tế 9 tháng đạt trên 12,7 triệu, tăng 43%.

Bên cạnh đó, tình hình thu ngân sách tiếp tục được cải thiện rõ nét. Tổng thu ngân sách nhà nước 9 tháng đạt 85,1% dự toán năm, tăng 17,9% so với cùng kỳ, trong khi đã miễn, giảm, gia hạn 116,4 nghìn tỷ đồng thuế, phí, lệ phí, tiền thuê đất; các cân đối vĩ mô khác về cơ bản giữ vững; phát triển doanh nghiệp tiếp tục xu hướng tích cực, trong 9 tháng có 183 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và quay trở lại hoạt động…

Tuy nhiên, vẫn còn những áp lực liên quan tới lạm phát, tận dụng cơ hội của cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là những tác động của thiệt hại sau bão lũ vừa qua, cũng như một số khó khăn kéo dài của thị trường bất động sản và thị trường tài chính. Tôi cho rằng, nhìn chung đây là một bức tranh sáng và khả năng chúng ta đạt được mục tiêu tăng trưởng đề ra cả năm và có thể đạt cao hơn.

PV: Theo Tổng cục Thống kê, giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp 9 tháng năm 2024 ước tăng 8,3% so với cùng kỳ. Đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,7%, đóng góp 2,4% mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế. Theo ông, đây có phải là điểm sáng tích cực trong bối cảnh nền kinh tế còn nhiều khó khăn, thách thức?

Khuyến khích đổi mới sáng tạo khu vực tư nhân, thúc đà tăng trưởng

TS. Nguyễn Minh Phong: Đây là điểm sáng rất tích cực, bởi công nghiệp luôn là ngành chủ lực, giữ vai trò động lực chính của nền kinh tế và là sự vững mạnh của quốc gia. Đã có thời kỳ công nghiệp tăng trưởng rất thấp và gần như mờ đi vai trò này.

Những con số trong 9 tháng qua đã cho thấy, ngành công nghiệp tăng trưởng khá. Trong đó, công nghiệp chế biến, chế tạo quý III năm nay vẫn tiếp nối đà tăng trưởng tích cực từ quý II/2024, tiếp tục đóng vai trò là trụ cột chính của tăng trưởng kinh tế cả nước. Chỉ số sản xuất công nghiệp chế biến, chế tạo quý III/2024 tăng 6% so với quý trước và tăng 11,9% so với cùng kỳ năm trước, là quý có mức tăng trưởng cao nhất trong 6 năm qua, cao hơn cả mức tăng của năm 2019 là năm trước khi có dịch Covid-19. Có thể nói, 9 tháng năm nay đã khẳng định vai trò của ngành công nghiệp càng rõ nét.

PV: Để Việt Nam đạt được mục tiêu tăng trưởng trong năm nay và tạo đà cho năm tiếp theo, cần chú trọng vào những động lực tăng trưởng nào của nền kinh tế trong thời gian tới, thưa ông?

TS. Nguyễn Minh Phong: Các tổ chức quốc tế cũng như Chính phủ đã nhận diện và chỉ rõ những thách thức của nền kinh tế cần vượt qua trong năm 2024. Để đạt được mục tiêu tăng trưởng năm nay và tiếp đà tăng trưởng cho các năm tới, tôi cho rằng, trước mắt nên tập trung mạnh nhất vào khuyến khích sự đổi mới sáng tạo của khu vực tư nhân và nâng cao trách nhiệm của khu vực Nhà nước, đồng thời tạo thuận lợi cho doanh nghiệp nước ngoài, nhất là doanh nghiệp công nghệ cao.

Cùng với đó, tiếp tục giảm bớt các nghĩa vụ tài chính cho doanh nghiệp và cho người dân để tăng tổng cầu xã hội; tiếp tục mở đường để tham gia hội nhập và tận dụng thật tốt các FTA thế hệ mới, cũng như tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu với các lĩnh vực chúng ta đang có lợi thế.

Ngoài ra, tiếp tục theo dõi, đánh giá, dự báo sát tình hình kinh tế thế giới và trong nước để có các ứng phó kịp thời với các rủi ro và tận dụng được cơ hội của xu hướng dịch chuyển đầu tư nước ngoài; có lộ trình điều chỉnh giá các hàng hóa và dịch vụ do Nhà nước quản lý để kiểm soát lạm phát.

Đặc biệt, cần hỗ trợ kịp thời cho các doanh nghiệp gặp khó khăn trong bão, lũ vừa qua, góp phần thúc đẩy doanh nghiệp ổn định phát triển, đóng góp cho tăng trưởng.

