Người bệnh bảo hiểm y tế ở Việt Nam được đảm bảo cao về các quyền lợi

Hà My
(TBTCO) - Quỹ Bảo hiểm y tế hàng năm chi trả cao cho người bệnh, mặc dù quỹ rất hạn chế, đóng trung bình chỉ trên dưới 1 triệu/người/năm cho cả người đóng cao và thấp.
aa

Ngày 8/7, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam tổ chức Hội nghị cung cấp thông tin chuyên đề về chính sách bảo hiểm y tế (BHYT).

Người bệnh bảo hiểm y tế ở Việt Nam được đảm bảo cao về các quyền lợi
Phó Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Đào Việt Ánh chủ trì hội nghị. Ảnh: LV

Quyền lợi về thuốc tốt với danh mục rộng

Phát biểu tại hội nghị, Phó Tổng giám đốc BHXH Việt Nam Đào Việt Ánh cho biết, chính sách BHYT ở nước ta ngày càng phát triển, hoàn thiện theo hướng mở rộng và bảo đảm tốt nhất quyền lợi BHYT của người tham gia. Đặc biệt, người có công, người nghèo và các đối tượng chính sách xã hội, trẻ em dưới 6 tuổi đã được Nhà nước quan tâm hỗ trợ trong việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ y tế. Thời gian qua, Quỹ BHYT đã tạo nguồn tài chính chủ lực và có đóng góp đáng kể cho công tác khám chữa bệnh (KCB) BHYT.

BHXH Việt Nam cho biết, đến hết tháng 6/2022, cả nước có trên 17,1 triệu người tham gia BHXH đạt 33,87% lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng 6,16% so với cùng kỳ năm 2021 (trong đó, số người tham gia BHXH tự nguyện đạt gần 1,5 triệu người); gần 14 triệu người tham gia BHTN đạt 27,55% lực lượng lao động trong độ tuổi, tăng 5,13% so với cùng kỳ năm 2021; trên 86,8 triệu người tham gia BHYT đạt tỷ lệ bao phủ 88,99% dân số.

Một trong những thành tựu quan trọng trong công tác tổ chức thực hiện chính sách BHYT là tỷ lệ người dân tham gia BHYT ở nước ta có sự tăng trưởng vượt bậc qua các năm. Cùng với đó, trung bình hàng năm, có hơn 100 triệu lượt người khám chữa bệnh BHYT được đảm bảo quyền lợi. Năm 2020 - 2021 do tác động của dịch Covid-19, Quỹ BHYT đã cùng ngân sách nhà nước góp phần không nhỏ trong công tác khắc phục hậu quả và phòng chống dịch Covid-19, tiếp tục khẳng định vai trò trụ cột của chính sách BHYT trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia.

Theo ông Lê Văn Phúc - Trưởng ban Thực hiện chính sách BHYT (BHXH Việt Nam), đánh giá chung trong những năm qua, người bệnh BHYT ở Việt Nam được đảm bảo khá tốt về các quyền lợi. Đơn cử như dịch vụ kỹ thuật rất đầy đủ, có gần 10.000 dịch vụ kỹ thuật được BHYT chi trả, từ dịch vụ cao cấp nhất PET/CT, mổ bằng robot đến dịch vụ đơn giản như xét nghiệm máu, nước tiểu, dịch vụ phục hồi chức năng, đông y…

Bên cạnh đó, quyền lợi về thuốc ở Việt Nam rất tốt với cả 2 danh mục: thuốc tân dược và thuốc đông y. Về thuốc tân dược, hiện có 1.030 thuốc hóa dược, mỹ phẩm và 59 thuốc phóng xạ, chất đánh dấu với 25 hoạt chất quy định tỷ lệ thanh toán và 31 hợp chất quy định cả điều kiện thanh toán và tỷ lệ thanh toán… Ngoài ra còn có danh mục thuốc đông y với 349 vị thuốc y học cổ truyền và 229 thuốc cổ truyền được Quỹ BHYT thanh toán.

“Nếu so sánh với các nước Thái Lan, Indonesia, Philippines thì danh mục thuốc thuộc BHYT chi trả chỉ khoảng 600 loại. Điều đó cho thấy người dân Việt Nam được tiếp cận thuốc tốt, với danh mục rộng, kể cả thuốc mới, thuốc biệt dược gốc cũng rất rộng. Chúng ta đang chi trả cả những loại thuốc ung thư đang được chỉ định trong khi nhiều nước không chi trả, hoặc chi trả rất hạn chế” - ông Phúc nhấn mạnh.

