Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn

(TBTCO) - Thông tư số 50/2026/TT-NHNN không chỉ nâng cao các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng, mà còn đánh dấu sự chuyển dịch từ kiểm soát quy mô tín dụng sang kiểm soát cấu trúc bảng cân đối dựa trên chuẩn mực Basel III.
aa

Tín dụng vượt huy động, “hàng rào” an toàn được gia cố

Tại thời điểm Thông tư số 50/2026/TT-NHNN quy định về các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (Thông tư 50) được ban hành, tình trạng mất cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn của hệ thống ngân hàng đã bộc lộ rõ.

Báo cáo của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến ngày 30/9, tổng dư nợ hệ thống khoảng 20,75 triệu tỷ đồng, tăng 11,59% so với cuối năm trước.

Trong 5 năm gần đây, tăng trưởng tín dụng bình quân luôn cao hơn tăng trưởng huy động từ 3 - 4 điểm phần trăm.

Thông tư số 50/2026/TT-NHNN: Từ kiểm soát quy mô tín dụng đến kỷ luật nguồn vốn
Đến ngày 30/9, tổng dư nợ hệ thống ngân hàng khoảng 20,75 triệu tỷ đồng. Ảnh: An Thư

Nhằm mở rộng dư địa nguồn vốn, Ngân hàng Nhà nước đã nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung, dài hạn từ 30% lên 40%; đồng thời, cho phép tính 50% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào tổng tiền gửi, khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) giai đoạn 1/8/2026 - 31/7/2028.

Dù vậy, chi phí vốn của các ngân hàng thương mại vẫn gia tăng, lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng biến động mạnh. Diễn biến này cho thấy, điểm yếu của hệ thống không nằm ở quy mô thanh khoản ngắn hạn, mà ở sự thiếu hụt nguồn vốn ổn định, kỳ hạn dài.

Trong bối cảnh đó, Thông tư số 50 được ban hành, giúp nâng chuẩn các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng.

Về những thay đổi căn bản của Thông tư 50, thứ nhất, là thiết lập cấu trúc áp dụng nhiều tầng. Ngân hàng Hợp tác xã và các ngân hàng thương mại còn trong lộ trình theo khoản 3 Điều 23 Thông tư 41/2016/TT-NHNN tiếp tục thực hiện Thông tư 22/2019/TT-NHNN, kể cả trần LDR 85%.

Các ngân hàng còn lại áp dụng ngay các giới hạn cấp tín dụng, đầu tư, góp vốn của Thông tư 50, nhưng vẫn tuân thủ các tỷ lệ thanh khoản của Thông tư 22/2019/TT-NHNN, cho đến khi chuyển sang áp dụng tỷ lệ khả năng chi trả (LCR) và tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) - bắt buộc từ ngày 1/10/2028, hoặc sớm hơn nếu đăng ký kèm báo cáo đánh giá của Hội đồng quản trị và kiểm toán độc lập.

Thứ hai, định nghĩa lại LDR theo hướng gần với một “thước đo” nguồn vốn ổn định.

Lấy ngắn “nuôi” dài, bài toán giá vốn thêm sức ép

Khi hệ thống đang sử dụng khoảng 5,9 triệu tỷ đồng vốn ngắn hạn để cho vay trung - dài hạn, cơ chế định giá điều chuyển vốn nội bộ sẽ phải phản ánh đầy đủ phần bù thanh khoản theo kỳ hạn, khiến tín dụng dài hạn cho hạ tầng, bất động sản đắt hơn tương đối so với tín dụng vốn lưu động và tài trợ thương mại.

Theo Điều 12, ngoài tiền gửi của tổ chức và cá nhân, mẫu số còn bao gồm 20% tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, hoặc tỷ lệ khác do Thống đốc điều chỉnh; trái phiếu đủ điều kiện tính vào vốn cấp 2; vốn vay nước ngoài; vốn liên ngân hàng nhận ròng; vốn chủ sở hữu và lợi nhuận chưa phân phối; đồng thời, trừ đi số dư đầu tư trái phiếu doanh nghiệp và cấp tín dụng không phải cho vay.

