Mặt bằng lãi suất: Có thể tăng từ cuối quý II khi cầu tín dụng cao

Duy Thái
(TBTCVN) - Với thanh khoản dồi dào và chủ trương duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân, thì lãi suất tiền gửi và cho vay dự kiến vẫn duy trì tương đối ổn định cho đến đầu quý II tới. Tuy nhiên, từ cuối quý II/2021, nhiều khả năng mặt bằng lãi suất sẽ tăng trở lại…
aa

nh

Lãi suất tiền gửi khách hàng cá nhân đã được một số ngân hàng điều chỉnh tăng nhẹ.

Trên thị trường, một số ngân hàng thương mại đã tăng lãi suất huy động, tuy nhiên mức tăng chưa mạnh và chưa rộng. Với thanh khoản dồi dào và chủ trương duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân, thì lãi suất tiền gửi và cho vay dự kiến vẫn duy trì tương đối ổn định cho đến đầu quý II tới. Tuy nhiên, từ cuối quý II/2021, khi hoạt động kinh tế sôi động hơn khiến cầu tín dụng tăng thì nhiều khả năng mặt bằng lãi suất sẽ tăng trở lại.

Tăng trưởng tín dụng có tích cực hơn

Theo báo cáo mới nhất của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), trên thị trường mở tuần vừa qua, không có hoạt động bơm hút ròng nào được thực hiện khi Ngân hàng Nhà nước (NHNN) không phát hành mới và cũng không có lượng tín phiếu nào đáo hạn. NHNN vẫn chưa phải can thiệp bơm/hút ròng vào thị trường mở khi thanh khoản hệ thống ngân hàng tiếp tục ở trạng thái dồi dào.

Cũng theo số liệu từ BVSC, từ ngày 18/3 đến 25/3/2021, lãi suất liên ngân hàng tiếp tục có diễn biến giảm nhẹ ở kỳ hạn qua đêm, với mức giảm 0,02% xuống 0,25% - đây mức thấp nhất trong vòng 2 tháng vừa qua. Ngược lại, các kỳ hạn 1 tuần và 2 tuần tăng trở lại, lần lượt ở mức 0,06% và 0,16% lên 0,53% và 0,55%/năm.

Thanh khoản hệ thống ngân hàng hiện tại vẫn ở trạng thái tương đối dồi dào. Tính tới ngày 19/3/2021, tổng dư nợ tín dụng của toàn ngành ngân hàng ước tính đang ở mức 9,32 triệu tỷ đồng, tăng 1,47% từ đầu năm tới nay (theo Tổng cục Thống kê), ước tăng 12,31% so với cuối tháng 3/2020. Như vậy, mức tăng trưởng tín dụng tính từ đầu năm (YTD) và so với cùng kỳ năm ngoái (YOY) đều đang ở dưới mức trung bình của tháng 3 trong vòng 7 năm trở lại đây (lần lượt ở mức 2,05% và 14,47%). Trong khi đó, tổng phương tiện thanh toán (M2) tăng 1,49% so với đầu năm (theo Tổng cục Thống kê), lên trên 12 triệu tỷ đồng, cùng tăng 12,31% so với cuối tháng 3/2020.

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), so với đầu năm, tín dụng đã tăng 1,2% (tính đến ngày 17/3) và ước tăng 2% trong quý I/2021 – cao hơn mức tăng trưởng 1,31% của quý I/2020. Tuần qua, NHNN cũng đã giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2021, trong đó các ngân hàng thương mại nhà nước là từ 6,5 – 7,5% (ngoại trừ VCB là 10,5%), các ngân hàng thương mại cổ phần từ 8 - 12%. Hạn mức tăng trưởng tín dụng 2021 bình quân của các ngân hàng thương mại trong phạm vi nghiên cứu là 9% - thấp hơn mức bình quân 10% trong đợt giao hạn mức đợt đầu của năm 2020.

