Hai bài toán cho sân bay Ninh Bình “cất cánh”

Anh Minh
(TBTCO) - Việc đánh giá vùng trời và phương thức bay tổng thể các sân bay trong khu vực là hai bài toán khó cần sớm có lời giải phù hợp để Đề án nghiên cứu khả năng hình thành Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
aa

Những nội dung có tính đặc thù

Đúng một tháng sau khi nhận được ý kiến tham gia của Bộ Xây dựng, UBND tỉnh Ninh Bình một lần nữa đề nghị Cục Hàng không Việt Nam, Tổng Công ty Quản lý bay Việt Nam tiếp tục phối hợp, hỗ trợ hoàn thiện Đề án nghiên cứu khả năng hình thành Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình.

Theo ông Nguyễn Cao Sơn - Phó Chủ tịch UBND tỉnh Ninh Bình, trên cơ sở ý kiến của Bộ Xây dựng, các bộ, ngành và các cơ quan, đơn vị liên quan, đến nay, Đề án đã cơ bản được hoàn thiện theo các góp ý.

Tuy nhiên, việc đánh giá vùng trời và phương thức bay tổng thể các sân bay trong khu vực là nội dung có tính đặc thù, kỹ thuật phức tạp, ảnh hưởng lớn đến hoạt động bay của các cảng hàng không lân cận, nên cần được xem xét, đánh giá kỹ lưỡng.

Hai bài toán cho sân bay Ninh Bình “cất cánh”
Phối cảnh Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình. Ảnh tư liệu

Trong khi đó, việc hoàn thiện Đề án phụ thuộc vào kết quả nghiên cứu tổng thể phương án tổ chức vùng trời, đường hàng không, phương thức bay cho các cụm sân bay khu vực miền Bắc. Nội dung này đang được Ban Chỉ đạo do Cục Hàng không Việt Nam thành lập triển khai, bao gồm các cụm sân bay Tân Sơn Nhất - Long Thành - Biên Hòa; Gia Bình - Nội Bài - Cát Bi; Cảng hàng không quốc tế Phú Quốc và các khu vực lân cận.

“Do vậy, để có cơ sở hoàn thiện Đề án theo quy định, đề nghị Cục Hàng không Việt Nam, Tổng Công ty Quản lý bay Việt Nam tiếp tục phối hợp, hỗ trợ Sở Xây dựng tỉnh Ninh Bình (đầu mối của tỉnh) và đơn vị tư vấn lập Đề án trong việc đánh giá các vấn đề kỹ thuật liên quan đến phương án tổ chức vùng trời, đường hàng không và phương thức bay của Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình” - ông Nguyễn Cao Sơn cho biết.

Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình được đề xuất quy hoạch theo tiêu chuẩn ICAO cấp 4E, sân bay quân sự cấp I, với loại tàu bay khai thác là Code E và tương đương; trong đó công suất thiết kế năm 2030 là 5 triệu khách/năm và 10 triệu khách/năm trong giai đoạn đến năm 2050. Sơ bộ tổng mức đầu tư theo quy hoạch là khoảng 23.216 tỷ đồng, dự kiến đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP). Thời gian hoàn vốn dự kiến khoảng 27 năm.

Trước đó, vào đầu tháng 12/2025, UBND tỉnh Ninh Bình đã có Tờ trình số 207/TTr-UBND gửi Thủ tướng Chính phủ về Đề án nghiên cứu khả năng hình thành Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình, trong đó đề nghị đưa sân bay Ninh Bình vào Quy hoạch tổng thể hệ thống cảng hàng không, sân bay toàn quốc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

UBND tỉnh Ninh Bình đề xuất vị trí xây dựng Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình trên địa bàn các xã: Bình Lục, Bình Mỹ và phường Liêm Tuyền. Hướng cất, hạ cánh của Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình được đề xuất theo trục Tây Bắc - Đông Nam, với 2 đường cất, hạ cánh (đường số 1 dài 3.800 m, đường số 2 dài 3.200 m).

