Pháp lý hoàn thiện mở đường cho thanh toán điện tử tăng tốc

Chí Tín
(TBTCO) - Mới đây, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 52/2024/NĐ-CP quy định về thanh toán không dùng tiền mặt, thay thế Nghị định số 101/2012/NĐ-CP. Đây được coi là một văn bản quan trọng tạo “bệ phóng” cho hoạt động thanh toán thời gian tới.
aa
Pháp lý hoàn thiện mở đường cho thanh toán điện tử tăng tốc
Nguồn: Ngân hàng Nhà nước. Đồ họa: Phương Anh

Bổ sung nhiều nội dung mới

Nghị định số 52 sẽ có hiệu lực từ ngày 1/7/2024, theo Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - cơ quan chủ trì soạn thảo - đây là văn bản pháp lý quan trọng về lĩnh vực thanh toán không dùng tiền mặt, có ảnh hưởng rộng đến nhiều lĩnh vực, đối tượng, tổ chức, cá nhân liên quan; góp phần tạo lập khuôn khổ pháp lý cơ bản, vững chắc cho hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt. Việc này cũng tạo thuận lợi cho chuyển đổi số ngành ngân hàng và phát triển các sản phẩm, dịch vụ thanh toán mới, tiện ích, an toàn với chi phí hợp lý.

Quy định cụ thể về vận hành, giám sát hệ thống

Nghị định 52/2024/NĐ-CP đã bổ sung một số quy định về tổ chức, quản lý, vận hành và giám sát hệ thống thanh toán quốc gia và quy định về giám sát các hệ thống thanh toán quan trọng trong nền kinh tế; bổ sung rõ hơn chức năng giám sát hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và dịch vụ thanh toán (Điều 4, Điều 33-35); bổ sung một số quy định chuyển tiếp hướng dẫn chi tiết đối với các trường hợp ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ chuyển mạch tài chính đã tham gia các hệ thống thanh toán quốc tế…

Một trong những điểm mới của Nghị định 52 là bổ sung quy định về tiền điện tử (e-money); trong đó, định nghĩa, làm rõ bản chất của tiền điện tử (Điều 3); quy định cụ thể các hình thức thể hiện của tiền điện tử được sử dụng trong hoạt động thanh toán bao gồm ví điện tử, thẻ trả trước (Điều 6). Đối tượng cung ứng tiền điện tử bao gồm: ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (cung ứng dịch vụ ví điện tử, thẻ trả trước) và tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (cung ứng dịch vụ ví điện tử liên kết với tài khoản thanh toán của khách hàng mở tại ngân hàng).

Việc hoàn thiện quy định pháp lý cho tiền điện tử tại Nghị định 52 sẽ góp phần ngăn ngừa, loại trừ các phương tiện thanh toán không hợp pháp do các tổ chức không được phép phát hành, hỗ trợ các cơ quan có thẩm quyền trong việc ngăn ngừa, đấu tranh với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực tiền điện tử (theo Đề án hoàn thiện khung pháp lý để quản lý, xử lý đối với các loại tài sản ảo, tiền điện tử, tiền ảo đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kèm theo Quyết định số 1255/QĐ-TTg ngày 21/8/2017).

Ngoài ra, Nghị định 52 còn các nội dung bổ sung quy định về thanh toán quốc tế; sửa đổi, bổ sung quy định về mở và sử dụng tài khoản thanh toán; bổ sung quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ thanh toán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụ công ích (Điều 18-20). Nghị định 52 cũng sửa đổi, bổ sung quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán.

“Bệ phóng” cho hoạt động thanh toán

Với nền tảng pháp lý quan trọng là Nghị định 52 đã được Chính phủ ban hành, các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt sẽ có nhiều điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt trong 3 tháng đầu năm đã tăng 56,57% về số lượng và 31,35% về giá trị; qua kênh internet tăng tương ứng 48,81% và 25,73%; qua kênh điện thoại di động tăng tương ứng 58,70% và 33,12%.

