Lãi suất ở Mỹ chưa tăng, tỷ giá ở Việt Nam đã ‘nhảy’

Đỗ Minh
Trong khi thị trường tài chính thế giới đang “nín lặng” chờ đợi cuộc họp của FED vào ngày 17 và 18.9 tới, để xem Mỹ có quyết định tăng lãi suất trong tháng 9 này hay không, thì giá đồng USD ở Việt Nam đã “nhảy” lên…
aa

Tỷ giá VND/USD bất ngờ bật tăng

Trong buổi sáng 15.9, hầu hết các ngân hàng thương mại đều niêm yết mức tỷ giá VND/USD tăng lên khá mạnh so với sáng hôm qua (14.9), với mức tăng khoảng từ 15 – 35 đồng/USD.

Cụ thể, tại thời điểm 11 giờ 17 phút trưa ngày 15.9, tỷ giá VND/USD niêm yết tại ngân hàng Vietcombank đứng ở mức 22.470 – 22.530 đồng/USD (giá mua vào – bán ra), tăng 25 đồng/USD ở cả hai chiều mua vào – bán ra so với sáng hôm trước (14.9). Trong khi đó BIDV niêm yết thấp hơn một chút và đứng ở mức 22.465 – 22.520 đồng/USD, nhưng VietinBank lại niêm yết ở mức cao hơn và đứng ở mức 22.475 – 22.535 đồng/USD.

Còn ở các ngân hàng thương mại khác, tỷ giá VND/USD cũng niêm yết với mức khá chênh lệch nhau, trong đó ngân hàng Eximbank, ACB tỷ giá VND/USD đang niêm yết ở mức 22.450 – 22.540 đồng/USD; VIB niêm yết ở mức 22.420 – 22.510 đồng/USD; TPBank, Sacombank niêm yết ở mức 22.440 – 22.520 đồng/USD; SHB niêm yết ở mức 22.455 – 22.530 đồng/USD; Techcombank niêm yết ở mức 22.420 – 22.530 đồng/USD; HSBC niêm yết ở mức 22.430 – 22.530 đồng/USD.

Việc điều chỉnh tỷ giá VND/USD đã diễn ra ở một số ngân hàng từ chiều hôm qua (14.9), nhưng đến sáng 15.9 thì hầu hết các ngân hàng đều đã điều chỉnh tăng lên.

Việc điều chỉnh tăng tỷ giá khá mạnh như trên ở các ngân hàng trong bối cảnh hiện nay là khá bất ngờ, bởi hiện tại chưa thấy xuất hiện thông tin chính thức nào liên quan đến thay đổi chính sách tiền tệ, hay các yếu tố thông tin khác ảnh hưởng tới việc tăng giá của đồng USD so với VND.

Còn trên thị trường tài chính – tiền tệ thế giới, thì hiện cũng chưa thấy xuất hiện thông tin gì chính thức được đưa ra trước thềm cuộc họp chính sách sắp tới của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) xung quanh vấn đề thông tin điều chỉnh lãi suất của Mỹ. Trong khi đó, giá đồng USD trên thị trường tiền tệ châu Á trong phiên ngày 14/9 lại giảm giá so với hầu hết các đồng tiền chủ chốt trong rổ tiền tệ.

Cụ thể, theo thông tin từ Reuters, kết thúc phiên giao dịch ngày 14.9, chỉ số Đôla Wall Street Journal, theo dõi USD với 16 đồng tiền trong giỏ tiền tệ, giảm 0,1% xuống 88,18 điểm. Chỉ số này đã giảm 3 phiên liên tiếp, theo số liệu của Dow Jones.

Còn trên thị trường châu Á, đồng USD giao dịch ở mức 120,23 yen/USD, giảm từ mức 120,57 yen/USD trong phiên 11/9 ở New York. Trong khi đó, đồng euro đứng ở mức 1,1367 USD/euro, từ 1,1333 USD/euro tại Mỹ trong phiên cuối tuần trước.

Các đồng nội tệ của khu vực thị trường mới nổi cũng tăng giá so với đồng USD, như rupee của Ấn Độ, SGD của Singapore và đồng peso của Philippines. Đồng AUD của Australia cũng rời khỏi mức thấp nhất trong sáu năm so với USD, lên 71,16 xu Mỹ/AUD.

