Kiên Giang: Kinh tế năm 2024 tạo động lực cho năm 2025 “bứt phá”

Hoàng Dương
(TBTCO) - Trước kết quả kinh tế “ấn tượng” của năm 2024, năm 2025 tỉnh Kiên Giang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 7,5% trở lên, nỗ lực đạt trên 10%; tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đầu người 90 triệu đồng; giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 2,5% trở lên; công nghiệp tăng 10% so với năm 2024.
aa

Đạt và vượt 24/24 chỉ tiêu

Năm 2024, tình hình kinh tế- xã hội của tỉnh Kiên Giang có bước phát triển khá, tăng trưởng kinh tế đạt 7,5% so với cùng kỳ. Đặc biệt, tỉnh Kiên Giang thực hiện đạt và vượt toàn bộ 24/24 chỉ tiêu được HĐND giao, trong đó lĩnh vực du lịch đạt kết quả ấn tượng khi tổng lượt khách du lịch tăng 15,6%, khách quốc tế tăng hơn 70%, tổng doanh thu tăng 43,8% so với cùng kỳ.

Cụ thể, theo báo cáo của Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang, năm 2024, uớc tính tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) (giá so sánh 2010) đạt 78.259,75 tỷ đồng, tăng 7,5% so với năm trước, vượt 0,8% kế hoạch. GRDP bình quân đầu người ước đạt 81,84 triệu đồng, vượt 0,18% kế hoạch.

Về cơ cấu kinh tế (cơ cấu GRDP theo giá hiện hành): khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 36,86%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 20,13%; khu vực dịch vụ chiếm 37,84%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 5,17% (cơ cấu tương ứng năm 2023 là: 37,09%; 20,06%; 37,50%; 5,35%).

Kiên Giang: Kinh tế năm 2024 tạo động lực cho năm 2025 “bứt  phá”
Năm 2024, tỉnh Kiên Giang có bước phát triển khá, tăng trưởng kinh tế đạt 7,5% so với cùng kỳ. Biểu đồ Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang.

Năm 2024, tỉnh Kiên Giang có tổng thu ngân sách ước tính đạt 16.977 tỷ đồng, vượt 0,42% dự toán, tăng 16,69% so với năm trước, trong đó: thu nội địa 16.847 tỷ đồng, vượt 0,01% dự toán, tăng 16,64% so năm trước, chiếm 99,27% trong tổng thu ngân sách của tỉnh.

Tổng chi ngân sách năm 2024 ước tính trên 19.266 tỷ đồng, đạt 86,18% dự toán năm, tăng 1,30% so năm trước, trong đó: chi thường xuyên trên 12.613 tỷ đồng, vượt 9,54% dự toán, tăng 14,88% so với năm trước; chi đầu tư phát triển trên 4.365 tỷ đồng, đạt 41,95% dự toán, giảm 43,60% so với năm trước.

Bên cạnh đó, năm 2024, giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh Kiên Giang cũng đạt hơn 57.110 tỷ đồng, vượt 4,89% (kế hoạch năm) và tăng 13,28% (so với năm 2023). Các ngành công nghiệp chủ lực đều tăng trưởng khá, trong đó công nghiệp chế biến, chế tạo đóng vai trò chủ đạo, với giá trị đạt trên 54.875 tỷ đồng, tăng 13,42%. Kim ngạch xuất khẩu trong năm ước đạt 1 tỷ USD, vượt 8,7% kế hoạch và tăng 15,57% (gồm: gạo 300,8 triệu USD; hải sản 230,5 triệu USD; giày da 261,19 triệu USD và hàng khác hơn 205 triệu USD;…).

Đặc biệt, tính chung tổng lượt khách du lịch trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong năm 2024 ước đạt 9.863,19 ngàn lượt khách, đạt 107,21% và tăng 15,56%, trong đó: lượt khách đến các cơ sở kinh doanh du lịch phục vụ là 4.315,12 ngàn lượt khách, đạt 107,88%, tăng 14,16% (khách quốc tế ước đón 978,79 ngàn lượt khách, vượt 43,94%, tăng 70,74%).

Theo đánh giá của UBND tỉnh Kiên Giang, một số chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhằm phục hồi sản xuất đã phát huy tác dụng, nhất là chính sách hỗ trợ về thuế, bảo hiểm xã hội, hỗ trợ lao động đã giúp doanh nghiệp duy trì và ổn định sản xuất, thị trường tiêu thụ dần ổn định. Thực hiện 24 chỉ tiêu đã được HĐND giao có 24/24 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch.

Phấn đấu đạt mức tăng trưởng kinh tế 2 con số

Năm 2025, tỉnh Kiên Giang đặt mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 7,5% trở lên, nỗ lực đạt trên 10%; GRDP bình quân đầu người 90 triệu đồng; giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản tăng 2,5% trở lên, công nghiệp tăng 10% so với năm 2024; tổng thu ngân sách hơn 15.000 tỷ đồng; huy động vốn đầu tư toàn xã hội 48.000 tỷ đồng; tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh đạt 41,45%; duy trì tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn đa chiều dưới 2%...