Vì vậy, ngưỡng 95% và ngưỡng 85% không thể so sánh cơ học. Cách tính mới khuyến khích vốn dài hạn, vốn chủ sở hữu và hạn chế việc chuyển cho vay sang đầu tư trái phiếu doanh nghiệp để giảm áp lực tỷ lệ.

Thứ ba, LDR trở thành công cụ chuyển tiếp có điều kiện. Khi LCR và NSFR cùng đạt tối thiểu 100%, ngân hàng không phải tuân thủ LDR, nhưng vẫn phải báo cáo và Ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu tuân thủ trở lại.

Tái định hình bảng cân đối ngân hàng

Đánh giá tác động tới các mảng hoạt động trọng yếu của ngân hàng, trước hết, ở hoạt động huy động vốn, trọng tâm cạnh tranh dự kiến sẽ dần chuyển từ quy mô sang mức độ ổn định của nguồn vốn.

Theo quy định tại Thông tư 50, tiền gửi bán lẻ ổn định - phần được bảo hiểm toàn bộ và gắn với quan hệ khách hàng - có hệ số rút tiền 5%, tiền gửi bán lẻ còn lại và tiền gửi bán lẻ bằng ngoại tệ là 10%, tiền gửi của doanh nghiệp, Chính phủ và Kho bạc Nhà nước là 40%. Trong NSFR, vốn nhận từ tổ chức tín dụng kỳ hạn dưới 6 tháng có hệ số ASF bằng 0.

Do đó, việc nâng hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi lên 350 triệu đồng từ ngày 13/7/2026 có ý nghĩa vượt ra ngoài mục tiêu bảo vệ người gửi tiền, vì mở rộng đáng kể phần tiền gửi được xếp vào nhóm ổn định.

Đáng chú ý, tiền gửi Kho bạc Nhà nước được quy định khác nhau theo thông tư mới: được tính 20% vào mẫu số, LDR nhưng chịu hệ số rút tiền 40% trong LCR và chỉ được công nhận 50% trong NSFR, nên chi phí thanh khoản thực của nguồn vốn này cao hơn đáng kể so với chi phí lãi danh nghĩa.

Thứ hai, đối với tín dụng, NSFR buộc ngân hàng định giá lại rủi ro kỳ hạn.

Khoản vay dưới một năm có hệ số nguồn vốn ổn định yêu cầu (RSF) 50%; khoản vay từ một năm trở lên có hệ số rủi ro không quá 35% áp dụng RSF 65%, còn khoản có hệ số rủi ro trên 35% áp dụng RSF lên tới 85%.

Cũng cần lưu ý, Điều 1 Thông tư 50 cho phép xem xét riêng nguồn vốn, dư nợ của các chương trình, dự án theo quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Cơ chế này cần tiêu chí minh bạch, để không làm suy giảm kỷ luật thanh khoản của hệ thống.

Thứ ba, đối với danh mục đầu tư, LCR tạo ra nhu cầu mang tính cấu trúc với tài sản có tính thanh khoản cao (HQLA).

Trần nắm giữ trái phiếu Chính phủ ở mức 30% tổng nợ phải trả bình quân theo Điều 28, được đánh giá đủ rộng so với nhu cầu HQLA, nên “điểm nghẽn” thực sự là độ sâu của thị trường thứ cấp và thị trường mua bán lại (repo).

Cùng với đó, trái phiếu doanh nghiệp chỉ được tính vào HQLA, trong đó yêu cầu xếp hạng tín nhiệm từ BBB- hoặc AA- trở lên tùy nhóm. Trong điều kiện thị trường xếp hạng tín nhiệm còn sơ khai, quy định này gián tiếp tạo động lực cho hoạt động xếp hạng và niêm yết trái phiếu.