Hiện nay, các tổ chức tín dụng cũng đang phối hợp với các doanh nghiệp được Bộ Công an cấp giấy phép cung cấp giải pháp xác thực người dùng bằng thẻ căn cước công dân gắn chip để tổ chức triển khai giải pháp xác thực khách hàng. Trong đó có nhiều ngân hàng đã ký kết hợp đồng, đang triển khai thực tế: 48 tổ chức tín dụng đã và đang triển khai ứng dụng xác thực khách hàng bằng thẻ căn cước công dân gắn chíp qua ứng dụng điện thoại; 60 tổ chức tín dụng đã và đang triển khai ứng dụng xác thực khách hàng bằng thẻ căn cước công dân gắn chíp qua thiết bị tại quầy.

Về làm sạch dữ liệu, đến nay đã có 24 tổ chức tín dụng đã ký kết với C06 (Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội - Bộ Công an) triển khai làm sạch dữ liệu khách hàng theo phương thức offline; 19 tổ chức tín dụng đang triển khai thử nghiệm ứng dụng tài khoản định danh và xác thực điện tử (VNeID) vào các nghiệp vụ: mở tài khoản thanh toán; xác thực giao dịch thanh toán; đối chiếu, xác thực thông tin khách hàng; 7 tổ chức tín dụng đã và đang triển khai giải pháp chấm điểm khả tín.

Ngân hàng Nhà nước cho biết, thời gian tới cơ quan này sẽ tiếp tục tạo thuận lợi cho các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thanh toán an toàn, bảo mật, tiện ích, đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng… Về mở rộng hợp tác thanh toán xuyên biên giới, theo Thống đôc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Thị Hồng, Việt Nam đã hoàn thành kết nối thanh toán xuyên biên giới qua mã QR với Thái Lan, Campuchia và đang triển khai với Lào, dự kiến sẽ tiếp tục mở rộng ra các nước trong và ngoài khu vực ASEAN.

Pháp lý hoàn thiện mở đường cho thanh toán điện tử tăng tốc

ÔNG PHẠM ANH TUẤN - VỤ TRƯỞNG VỤ THANH TOÁN NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM:

Một số mục tiêu đến năm 2025 đã vượt tiến độ

Tính theo bình quân toàn ngành, nhiều mục tiêu đã tiệm cận hoặc vượt mục tiêu đặt ra đến năm 2025: 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện được cung cấp dưới hình thức dịch vụ công toàn trình; trên 90% hồ sơ công việc được xử lý và lưu trữ trên môi trường mạng (trừ hồ sơ công việc thuộc phạm vi bí mật nhà nước). Ngoài ra, 80% hồ sơ công việc được xử lý trên môi trường số ; 55% nghiệp vụ ngân hàng số hóa hoàn toàn; 49% khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán điện tử; 66% số lượng giao dịch của khách hàng thực hiện trên kênh số…

Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành và triển khai Kiến trúc Chính phủ điện tử 2.0; ứng dụng công nghệ trong công tác xử lý văn bản, quản trị điều hành. Các tổ chức tín dụng tiếp tục đẩy mạnh tích hợp, kết nối mở rộng với các ngành, lĩnh vực khác để thiết lập hệ sinh thái số và cung ứng đa dạng các sản phẩm, dịch vụ thân thiện, an toàn tiện lợi, tiết giảm chi phí. Đến nay đã có 57% các ngân hàng trong nước đã thí điểm và triển khai rộng rãi mô hình chi nhánh tự phục vụ cho phép khách hàng tự thực hiện.

Pháp lý hoàn thiện mở đường cho thanh toán điện tử tăng tốc

ÔNG TRẦN NHẤT MINH - PHÓ TỔNG GIÁM ĐỐC, KIÊM GIÁM ĐỐC KHỐI DỊCH VỤ CÔNG NGHỆ NGÂN HÀNG VIB:

Giải pháp tài chính số cho doanh nghiệp SME là yêu cầu then chốt

Các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Hiệp hội doanh nghiệp SME Việt Nam, hiện có khoảng 873.000 doanh nghiệp SME chiếm 98% doanh nghiệp tại Việt Nam, đóng góp vào tạo công ăn, việc làm cho người lao động. Dự báo doanh nghiệp SME sẽ tăng lên khoảng 2,4 triệu trong năm 2030.