Bình luận về điều này, các chuyên gia của Trung tâm Phân tích và Tư vấn đầu tư, Công ty Chứng khoán SSI (SSI Research) cho rằng, thông thường, NHNN sẽ có các đợt điều chỉnh hạn mức tín dụng cho các ngân hàng thương mại trong năm và mức giao hiện tại là phù hợp với mục tiêu tăng trưởng tín dụng cả năm 2021 là 12% - thấp hơn mục tiêu tăng trưởng tín dụng đặt ra đầu năm 2020 là 14%.

Nhiều ngân hàng đã tăng nhẹ lãi suất tiền gửi

Trong báo cáo vĩ mô tháng 2/2021, Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS) cho rằng, lãi suất huy động tiếp tục trong xu hướng giảm và sau đó duy trì ở mặt bằng thấp. Áp lực tăng nếu có nhiều khả năng chỉ mang tính chất cục bộ ngắn hạn và ở các kỳ hạn ngắn. Chính vì vậy, VCBS dự báo về các chính sách nới lỏng tiền tệ sẽ được duy trì ít nhất cho tới năm 2022, khi mục tiêu ưu tiên của nhiều ngân hàng trung ương lớn trong giai đoạn này vẫn là hỗ trợ nền kinh tế hồi phục sau dịch bệnh.

“Chúng tôi kỳ vọng NHNN sẽ điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt và duy trì thanh khoản hệ thống dồi dào. Mặt bằng lãi suất cho vay sẽ còn dư địa giảm thêm trong bối cảnh lãi suất huy động đã giảm khá trong khoảng 1 năm trở lại đây. Ở thời điểm hiện tại vẫn còn dư địa giảm với cả lãi suất huy động và cho vay” – chuyên gia của VCBS nhận định.

Các chuyên gia của SSI Research cũng cho rằng, hiện tại, thanh khoản các ngân hàng thương mại vẫn rất dồi dào và NHNN nhấn mạnh mục tiêu duy trì mặt bằng lãi suất thấp để hỗ trợ doanh nghiệp. Chính vậy, theo SSI Research, lãi suất tiền gửi và cho vay sẽ vẫn ổn định trong quý I và đầu quý II/2021. Tuy nhiên, “lãi suất sẽ có thể nhích tăng từ cuối quý II/2021 khi các hoạt động kinh tế sôi động hơn giúp tăng cầu tín dụng” – SSI Research nhấn mạnh.

Trong một báo cáo mới đây, BVSC cho biết, so với thời điểm cuối năm 2020 thì đến đầu tháng 3 vừa qua, lãi suất tiền gửi các kỳ hạn từ 6 tháng – 12 tháng ở một số ngân hàng thương mại cổ phần quy mô nhỏ có sự nhích lên nhẹ. Theo đó, khoảng trung tuần tháng 3 một số ngân hàng thương mại quy mô vừa như SCB, VPBank, ACB cũng có sự điều chỉnh tăng thêm lãi suất cho một số kỳ hạn tiền gửi online kỳ hạn ngắn. Tuy nhiên, nhóm 10 ngân hàng thương mại có quy mô tiền gửi tiết kiệm cao nhất hệ thống ít có sự thay đổi biểu lãi suất huy động.

Ghi nhận trên thị trường, tại ngân hàng Techcombank, lãi suất tiết kiệm đối với khách hàng thường kỳ hạn 1 tháng tăng từ 2,75%/năm lên 3,1%/năm; kỳ hạn 6 tháng tăng lên 4,4 - 4,7%/năm. Tại ACB, khách hàng gửi tiết kiệm trên 1 tỷ đồng áp dụng lãi suất là 3,3%/năm (kỳ hạn 3 tháng); 4,5%/năm (kỳ hạn 6 tháng); 5,6%/năm (kỳ hạn 12 tháng). Tại BIDV, khách hàng gửi tiết kiệm kỳ hạn 3 tháng và 6 tháng cũng tăng nhẹ, lần lượt là 3,4%/năm và 4%/năm. Một số ngân hàng nhóm dưới nhỏ hơn, như NamABank, KienLongBank,… cũng tăng lãi suất huy động, với mức tăng khoảng 0,1 – 0,8%/năm, tùy từng kỳ hạn khác nhau.