Thứ tư, đối với quản trị vốn, tỷ lệ đòn bẩy (LEV) hoàn thiện ba trụ định lượng của Basel III, cùng với tỷ lệ an toàn vốn và các chuẩn thanh khoản. Ngưỡng và thời điểm áp dụng do Thống đốc quyết định, song tỷ lệ này đóng vai trò giới hạn dự phòng khi ngân hàng chuyển sang phương pháp xếp hạng nội bộ theo Thông tư 14/2025/TT-NHNN.

Thứ năm, đối với quản trị rủi ro và dữ liệu, yêu cầu quản lý thanh khoản trong ngày, kiểm tra sức chịu đựng hằng quý với dữ liệu tối thiểu 10 năm và công bố thông tin thanh khoản tối thiểu 6 tháng một lần.

Kinh nghiệm từ sự đổ vỡ của Silicon Valley Bank năm 2023 cho thấy, tiền gửi có thể bị rút rất nhanh qua kênh số. Vì vậy, ngân hàng nên tách riêng tiền gửi huy động qua kênh số khi phân nhóm hành vi trong kiểm tra sức chịu đựng, thay vì áp dụng mặc định hệ số rút tiền 10%.

“Luật chơi” mới, lợi thế không chỉ ở tăng trưởng tín dụng

Từ những thay đổi trên, đối với ngân hàng thương mại, cần sớm tính toán song song LCR và NSFR để cân nhắc đăng ký áp dụng sớm, tái cấu trúc cơ chế định giá điều chuyển vốn theo kỳ hạn, giảm phụ thuộc vào vốn liên ngân hàng ngắn hạn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước. Đồng thời, kéo dài kỳ hạn nguồn vốn qua tiền gửi dài hạn, vốn cấp 2, trái phiếu xanh và vốn từ các định chế tài chính phát triển.

Đối với cơ quan quản lý, cần xác định thời hạn chuyển đổi cho nhóm ngân hàng còn áp dụng Thông tư 22/2019/TT-NHNN, công khai tiêu chí xem xét riêng đối với các chương trình, dự án. Đồng thời, phát triển thị trường repo trái phiếu Chính phủ và thị trường xếp hạng tín nhiệm; giảm dần cơ chế phân bổ hạn mức tăng trưởng tín dụng nhằm tránh ràng buộc “kép”.

Có thể khẳng định, Thông tư 50 không nhằm nới lỏng tín dụng, mà thay đổi nền tảng cạnh tranh của ngành ngân hàng. Giai đoạn 5 năm tới, lợi thế sẽ thuộc về những ngân hàng có cơ cấu nguồn vốn bền vững, bảng cân đối cân xứng kỳ hạn và hệ thống dữ liệu đủ năng lực, thay vì những ngân hàng chỉ tập trung vào tốc độ tăng trưởng dư nợ.

PGS.TS. Nguyễn Bích Ngân - Học viện Ngân hàng

Đọc thêm

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

VDB được ADFIAP vinh danh với giải thưởng cống hiến về phát triển cơ sở hạ tầng

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) vừa được Hiệp hội các Tổ chức tài chính phát triển khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ADFIAP) trao Giải thưởng Cống hiến cho Hạng mục 4: Phát triển cơ sở hạ tầng, thuộc chương trình Giải thưởng Dự án phát triển xuất sắc năm 2026.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Bảo hiểm xã hội Việt Nam dồn lực về đích năm 2026

Với nền tảng là những kết quả tích cực trong 9 tháng đầu năm, hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam đang dồn lực tăng tốc trong quý IV, tập trung nguồn lực để hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu, nhiệm vụ năm 2026.
Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