Thị trường SME tại Việt Nam cũng ngày càng cạnh tranh và thách thức về tài chính từ tìm nguồn vốn khởi nghiệp, quản lý doanh thu, chi phí hằng ngày… Do đó, tối ưu hóa chi phí và nguồn lực sẽ trở thành vấn đề sống còn. Quản lý tài chính chưa bao giờ là việc dễ dàng đối với SME, họ cần giải pháp tài chính dễ dàng, tối ưu hóa quản lý thu chi…

Do đó, doanh nghiệp SME cần giải pháp vay vốn linh hoạt, đáp ứng nhu cầu vốn ngắn và dài hạn, cũng như các sản phẩm tiết kiệm linh hoạt có lãi suất cạnh tranh để tối ưu hóa lợi ích. Ngoài ra, khi mở rộng hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp SME cần giải pháp hỗ trợ thanh toán, giải pháp tài chính bền vững. Về cơ bản, giải pháp tài chính số cho SME là yêu cầu then chốt để kinh doanh hiệu quả hơn.

Hoàng Long (ghi)

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

Tỷ giá USD hôm nay (1/7): Ngân hàng bán USD kịch trần, tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ

(TBTCO) - Sáng 1/7, trong phiên giao dịch đầu tháng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam giữ nguyên tỷ giá trung tâm ở mức 25.206 đồng, trong khi các ngân hàng thương mại niêm yết giá bán USD kịch trần 26.466 đồng. Chỉ số DXY tăng lên 101,17 điểm, hỗ trợ đồng USD đi lên và đẩy tỷ giá USD/JPY lập đỉnh nhiều thập kỷ.
SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

SHB được vinh danh trong Top 10 ngân hàng thương mại Việt Nam uy tín năm 2026 và Top 200 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á của Fortune

(TBTCO) - Liên tiếp được vinh danh tại các bảng xếp hạng uy tín cùng giải thưởng danh giá trong nước và quốc tế, SHB tiếp tục khẳng định vị thế, uy tín và năng lực cạnh tranh của một định chế tài chính hàng đầu Việt Nam.
Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 1/7: Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi về sát mốc 4.000 USD/ounce sau nhịp điều chỉnh kéo dài. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn cũng tiếp tục giảm tại nhiều doanh nghiệp kinh doanh vàng.
Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Đề xuất 4 tỷ lệ an toàn mới tiến gần Basel III, "phép thử" mới với các ngân hàng

Dự thảo Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN đưa ra 4 tỷ lệ an toàn mới, từng bước đưa hệ thống ngân hàng tiến gần chuẩn Basel III. S&I Ratings cho rằng, chỉ tiêu tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) có thể tiếp tục được điều chỉnh, nhằm hài hòa các mục tiêu.
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng thay đổi sau 10 năm

(TBTCO) - Tổng lợi nhuận trước thuế của 27 ngân hàng đạt 293.388 tỷ đồng trong năm 2025, tăng hơn 8 lần so với năm 2015. Cùng với đó, thứ hạng lợi nhuận của nhiều ngân hàng cũng có sự thay đổi sau một thập kỷ.
NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

NCB tăng vốn lớn nhất lịch sử lên hơn 29.000 tỷ đồng, bổ nhiệm 2 Phó Tổng giám đốc

