Ngân hàng phụ thuộc vốn thị trường 2, nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp chịu sức ép từ "thước đo" mới

Theo SHS Research, các ngân hàng có LDR sát trần 85% và LDR tính lại tăng ít sẽ có thêm động lực đăng ký áp dụng sớm LCR/NSFR. Trong khi đó, nhóm phụ thuộc nhiều vào vốn liên ngân hàng ngắn hạn, hoặc nắm giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp sẽ chịu sức ép tái cơ cấu tài sản, nguồn vốn để đáp ứng chuẩn mới.
aa
Ngân hàng sắp áp dụng một loạt “thước đo” an toàn mới, nới trần LDR lên 95% Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn Những “thước đo” mới soi rõ sức bền ngân hàng

LDR sát trần 85%, ngân hàng thêm động lực đăng ký áp dụng sớm LCR/NSFR

Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn - Hà Nội (SHS) vừa phát hành báo cáo đánh giá ảnh hưởng của Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 50) đến ngành ngân hàng.

Nhóm phân tích của SHS đánh giá, Thông tư 50 có tác động tích cực đối với ngành ngân hàng nói chung, đặt ra lộ trình tiến tới chuẩn quốc tế Basel III và tạo tiền đề cho khả năng nâng hạng tín nhiệm quốc gia lên mức đầu tư.

Ngân hàng phụ thuộc vốn thị trường 2, nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp chịu sức ép từ
Nguồn: SHS Research.
“Thông tư 50 định hướng hệ thống ngân hàng chuyển từ quản lý thanh khoản theo giới hạn “định lượng” thông qua khống chế trần LDR hiện nay sang quản trị dựa trên “mức độ rủi ro” theo chuẩn quốc tế Basel III. Cụ thể là khuyến khích củng cố bộ đệm thanh khoản, gia tăng nguồn vốn ổn định; giảm phụ thuộc vào vốn liên ngân hàng ngắn hạn và hạn chế chênh lệch kỳ hạn tài sản - nguồn vốn” - SHS Research nêu rõ.

Thông tư 50 có hiệu lực từ ngày 1/12/2026, với lộ trình bắt buộc bắt đầu từ ngày 1/10/2028.

Tuy nhiên, các ngân hàng thương mại có thể đăng ký áp dụng sớm khung LCR (tỷ lệ khả năng chi trả)/NSFR (tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng) ngay sau ngày 1/12/2026 để được nâng trần LDR (tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi) từ 85% lên 95%.

Một trong những thay đổi đáng chú ý của Thông tư 50 là công thức tính tỷ lệ LDR được điều chỉnh, đồng thời trần LDR được nới thêm 10 điểm phần trăm, từ 85% lên 95%.

Nếu không tham gia sớm, mức trần LDR vẫn được duy trì ở 85% cho đến khi lộ trình bắt buộc có hiệu lực. Khi các ngân hàng đạt LCR và NSFR từ 100% trở lên sẽ được miễn hẳn giới hạn LDR.

“Cách tính LDR mới có thể làm tăng tỷ lệ LDR so với cách tính hiện tại, tùy thuộc vào cơ cấu nguồn vốn của từng ngân hàng. Tuy nhiên, mức nới trần thêm 10 điểm phần trăm có thể bù đắp phần lớn mức tăng này, nên chúng tôi cho rằng, dư địa cho vay nhìn chung được duy trì, qua đó kích thích tăng trưởng và giảm áp lực thanh khoản” - nhóm phân tích SHS nhìn nhận.

Về dài hạn, sự khác biệt giữa các ngân hàng nằm ở khả năng đáp ứng LCR và NSFR. SHS Research cho rằng, nhiều ngân hàng có khả năng đáp ứng lộ trình sớm, với điều kiện tối thiểu phải đạt LCR từ 50% và NSFR từ 90% trở lên.

Việc tham gia sớm hay không phụ thuộc vào kế hoạch cân đối nguồn vốn của từng ngân hàng.

“Động lực rõ hơn ở những ngân hàng có LDR hiện tại sát trần 85% và LDR tính lại tăng ít; hoặc nhóm ngân hàng có đủ năng lực áp dụng thẳng khi đạt chuẩn LCR và NSFR từ 100% trở lên để được miễn giới hạn LDR” - SHS Research đánh giá.

Nhóm lợi thế, nhóm chịu sức ép

Theo SHS Research, khác biệt giữa các ngân hàng sẽ nằm ở khả năng đáp ứng LCR và NSFR. Ngân hàng có nền tiền gửi bán lẻ ổn định và vốn chủ sở hữu dày có lợi thế.

Ngược lại, ngân hàng phụ thuộc vốn liên ngân hàng ngắn hạn hoặc nắm giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp sẽ phải tái cơ cấu tài sản - nguồn vốn.

Ngân hàng phụ thuộc vốn thị trường 2, nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp chịu sức ép từ
Nguồn: SHS Research.

Cụ thể, nhóm có lợi thế khi chuyển sang chuẩn mới đó là: các ngân hàng có thế mạnh bán lẻ, tỷ lệ tiền gửi dân cư, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) cao và vốn chủ dồi dào, như Vietcombank, Techcombank, MB và ACB.

Nhóm các ngân hàng nêu trên có lợi thế vì được coi là có nguồn vốn ngắn hạn ổn định cao, hệ số nguồn vốn ổn định sẵn có (ASF) từ 90 - 95% khi tính NSFR, trong khi hệ số rút tiền khi tính tỷ lệ LCR chỉ 5 - 10%.

Bên cạnh đó, Techcombank và VPBank còn có lợi thế về nguồn vốn dài hạn ổn định cao, đến từ vốn chủ sở hữu, trái phiếu cấp 2 và vốn vay nước ngoài.