Diện tích quy hoạch Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình là khoảng 664 ha, gồm 460 ha khu bay, 189 ha khu hàng không dân dụng, 15 ha đất quân sự và 1 ha đất đài dẫn đường đa hướng/thiết bị đo cự ly (VOR/DME).

Đánh giá tổng thể để có quy hoạch phù hợp

Cần phải nói thêm rằng, trong trường hợp Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình được bổ sung vào quy hoạch, khu vực Đồng bằng sông Hồng sẽ trở thành vùng có mật độ sân bay lớn nhất cả nước, với các cảng hàng không cách nhau dưới 200 km (theo đường chim bay) như: Nội Bài, Gia Bình, Cát Bi, Vân Đồn, Ninh Bình, Thọ Xuân.

Vì vậy, trong quá trình góp ý xây dựng Đề án nghiên cứu khả năng hình thành Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình, Cục Hàng không Việt Nam cho rằng, các vị trí đề xuất xây dựng Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình đều nằm gần các cảng hàng không, sân bay khác trong khu vực miền Bắc, bao gồm các cảng hàng không có hoạt động bay dân dụng thường lệ như Nội Bài, Cát Bi, Gia Bình, Cảng hàng không thứ 2 vùng Thủ đô (dự kiến quy hoạch tại khu vực phía Đông Nam, Nam TP. Hà Nội) và các sân bay quân sự như Kiến An, Gia Lâm…

Điều này có thể làm gia tăng nguy cơ xung đột không lưu, đặc biệt trong điều kiện thời tiết xấu hoặc khi mật độ bay cao.

Do đó, việc tổ chức vùng trời cần được đánh giá tổng thể trên phạm vi toàn khu vực, nhằm bảo đảm tính khả thi và hiệu quả khai thác, đồng thời làm cơ sở khoa học để xây dựng phương thức bay cho Cảng hàng không quốc tế Ninh Bình. Trong khi đó, Đề án hiện chưa làm rõ phương án tổ chức vùng trời và phương thức bay khả thi.

Theo ông Nguyễn Mạnh Kiên - Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Quản lý bay Việt Nam, đơn vị tư vấn cần nghiên cứu, xem xét và cân đối kỹ lưỡng các yếu tố liên quan khi lựa chọn phương án quy hoạch Cảng hàng không Ninh Bình, trong đó phải tính đến tác động qua lại về tần suất hoạt động bay tại các cảng hàng không quốc tế Nội Bài, Gia Bình, Cát Bi khi có thêm hoạt động bay tại Ninh Bình.

Được biết, tại Đề án, cùng với việc khẳng định sự cần thiết hình thành một cảng hàng không tại tỉnh Ninh Bình, Tổng Công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải (TEDI) đã kiến nghị Bộ Xây dựng xem xét, báo cáo Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh quy hoạch theo hướng đưa Cảng hàng không số 2 vùng Thủ đô ra khỏi Quy hoạch tổng thể mạng cảng hàng không toàn quốc.

Cơ sở của đề xuất này là do hai cảng hàng không có phạm vi vùng hấp dẫn chồng lấn đáng kể, trong khi vị trí dự kiến của Cảng hàng không Ninh Bình chỉ cách vị trí quy hoạch Cảng hàng không số 2 vùng Thủ đô khoảng 20 km.

Theo đề xuất, Cảng hàng không Ninh Bình sẽ phục vụ nhu cầu vận tải hàng không cho khu vực phía Nam Thủ đô Hà Nội, bao gồm tỉnh Ninh Bình (mới), một phần tỉnh Hòa Bình (cũ), các xã, phường phía Nam TP. Hà Nội, một phần tỉnh Hưng Yên và khu vực phía Bắc tỉnh Thanh Hóa. Qua đó, cảng hàng không này có thể thay thế vai trò của Cảng hàng không số 2 vùng Thủ đô trong quy hoạch hiện nay.