Cũng theo ông Phúc, Quỹ BHYT hàng năm chi trả rất cao cho người bệnh, mặc dù quỹ rất hạn chế, đóng trung bình trên dưới 1 triệu/người/năm cho cả người đóng cao và thấp. Quỹ triển khai thanh toán KCB từ trạm y tế xã phường tới bệnh viện tuyến trung ương, người đóng BHYT cao hay BHYT theo hộ gia đình cũng được thanh toán như nhau, thậm chí những đối tượng yếu thế, người nghèo được thanh toán 95 - 100% chi phí KCB BHYT.

Thực hiện tạm ứng chi phí đầy đủ cho các cơ sở y tế

Người bệnh bảo hiểm y tế ở Việt Nam được đảm bảo cao về các quyền lợi
Người bệnh chờ khám chữa bệnh tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương. Ảnh: LV

Thông tin xung quanh vấn đề thiếu thuốc, vật tư y tế thời gian qua, ông Lê Văn Phúc cho biết, về việc này, thường trực Chính phủ đã họp, Bộ Y tế, Bộ Tài chính, BHXH Việt Nam đã ngồi lại với nhau, phân tích mổ xẻ nguyên nhân nào để gỡ khó. Do cơ chế chính sách thì gỡ từ cơ chế chính sách liên quan đến mua sắm đấu thầu, do tổ chức thực hiện thì khắc phục từ tổ chức thực hiện. BHXH Việt Nam là đơn vị tổ chức thực hiện và đã phối hợp hiệu quả với Bộ Y tế trong xây dựng chính sách.

Về công tác đấu thầu thuốc trong thời gian vừa qua, BHXH Việt Nam tham gia theo Nghị định 63, tham gia đấu thầu thuốc từ cấp trung ương tới địa phương. BHXH Việt Nam cũng yêu cầu BHXH các địa phương luôn phải theo dõi việc đấu thầu đã sắp hết hạn hay chưa, thông báo tới sở y tế, các cơ sở KCB về việc đó.

Theo thống kê, có 7 địa phương đã hết hạn đấu thầu từ 2021 mà đến tận tháng 6/2022 chưa làm được kết quả đấu thầu cho năm 2022, làm ảnh hưởng tới việc thiếu thuốc. Lại có những địa phương chỉ đấu thầu thuốc theo danh mục mà Bộ Y tế quy định cho địa phương mà không mở rộng. Thêm vào đó, trong giai đoạn Coivd-19 vừa qua, việc tập trung nhân lực cho công tác đấu thầu còn hạn chế.

Ông Phúc cũng thông tin, mới đây Bộ Y tế thông báo đã mở được gói thầu và chuẩn bị công bố kết quả đấu thầu tập trung trong tháng 7 này. Theo ông Phúc, điều này là rất quan trọng vì thầu của Bộ Y tế gần 10.000 tỷ đồng, chiếm 1/4 số chi tiền thuốc trong 1 năm. Nếu chậm thầu từ trung ương thì cũng sẽ ảnh hưởng tới cung ứng thuốc tại các địa phương vì đó là những loại thuốc rất quan trọng, chủ yếu là thuốc nhóm 1, nhóm 2…

BHXH cũng đã có văn bản gửi BHXH các địa phương triển khai bám sát việc này, phối hợp với sở y tế các địa phương, cũng như các cơ sở y tế để nhắc nhở triển khai thực hiện mua sắm thuốc, đảm bảo không thiếu thuốc.

Ngoài ra, BHXH Việt Nam cũng thực hiện công tác giám định, thanh toán một cách nhanh nhất, tạm ứng chi phí cho các cơ sở y tế đầy đủ theo quy định, để tránh bị thiếu tiền khi có kết quả trúng thầu của Bộ Y tế…

Lũy kế đến hết tháng 6/2022, toàn ngành BHXH đã giải quyết đầy đủ, kịp thời các chế độ BHXH, BHYT, bảo hiểm thất nghiệp cho gần 6,3 triệu lượt người hưởng chế độ ốm đau, thai sản, dưỡng sức, phục hồi sức khỏe; giải quyết khoảng 409 nghìn người hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp; giải quyết cho gần 65 triệu lượt người KCB BHYT nội trú và ngoại trú…
Hà My

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (21/9): USD phân hóa, DXY neo vùng cao nhất 7 tuần khi thị trường chờ dữ liệu từ Mỹ

(TBTCO) - Sáng 21/9, Ngân hàng Nhà nước giữ tỷ giá trung tâm ở mức 25.637 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,23 điểm, duy trì vùng cao nhất khoảng 7 tuần. Tuần này, thị trường tập trung vào loạt dữ liệu kinh tế Mỹ, Hội nghị thượng đỉnh Mỹ - Trung và các cuộc họp chính sách của nhiều ngân hàng trung ương lớn.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP, nhiều lực đẩy mới mở rộng nguồn vốn tỷ USD cho nền kinh tế