Tỷ lệ LDR tính theo Thông tư 50 tăng ít nhất do vốn chủ lớn, giúp nới trần thêm dư địa cho vay, giảm áp lực huy động; đồng thời cũng là nguồn vốn ổn định khi tính NSFR.

Như vậy, các ngân hàng có nền tảng vốn mạnh không chỉ thuận lợi hơn khi đáp ứng chuẩn thanh khoản mới, mà còn có khả năng tận dụng dư địa tăng trưởng tín dụng.

Ở chiều ngược lại, nhóm phải tái cơ cấu để đạt chuẩn mới sẽ chịu thách thức lớn hơn. Theo SHS Research, nhóm ngân hàng lệ thuộc nhiều vào nguồn vốn liên ngân hàng (thị trường 2) ngắn hạn sẽ chịu áp lực lớn hơn. Nguồn vốn này có hệ số rút tiền 100% trong mẫu số công thức tính LCR, trong khi hệ số ASF bằng 0 trong tử số công thức tính NSFR.

Báo cáo nhấn mạnh, vốn liên ngân hàng không được xem là nguồn vốn ổn định. Phần chênh lệch dương được cộng lại trong LDR không bù được bất lợi ở LCR và NSFR.

Tương tự, các ngân hàng có nhiều trái phiếu doanh nghiệp, cho vay dài hạn rủi ro cũng đối mặt yêu cầu điều chỉnh danh mục tài sản.

Trái phiếu doanh nghiệp bị trừ khỏi mẫu số LDR mới, trong khi danh mục trái phiếu chưa niêm yết có kỳ hạn trên 1 năm chịu hệ số nguồn vốn ổn định yêu cầu (RSF) 100%. Do đó, vừa thu hẹp dư địa LDR và phải bổ sung nguồn vốn ổn định.

Các quy định tại Thông tư 50 cho thấy khả năng đáp ứng chuẩn thanh khoản mới không chỉ phụ thuộc vào quy mô vốn, mà còn gắn chặt với chất lượng và kỳ hạn của nguồn vốn, tài sản tại từng ngân hàng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

Giá vàng hôm nay ngày 9/10: Vàng trong nước giảm, thế giới bật tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 27 USD/ounce, lên mức 4.140 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng chủ yếu đi ngang, còn vàng nhẫn có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

(TBTCO) - Từ nay đến hết tháng 12/2026, khách hàng tham gia Bảo hiểm Vật chất xe ô tô tại Tập đoàn Bảo hiểm DBV được tặng 1 năm gói Promy - Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường do DBV phối hợp cùng Allianz Partners triển khai, giúp khách hàng có thêm một lớp bảo vệ, từ tư vấn kỹ thuật đến hỗ trợ trực tiếp khi phương tiện gặp sự cố trên hành trình.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,300 ▲1800K 144,300 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,180 ▲180K 14,480 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 ▲180K 14,430 ▲160K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 ▲160K 14,310 ▲160K
Trang sức 99.99 13,720 ▲160K 14,320 ▲160K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 ▲1278K 14,482 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 ▲1278K 14,483 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 ▲18K 1,443 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 ▲18K 1,444 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 ▲1251K 1,433 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 ▲1782K 141,881 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▲1350K 107,636 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 ▲79146K 97,604 ▲87966K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 ▲1098K 87,572 ▲1098K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 ▲1049K 83,702 ▲1049K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 ▲751K 59,912 ▲751K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 ▲1278K 1,448 ▲1305K
Cập nhật: 09/10/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17530 17802 18382
CAD 17656 17930 18552
CHF 30500 30876 31528
CNY 0 3824 3921
EUR 28402 28618 29707
GBP 33455 33842 34797
HKD 0 3167 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14210 14800
SGD 19677 19958 20532
THB 687 750 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,680 25,680 26,060
USD(1-2-5) 24,653 - -
USD(10-20) 24,653 - -
EUR 28,478 28,501 29,853
JPY 158.92 159.21 168.83
GBP 33,636 33,727 34,902
AUD 17,723 17,787 18,463
CAD 17,847 17,904 18,564
CHF 30,771 30,867 31,774
SGD 19,792 19,854 20,633
CNY - 3,791 3,936
HKD 3,229 3,239 3,375
KRW 17.74 18.5 20.14
THB 735.57 744.65 797.37
NZD 14,203 14,335 14,761
SEK - 2,554 2,647
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,656 2,750
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,913.29 - 6,676.54
TWD 731.04 - 885.19
SAR - 6,772.25 7,134.18
KWD - 81,689 86,930
AED - 6,788 7,314
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,453 28,596 29,820
GBP 33,629 33,798 34,828
HKD 3,227 3,243 3,360
CHF 30,600 30,754 31,700
JPY 159.18 160.30 168.28
AUD 17,715 17,804 18,401
SGD 19,848 19,948 20,542
THB 751 755 793
CAD 17,851 17,941 18,537
NZD 14,277 14,832
KRW 18.61 20.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25665 25665 26050
AUD 17713 17813 18735
CAD 17834 17934 18948
CHF 30752 30782 32360
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28577 28607 30333
GBP 33762 33812 35570
HKD 0 3315 0
JPY 159.96 160.46 170.97
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14320 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19834 19964 20686
THB 0 716.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14200000 14200000 14550000
SBJ 12500000 12500000 14550000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,553 25,673 25,960
USD20 25,523 25,673 25,960
USD1 25,503 25,673 25,960
AUD 17,731 17,831 18,945
EUR 28,359 28,459 30,138
CAD 17,780 17,880 19,196
SGD 19,898 20,048 20,614
JPY 160.48 161.98 167.6
GBP 33,614 33,764 34,846
XAU 14,078,000 0 14,382,000
CNY 0 3,709 0
THB 0 751 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30