Như vậy, việc giá đồng USD đang tăng lên so với VND như hiện nay ở hầu hết các ngân hàng thương mại đang chưa xác định được nguyên nhân do đâu, trong khi đó thông tin tỷ giá từ Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa có sự thay đổi nào đáng chú ý, khi tỷ giá bình quân liên ngân hàng áp dụng ngày 15.9 vẫn đứng nguyên ở mức 21.890 đồng/USD; Sở Giao dịch NHNN vẫn niêm yết tỷ giá VND/USD ở mức 21.800 – 22.475 đồng/USD (giá mua vào – bán ra).

Giá vàng ở trạng thái “án binh bất động”

Từ phiên giao dịch đầu tuần tới nay, giá vàng trên thị trường thế giới và trong nước chủ yếu biến động trong biên độ hẹp, với mức tăng giảm không đáng kể. Ở ngày 14.9, giá vàng SJC giảm nhẹ 30 ngàn đồng/lượng và bước sang ngày 15.9, giá vàng tiếp tục xu hướng chờ thông tin từ cuộc họp chính sách của Fed vào cuối tuần này và có bước điều chỉnh giá khá nhẹ và thưa.

Cụ thể, tại thời điểm cuối buổi sáng 15.9, giá vàng SJC niêm yết trên bảng giao dịch trực tuyến của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn áp dụng tại TP. Hồ Chí Minh đứng ở mức 33,85 – 34,07 triệu đồng/lượng (giá mua vào – bán ra), còn tại Hà Nội và các địa phương khác đứng ở mức 33,85 – 34,09 triệu đồng/lượng, tăng nhẹ 10 ngàn đồng/lượng so với mức giá đóng cửa ngày 14.9.

Còn trên hệ thống báo giá của Tập đoàn DOJI, giá vàng SJC cuối buổi sáng 15.9 cũng ít có thay đổi, với mức giá mua vào - bán ra tại Hà Nội là 34,01 – 34,09 triệu đồng/lượng (giá giao dịch lẻ) và 34,02 – 34,08 triệu đồng/lượng (giao dịch buôn); tại TP. Hồ Chí Minh niêm yết ở mức 33,99 – 34,07 triệu đồng/lượng (mua vào – bán ra giao dịch lẻ) và 34,00 – 34,06 (mua vào – bán ra giao dịch buôn).

Còn trên thị trường thế giới, giá vàng hiện cũng đang giao dịch theo xu hướng đi ngang và đứng quanh mức giá 1.108 USD/ounce – qui đổi theo tỷ giá bình quân liên ngân hàng tương đương mức 30,08 triệu đồng/lượng, thấp hơn giá vàng SJC bán ra tại TP. Hồ Chí Minh của Công ty Vàng bạc Đá quý Sài Gòn khoảng 4 triệu đồng/lượng./.

Đỗ Minh

Đỗ Minh

Đọc thêm

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank chốt ngày 7/10/2026 để cổ đông thực hiện quyền mua 150 triệu cổ phiếu đợt 1 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ lệ 20,472%. Đây là bước đầu trong kế hoạch phát hành hơn 267 triệu cổ phiếu, qua đó, đưa vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, hiện thực hóa mục tiêu ngân hàng theo đuổi nhiều năm.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

(TBTCO) - Tháng 9/2026 tại New York (Mỹ), trong Global Strategy Summit 2026, Hội nghị đối thoại chiến lược dành cho các nhà lãnh đạo do McKinsey & Company tổ chức, Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy đã chia sẻ những góc nhìn về những vấn đề đang đặt ra với nhiều doanh nghiệp trên thế giới: tăng trưởng bền vững trước áp lực ngắn hạn, nhận diện xu hướng nhưng không chạy và chuẩn bị con người trước những thay đổi mà AI tạo ra.
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 22:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17722 17995 18579
CAD 17840 18114 18733
CHF 30682 31058 31704
CNY 0 3827 3923
EUR 28978 29197 30280
GBP 33603 33992 34929
HKD 0 3181 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14995
SGD 19795 20077 20648
THB 695 758 811
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 22:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30