Trong báo cáo vĩ mô tháng 2/2021, Công ty Chứng khoán Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (VCBS) cho rằng, lãi suất huy động tiếp tục trong xu hướng giảm và sau đó duy trì ở mặt bằng thấp. Áp lực tăng nếu có nhiều khả năng chỉ mang tính chất cục bộ ngắn hạn và ở các kỳ hạn ngắn. Chính vì vậy, VCBS dự báo về các chính sách nới lỏng tiền tệ sẽ được duy trì ít nhất cho tới năm 2022, khi mục tiêu ưu tiên của nhiều ngân hàng trung ương lớn trong giai đoạn này vẫn là hỗ trợ nền kinh tế hồi phục sau dịch bệnh.

Duy Thái

Duy Thái

Đọc thêm

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

QR xuyên biên giới kéo gần khách quốc tế với bán lẻ Việt

(TBTCO) - Thanh toán xuyên biên giới qua mã QR đang tăng tốc khi VietQRGlobal mở rộng kết nối với các thị trường khu vực và châu Á, giúp du khách thanh toán thuận tiện và mở thêm cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận khách quốc tế với chi phí thấp hơn thẻ quốc tế.
“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

“Kho” đầu tư nâng đỡ doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ

(TBTCO) - Trong khi hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ vẫn chưa trở lại quỹ đạo, “kho” đầu tư của các doanh nghiệp vẫn mở rộng. Hơn 687.000 tỷ đồng đầu tư, chủ yếu dài hạn, đang tạo nguồn thu ổn định, trở thành “bệ đỡ” cho lợi nhuận và củng cố nền tảng tài chính trong giai đoạn thị trường tái cân bằng.
Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

PGBank chốt ngày chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng, tiến gần mốc vốn điều lệ 10.000 tỷ đồng

(TBTCO) - PGBank chốt ngày 7/10/2026 để cổ đông thực hiện quyền mua 150 triệu cổ phiếu đợt 1 với giá 10.000 đồng/cổ phiếu, với tỷ lệ 20,472%. Đây là bước đầu trong kế hoạch phát hành hơn 267 triệu cổ phiếu, qua đó, đưa vốn điều lệ lên 10.000 tỷ đồng, hiện thực hóa mục tiêu ngân hàng theo đuổi nhiều năm.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

(TBTCO) - Tháng 9/2026 tại New York (Mỹ), trong Global Strategy Summit 2026, Hội nghị đối thoại chiến lược dành cho các nhà lãnh đạo do McKinsey & Company tổ chức, Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy đã chia sẻ những góc nhìn về những vấn đề đang đặt ra với nhiều doanh nghiệp trên thế giới: tăng trưởng bền vững trước áp lực ngắn hạn, nhận diện xu hướng nhưng không chạy và chuẩn bị con người trước những thay đổi mà AI tạo ra.
LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

LPBank trao gần 1,8 tỷ đồng học bổng sau đại học cho Đại học Quốc gia TP.HCM

(TBTCO) - Ngày 19/9/2026, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp cùng Đại học Quốc gia TP.HCM (ĐHQG-HCM) trao 43 suất học bổng sau đại học cho học viên Trường Đại học Bách khoa và Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, trực thuộc ĐHQG-HCM, với tổng giá trị gần 1,8 tỷ đồng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲320K 14,760 ▲320K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲320K 14,760 ▲270K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲270K 14,670 ▲270K
Trang sức 99.99 14,080 ▲270K 14,680 ▲270K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 26/09/2026 03:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17722 17995 18579
CAD 17840 18114 18733
CHF 30682 31058 31704
CNY 0 3827 3923
EUR 28978 29197 30280
GBP 33603 33992 34929
HKD 0 3181 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14407 14995
SGD 19795 20077 20648
THB 695 758 811
USD (1,2) 25715 0 0
USD (5,10,20) 25754 0 0
USD (50,100) 25782 25796 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Cập nhật: 26/09/2026 03:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30