Nhu cầu dịch vụ hàng không ngày càng đa dạng

Theo ông Uông Việt Dũng - Cục trưởng Cục Hàng không Việt Nam, sự phát triển nhanh của ngành công nghiệp chế tạo máy bay đang làm thay đổi đáng kể thị trường hàng không. Nhiều dòng máy bay hiện đại có yêu cầu đường cất, hạ cánh ngắn hơn, chi phí khai thác ngày càng hợp lý, giúp các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ có thể tham gia sâu hơn vào hoạt động khai thác.

Đáng chú ý, các tàu bay phản lực cỡ nhỏ đang dần trở nên phổ biến, không chỉ phục vụ hàng không thương mại không thường lệ, mà còn được một số doanh nghiệp sử dụng như phương tiện di chuyển cá nhân. Điều này cho thấy, nhu cầu dịch vụ hàng không ngày càng đa dạng.

Cùng với đó, sự xuất hiện của các UAV vận tải hàng hóa cỡ lớn, gắn với kinh tế tầm thấp, đang làm thay đổi cách tiếp cận trong quy hoạch và đầu tư cảng hàng không, sân bay theo hướng linh hoạt hơn. Vì vậy, nếu xác định quy mô đầu tư phù hợp, các sân bay sẽ dễ thu hút khu vực tư nhân tham gia, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, du lịch và tăng khả năng thu hút đầu tư cho các địa phương.

Anh Minh

Đọc thêm

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

Nâng cấp nền tảng công nghệ, Báo Tài chính - Đầu tư tiến vào chặng đường phát triển mạnh mẽ

(TBTCO) - Phát biểu tại Lễ ra mắt giao diện mới của báo điện tử Báo Tài chính - Đầu tư (thoibaotaichinhvietnam.vn), Thứ trưởng Trần Quốc Phương tin tưởng với bề dày truyền thống đã được xây dựng và phát triển qua nhiều năm của ba cơ quan báo chí tiền thân, cùng với sự đoàn kết, sáng tạo và quyết tâm đổi mới của tập thể lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên và người lao động, Báo Tài chính - Đầu tư sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ, đóng góp ngày càng tích cực vào công tác thông tin tuyên truyền của ngành Tài chính và vào sự phát triển chung của nền kinh tế đất nước.
Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,800 ▼550K 16,000 ▼550K
Nguyên Liệu 99.9 15,750 ▼550K 15,950 ▼550K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,550 ▼350K 16,950 ▼350K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,500 ▼350K 16,900 ▼350K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,430 ▼350K 16,880 ▼350K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Nghệ An 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Miếng SJC Thái Bình 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,670 ▼600K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,700 ▼600K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 21:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17741 18014 18592
CAD 18522 18799 19416
CHF 32608 32992 33637
CNY 0 3470 3830
EUR 29820 30092 31120
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3237 3439
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14944 15527
SGD 19984 20267 20795
THB 717 780 834
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,908 29,932 31,173
JPY 160.68 160.97 169.67
GBP 34,530 34,623 35,601
AUD 17,945 18,010 18,579
CAD 18,689 18,749 19,319
CHF 32,804 32,906 33,674
SGD 20,093 20,155 20,826
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.13 16.82 18.19
THB 765.08 774.53 824.92
NZD 14,915 15,053 15,406
SEK - 2,766 2,846
DKK - 4,003 4,119
NOK - 2,672 2,750
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,163.18 - 6,915.14
TWD 744.21 - 896.03
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,549 88,351
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26357
AUD 17914 18014 18942
CAD 18694 18794 19810
CHF 32851 32881 34459
CNY 3754.3 3779.3 3914.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30000 30030 31756
GBP 34667 34717 36469
HKD 0 3355 0
JPY 161.64 162.14 172.68
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15040 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20140 20270 21005
THB 0 747.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16850000 16850000 17150000
SBJ 15000000 15000000 17150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,223 26,357
USD20 26,173 26,223 26,357
USD1 26,173 26,223 26,357
AUD 17,982 18,082 19,194
EUR 30,134 30,134 31,551
CAD 18,645 18,745 20,058
SGD 20,226 20,376 20,945
JPY 162.19 163.69 168.27
GBP 34,565 34,915 35,797
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,665 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 21:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80