Theo ông Nguyễn Thanh Nhàn - Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, địa phương sẽ triển khai đồng bộ các giải pháp thực hiện quyết liệt, hiệu quả mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2025, nhất là khai thác các động lực tăng trưởng mới và làm mới các động lực truyền thống để đạt mức tăng trưởng kinh tế 2 con số.

Kiên Giang: Kinh tế năm 2024 tạo động lực cho năm 2025 “bứt  phá”
Cơ sở hạ tầng tại TP. Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang ngày càng phát triển. Ảnh: Hoàng Dương.

Trong đó, ngoài tập trung tạo bứt phá trong công nghiệp và dịch vụ du lịch, huy động tối đa các nguồn lực, lấy đầu tư công dẫn dắt đầu tư phát triển kinh tế (phấn đấu giải ngân vốn đầu tư công đạt 95% trở lên) thì, tỉnh Kiên Giang sẽ triển khai toàn diện, hiệu quả các hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút các nguồn lực phục vụ cho đầu tư phát triển.

Theo lãnh đạo tỉnh Kiên Giang, chính quyền địa phương luôn khuyến khích và tạo môi trường thuận lợi cho các thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp phát triển; thu hút doanh nghiệp có năng lực, tập đoàn lớn trong và ngoài nước đầu tư vào các lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế.

Mặt khác, tỉnh Kiên Giang sẽ tập trung phát triển văn hóa, nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo, nguồn nhân lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chăm lo sức khỏe nhân dân, đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân, … phấn đấu xây dựng, phát triển chính quyền điện tử, chính quyền số xếp hạng năm 2025 đứng thứ 11/63 tỉnh, thành cả nước.

Cùng với đó, địa phương này cũng tập trung khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế, nhất là tháo gỡ “điểm nghẽn” phát triển các ngành kinh tế chủ lực, đẩy mạnh tăng trưởng ở mức cao, góp phần thực hiện đạt mục tiêu năm 2025 đề ra và nhiệm kỳ kinh tế - xã hội (2021 - 2025) như: thực hiện có hiệu quả tái cơ cấu ngành nông nghiệp và đề án 1 triệu ha chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh trên địa bàn.

Phát triển mạnh nuôi trồng thủy sản (nhất là nuôi tôm công nghiệp và nuôi biển, nhân rộng mô hình nuôi trồng hiệu quả), cấu trúc lại nghề khai thác thủy sản theo hướng bền vững gắn với chống khai thác đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không được quản lý (IUU); … hướng tới mục tiêu sản lượng lúa đạt 4,6 triệu tấn, với tỷ lệ sản xuất lúa chất lượng gạo cao trên 90% tổng diện tích gieo trồng; sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản 811.000 tấn, trong đó khai thác 420.300 tấn, nuôi trồng 390.700 tấn trong năm 2025.

Lĩnh vực kinh tế công nghiệp, triển khai tốt Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển công nghiệp đến năm 2030, tầm nhìn năm 2045. Tỉnh đặt mục tiêu, giá trị sản xuất công nghiệp hơn 62.821 tỷ đồng, tăng 10% và kim ngạch xuất khẩu 1,07 tỷ USD, tăng 7% so với năm 2024.

Đặc biệt, đối với “ngành công nghiệp không khói”, tỉnh Kiên Giang tổ chức thực hiện hiệu quả đề án cơ cấu lại ngành Du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, để hướng tới mục tiêu thu hút 10,65 triệu lượt khách du lịch (trong đó có 1,1 triệu lượt khách quốc tế), tổng doanh thu đạt 28.000 tỷ đồng trong năm 2025.

Hoàng Dương

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Kim TT/AVPL 16,810 ▼250K 17,110 ▼250K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Nguyên Liệu 99.99 15,950 ▼400K 16,150 ▼400K
Nguyên Liệu 99.9 15,900 ▼400K 16,100 ▼400K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Hà Nội - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đà Nẵng - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Miền Tây - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Tây Nguyên - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,000 ▼2500K 171,000 ▼2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 168 ▼1537K 17,102 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 168 ▼1537K 17,103 ▼250K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,678 ▼25K 1,708 ▼25K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,678 ▼25K 1,709 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,658 ▼25K 1,693 ▼25K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,124 ▼2475K 167,624 ▼2475K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,238 ▼1875K 127,138 ▼1875K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,386 ▼1700K 115,286 ▼1700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,533 ▼1525K 103,433 ▼1525K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 89,962 ▼1457K 98,862 ▼1457K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 61,855 ▼1043K 70,755 ▼1043K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 168 ▼1537K 171 ▼1564K
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17778 18052 18627
CAD 18532 18809 19423
CHF 32618 33002 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29834 30106 31134
GBP 34406 34798 35732
HKD 0 3241 3443
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14965 15552
SGD 20005 20287 20812
THB 720 783 837
USD (1,2) 26078 0 0
USD (5,10,20) 26119 0 0
USD (50,100) 26147 26167 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 14:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80