Doanh nhân dự kiến dành 21% doanh thu đầu tư vào AI

(TBTCO) - Theo Báo cáo Tài sản Doanh nhân Toàn cầu năm 2026 của HSBC, 79% doanh nhân tham gia khảo sát dự định tăng đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) cho hoạt động kinh doanh chính trong 12 tháng tới. Mức chi tiêu liên quan đến AI dự kiến chiếm trung bình 21% doanh thu hằng năm, tương đương tổng mức đầu tư dự kiến 367 tỷ USD.
Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

Chubb Life Việt Nam cùng Zalopay mang “Nhà Mình An” đến với người dùng số

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) và ứng dụng thanh toán tài chính Zalopay vừa chính thức ký kết hợp tác phân phối sản phẩm Bảo hiểm Tử kỳ tái tục hàng năm mở rộng trên nền tảng Zalopay. Hợp tác đánh dấu bước tiến mới trong chiến lược mở rộng và đa dạng hóa kênh phân phối số của Chubb Life Việt Nam, giúp khách hàng tiếp cận các giải pháp bảo vệ thuận tiện hơn ngay trên những nền tảng số quen thuộc.
Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

Tỷ giá USD hôm nay (8/10): DXY bật tăng khi lợi suất trái phiếu Mỹ chạm đỉnh 24 năm, Fed còn tăng lãi suất

(TBTCO) - Sáng 8/10, tỷ giá trung tâm giảm 4 đồng xuống 25.634 đồng, USD tại các ngân hàng cũng giảm nhẹ. Ngược chiều, chỉ số DXY tăng 0,4% lên 102,25 điểm khi lợi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 năm chạm 5,28%, gần mức cao nhất kể từ tháng 5/2002, cùng kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất cuối năm.
Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

Bảo hiểm DBV tặng dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường cho khách hàng

(TBTCO) - Từ nay đến hết tháng 12/2026, khách hàng tham gia Bảo hiểm Vật chất xe ô tô tại Tập đoàn Bảo hiểm DBV được tặng 1 năm gói Promy - Dịch vụ hỗ trợ khẩn cấp trên đường do DBV phối hợp cùng Allianz Partners triển khai, giúp khách hàng có thêm một lớp bảo vệ, từ tư vấn kỹ thuật đến hỗ trợ trực tiếp khi phương tiện gặp sự cố trên hành trình.
Ngành ngân hàng quyết liệt xử lý nợ xấu, VAMC đặt trọng tâm phát triển thị trường mua bán nợ

Ngành ngân hàng quyết liệt xử lý nợ xấu, VAMC đặt trọng tâm phát triển thị trường mua bán nợ

(TBTCO) - Lãnh đạo VAMC cho biết sẽ chuyển dịch trọng tâm sang phát triển thị trường mua bán nợ thời gian tới, trong đó, dự kiến vận hành sàn giao dịch nợ cuối năm 2027 hoặc đầu năm 2028. Ngân hàng Nhà nước chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai quyết liệt các phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu, hạn chế tối đa nợ xấu phát sinh.
Vietcombank đồng đầu tư Quán Nhà Haha, đưa dàn nghệ sĩ lên bộ sưu tập thiết kế thẻ độc quyền

Vietcombank đồng đầu tư Quán Nhà Haha, đưa dàn nghệ sĩ lên bộ sưu tập thiết kế thẻ độc quyền