(TBTCO) - UOB nâng dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam giữa lúc nền kinh tế đón nhiều động lực mới để mở rộng nguồn vốn. Với nhu cầu 1,5 nghìn tỷ USD giai đoạn 2026 - 2030, lực đẩy từ nâng hạng thị trường chứng khoán, lập VIFC đến chiến lược “FDI 2.0”... mở thêm dư địa huy động vốn cho nền kinh tế, giảm sức ép lên ngân hàng và ngân sách nhà nước.
DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

DBV ra mắt bảo hiểm ô tô điện, bảo vệ chuyên biệt cho pin và rủi ro sạc

(TBTCO) - Tập đoàn Bảo hiểm DBV chính thức giới thiệu sản phẩm Bảo hiểm Ô tô điện, giải pháp chuyên biệt dành cho phương tiện sử dụng năng lượng xanh, hướng tới mở rộng phạm vi bảo vệ và đồng hành với khách hàng suốt quá trình sở hữu, vận hành xe.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Hà Nội - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Miền Tây - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,100 ▼500K 147,100 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,410 ▼50K 14,710 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 14,410 ▼50K 14,710 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 14,410 ▼50K 14,710 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,360 ▼50K 14,710 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,360 ▼50K 14,710 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,360 ▼50K 14,710 ▼50K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,020 ▼50K 14,620 ▼50K
Trang sức 99.99 14,030 ▼50K 14,630 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,441 ▼5K 14,712 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,441 ▼5K 14,713 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,436 ▼5K 1,466 ▼5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,436 ▼5K 1,467 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,411 ▼5K 1,456 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,158 ▼495K 144,158 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,561 ▼375K 109,361 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,368 ▼340K 99,168 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,175 ▲71227K 88,975 ▲80047K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,243 ▼292K 85,043 ▼292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,071 ▲45943K 60,871 ▲54763K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,441 ▼5K 1,471 ▼5K
Cập nhật: 21/09/2026 13:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18000 18274 18850
CAD 18039 18314 18928
CHF 30950 31327 31973
CNY 0 3841 3937
EUR 29212 29432 30508
GBP 33991 34381 35308
HKD 0 3184 3386
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14570 15158
SGD 19848 20130 20696
THB 696 759 812
USD (1,2) 25746 0 0
USD (5,10,20) 25785 0 0
USD (50,100) 25813 25827 26193
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,820 25,820 26,200
USD(1-2-5) 24,788 - -
USD(10-20) 24,788 - -
EUR 29,272 29,295 30,684
JPY 161.27 161.56 171.31
GBP 34,192 34,285 35,471
AUD 18,187 18,253 18,950
CAD 18,233 18,292 18,969
CHF 31,232 31,329 32,248
SGD 19,962 20,024 20,809
CNY - 3,809 3,954
HKD 3,248 3,258 3,395
KRW 17.29 18.03 19.62
THB 744.24 753.43 806.47
NZD 14,545 14,680 15,118
SEK - 2,599 2,691
DKK - 3,926 4,065
NOK - 2,713 2,811
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,960.1 - 6,727.23
TWD 737.68 - 893.72
SAR - 6,805.55 7,168.69
KWD - 82,348 87,625
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,309 29,427 30,627
GBP 34,205 34,342 35,368
HKD 3,248 3,261 3,378
CHF 31,091 31,216 32,159
JPY 161.83 162.48 170.46
AUD 18,193 18,266 18,860
SGD 20,036 20,116 20,706
THB 761 764 801
CAD 18,249 18,322 18,912
NZD 14,631 15,173
KRW 17.95 19.92
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25820 25820 26200
AUD 18188 18288 19213
CAD 18225 18325 19340
CHF 31205 31235 32816
CNY 3824.8 3849.8 3985.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29398 29428 31154
GBP 34302 34352 36122
HKD 0 3305 0
JPY 162.18 162.68 173.23
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14693 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20009 20139 20870
THB 0 726.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14410000 14410000 14710000
SBJ 13000000 13000000 14710000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,700 25,820 26,210
USD20 25,670 25,820 26,210
USD1 25,650 25,820 26,210
AUD 18,213 18,313 19,453
EUR 29,197 29,297 30,993
CAD 18,170 18,270 19,598
SGD 20,076 20,226 20,809
JPY 162.93 164.43 170.2
GBP 34,203 34,353 35,710
XAU 14,458,000 0 14,762,000
CNY 0 3,730 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 21/09/2026 13:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30