PV: Xin cảm ơn ông!

Chính phủ luôn đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân

Theo TS. Nguyễn Minh Phong, từ đầu năm đến nay, Chính phủ và Quốc hội tiếp tục ban hành nhiều chính sách gia hạn, miễn giảm thuế và tiền thuê đất hỗ trợ DN và người dân phục hồi sau dịch Covid-19 và thiên tai, là bão lũ. Những chính sách trên rất cần thiết và đúng đắn, được xã hội, công đồng DN rất hoan nghênh, điều này cho thấy Chính phủ cầu thị và luôn đồng hành cùng DN và người dân.

Đức Việt

Đọc thêm

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước

Kế hoạch triển khai Phong trào thi đua “Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước” đặt mục tiêu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 55 - 58% GDP; Việt Nam có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.
Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

Xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD trong năm 2025

(TBTCO) - Đối với Việt Nam, Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP) đang trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các thị trường RCEP đạt 172,1 tỷ USD, tăng khoảng 30,3% so với năm 2021.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,720 17,020
Kim TT/AVPL 16,730 17,030
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,720 17,020
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,400 16,800
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,350 16,750
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,280 16,730
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 167,000 170,000
Hà Nội - PNJ 167,000 170,000
Đà Nẵng - PNJ 167,000 170,000
Miền Tây - PNJ 167,000 170,000
Tây Nguyên - PNJ 167,000 170,000
Đông Nam Bộ - PNJ 167,000 170,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,720 17,020
Miếng SJC Nghệ An 16,720 17,020
Miếng SJC Thái Bình 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,720 17,020
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,720 17,020
NL 99.90 15,470
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,500
Trang sức 99.9 16,210 16,910
Trang sức 99.99 16,220 16,920
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,672 17,022
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,672 17,023
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 167 170
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 167 1,701
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 165 1,685
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 160,332 166,832
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 117,638 126,538
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 105,841 114,741
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,045 102,945
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,495 98,395
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,522 70,422
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,672 1,702
Cập nhật: 25/03/2026 05:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18676
CAD 18644 18922 19541
CHF 32844 33229 33866
CNY 0 3470 3830
EUR 29918 30191 31217
GBP 34509 34901 35831
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15045 15631
SGD 20061 20343 20873
THB 724 788 841
USD (1,2) 26093 0 0
USD (5,10,20) 26135 0 0
USD (50,100) 26163 26183 26364
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,144 26,144 26,364
USD(1-2-5) 25,099 - -
USD(10-20) 25,099 - -
EUR 29,980 30,004 31,243
JPY 161.42 161.71 170.41
GBP 34,658 34,752 35,736
AUD 18,030 18,095 18,667
CAD 18,779 18,839 19,416
CHF 32,966 33,069 33,841
SGD 20,160 20,223 20,896
CNY - 3,762 3,862
HKD 3,292 3,302 3,420
KRW 16.23 16.93 18.31
THB 769.98 779.49 829.45
NZD 15,022 15,161 15,519
SEK - 2,762 2,842
DKK - 4,013 4,129
NOK - 2,643 2,720
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,233.5 - 6,992.36
TWD 743.04 - 894.62
SAR - 6,894.8 7,218.37
KWD - 83,571 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,094 26,124 26,364
EUR 29,938 30,058 31,235
GBP 34,635 34,774 35,778
HKD 3,291 3,304 3,419
CHF 32,809 32,941 33,864
JPY 162.10 162.75 170.07
AUD 18,038 18,110 18,698
SGD 20,243 20,324 20,906
THB 787 790 825
CAD 18,800 18,876 19,448
NZD 15,131 15,662
KRW 16.84 18.48
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26216 26216 26364
AUD 18023 18123 19048
CAD 18834 18934 19949
CHF 33108 33138 34721
CNY 3766.3 3791.3 3926.5
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30116 30146 31872
GBP 34833 34883 36636
HKD 0 3355 0
JPY 162.66 163.16 173.71
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15162 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20228 20358 21091
THB 0 754.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16720000 16720000 17020000
SBJ 14000000 14000000 17020000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,184 26,234 26,364
USD20 26,184 26,234 26,364
USD1 26,184 26,234 26,364
AUD 18,061 18,161 19,270
EUR 30,221 30,221 31,640
CAD 18,757 18,857 20,170
SGD 20,297 20,447 21,350
JPY 162.99 164.49 169.1
GBP 34,704 35,054 35,928
XAU 16,488,000 0 16,792,000
CNY 0 3,673 0
THB 0 787 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 05:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80