(TBTCO) - Tại họp báo ra mắt Quán Nhà Haha, Vietcombank khẳng định vai trò Nhà đồng đầu tư và giới thiệu bộ sưu tập thẻ ghi nợ quốc tế Vietcombank Visa Haha Collection. Với 17 thiết kế, trong đó có tới 15 thiết kế lấy cảm hứng từ dàn nghệ sĩ và 2 thiết kế từ Quán Nhà Haha, bộ thẻ mở đầu chuỗi hoạt động đưa khách hàng đến gần hơn với chương trình, từ những giao dịch hằng ngày đến các cuộc gặp gỡ và Fan Meeting.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,200 ▲700K 143,200 ▲700K
Hà Nội - PNJ 140,200 ▲700K 143,200 ▲700K
Đà Nẵng - PNJ 140,200 ▲700K 143,200 ▲700K
Miền Tây - PNJ 140,200 ▲700K 143,200 ▲700K
Tây Nguyên - PNJ 140,200 ▲700K 143,200 ▲700K
Đông Nam Bộ - PNJ 140,200 ▲700K 143,200 ▲700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,080 ▲80K 14,380 ▲80K
Miếng SJC Nghệ An 14,080 ▲80K 14,380 ▲80K
Miếng SJC Thái Bình 14,080 ▲80K 14,380 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,970 ▲100K 14,350 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,970 ▲100K 14,350 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,970 ▲100K 14,350 ▲80K
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,630 ▲80K 14,230 ▲80K
Trang sức 99.99 13,640 ▲80K 14,240 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,408 ▲1268K 14,382 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,408 ▲1268K 14,383 ▲80K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,403 ▲8K 1,433 ▲8K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,403 ▲8K 1,434 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,378 ▲1241K 1,423 ▲8K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,891 ▲792K 140,891 ▲792K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,086 ▲600K 106,886 ▲600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,124 ▲78466K 96,924 ▲87286K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,162 ▲488K 86,962 ▲488K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,319 ▲466K 83,119 ▲466K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,695 ▲334K 59,495 ▲334K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,408 ▲1268K 1,438 ▲1295K
Cập nhật: 09/10/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17488 17761 18337
CAD 17643 17917 18537
CHF 30454 30829 31494
CNY 0 3814 3910
EUR 28375 28591 29674
GBP 33401 33788 34738
HKD 0 3161 3363
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14193 14780
SGD 19647 19928 20501
THB 685 748 801
USD (1,2) 25571 0 0
USD (5,10,20) 25609 0 0
USD (50,100) 25636 25650 26020
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,630 25,630 26,010
USD(1-2-5) 24,605 - -
USD(10-20) 24,605 - -
EUR 28,410 28,433 29,785
JPY 158.82 159.11 168.75
GBP 33,568 33,659 34,833
AUD 17,680 17,744 18,417
CAD 17,824 17,881 18,544
CHF 30,697 30,792 31,710
SGD 19,757 19,818 20,596
CNY - 3,781 3,926
HKD 3,223 3,233 3,369
KRW 17.73 18.49 20.13
THB 733.05 742.1 794.42
NZD 14,178 14,310 14,736
SEK - 2,549 2,639
DKK - 3,811 3,946
NOK - 2,655 2,751
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,900.33 - 6,662.1
TWD 729.84 - 884.32
SAR - 6,757.09 7,122.77
KWD - 81,530 86,763
AED - 6,774 7,301
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,680 25,710 26,090
EUR 28,459 28,602 29,827
GBP 33,640 33,809 34,839
HKD 3,230 3,246 3,363
CHF 30,609 30,763 31,709
JPY 159.58 160.70 168.68
AUD 17,700 17,789 18,385
SGD 19,858 19,958 20,552
THB 750 754 791
CAD 17,873 17,963 18,560
NZD 14,278 14,833
KRW 18.59 20.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25600 25630 26000
AUD 17641 17741 18674
CAD 17804 17904 18921
CHF 30660 30690 32290
CNY 3792.5 3817.5 3952.8
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28512 28542 30264
GBP 33659 33709 35472
HKD 0 3315 0
JPY 159.86 160.36 170.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14278 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19781 19911 20636
THB 0 713.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14180000 14180000 14420000
SBJ 12500000 12500000 14420000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,616 25,736 26,100
USD20 25,586 25,736 26,100
USD1 25,566 25,736 26,100
AUD 17,702 17,802 18,917
EUR 28,316 28,416 30,077
CAD 17,757 17,857 19,165
SGD 19,903 20,053 20,611
JPY 160.67 162.17 167.75
GBP 33,560 33,710 34,990
XAU 13,998,000 0 14,302,000
CNY 0 3,715 0
THB 0 749 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/10/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30