(TBTCO) - NCB vừa hoàn tất đợt tăng vốn lớn nhất lịch sử với 1 tỷ cổ phiếu phát hành riêng lẻ, thu về 10.000 tỷ đồng, qua đó, nâng vốn điều lệ lên 29.280 tỷ đồng. Động thái này giúp ngân hàng củng cố năng lực tài chính, mở rộng dư địa tăng trưởng tín dụng và đẩy nhanh lộ trình tại Phương án cơ cấu lại.
Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 30/6: Giá vàng thế giới giảm mạnh, lùi sát mốc 4.000 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 60 USD/ounce so với sáng qua, lùi về sát ngưỡng 4.000 USD/ounce. Cùng diễn biến này, giá vàng trong nước cũng tiếp tục điều chỉnh giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

Bảo hiểm y tế mở rộng chi trả cho khám ngoại trú trái tuyến

(TBTCO) - Trao đổi với phóng viên Báo Tài chính - Đầu tư, bà Nguyễn Lan Hương - Phó Trưởng Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho biết, từ ngày 1/7/2026, người tham gia bảo hiểm y tế tự đi khám, chữa bệnh ngoại trú tại các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh cấp cơ bản và cấp chuyên sâu sẽ được mở rộng quyền lợi. Đáng chú ý, nhiều bệnh, nhóm bệnh trước đây chưa được Quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán nay sẽ được chi trả 50% mức hưởng trong phạm vi được hưởng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Kim TT/AVPL 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Nguyên Liệu 99.99 13,090 ▼60K 13,290 ▼60K
Nguyên Liệu 99.9 13,040 ▼60K 13,240 ▼60K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,590 ▼60K 14,090 ▼60K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,540 ▼60K 14,040 ▼60K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,470 ▼60K 14,020 ▼60K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▼1000K 146,000 ▼1000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Nghệ An 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
Miếng SJC Thái Bình 14,340 ▼60K 14,640 ▼60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,250 ▼50K 14,600 ▼50K
NL 99.90 12,900
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,790 ▼50K 14,490 ▼50K
Trang sức 99.99 13,800 ▼50K 14,500 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,434 ▲1290K 14,642 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,434 ▲1290K 14,643 ▼60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,433 ▼6K 1,463 ▼6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,433 ▼6K 1,464 ▲1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,413 ▼6K 1,448 ▼6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,366 ▲122670K 143,366 ▲128970K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,261 ▼450K 108,761 ▼450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,124 ▼408K 98,624 ▼408K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,987 ▼366K 88,487 ▼366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,077 ▼350K 84,577 ▼350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,038 ▼250K 60,538 ▼250K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,434 ▲1290K 1,464 ▲1317K
Cập nhật: 01/07/2026 16:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17600 17872 18445
CAD 17966 18241 18856
CHF 31835 32216 32858
CNY 0 3831 3923
EUR 29369 29589 30667
GBP 34045 34435 35367
HKD 0 3223 3425
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14618 15208
SGD 19756 20037 20603
THB 704 767 820
USD (1,2) 26043 0 0
USD (5,10,20) 26084 0 0
USD (50,100) 26113 26127 26466
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,106 26,106 26,466
USD(1-2-5) 25,062 - -
USD(10-20) 25,062 - -
EUR 29,509 29,533 30,918
JPY 157.36 157.64 167.03
GBP 34,219 34,312 35,479
AUD 17,803 17,867 18,533
CAD 18,172 18,230 18,886
CHF 32,119 32,219 33,150
SGD 19,888 19,950 20,717
CNY - 3,799 3,941
HKD 3,289 3,299 3,434
KRW 15.59 16.26 17.68
THB 752.48 761.77 814.39
NZD 14,605 14,741 15,167
SEK - 2,660 2,751
DKK - 3,948 4,084
NOK - 2,604 2,694
LAK - 0.9 1.24
MYR 6,009.7 - 6,780.2
TWD 745.94 - 902.89
SAR - 6,887.27 7,248.41
KWD - 83,196 88,445
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,106 26,126 26,466
EUR 29,463 29,581 30,773
GBP 34,234 34,371 35,396
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 31,978 32,106 33,032
JPY 157.71 158.34 166.12
AUD 17,815 17,887 18,480
SGD 19,974 20,054 20,639
THB 770 773 808
CAD 18,179 18,252 18,819
NZD 14,674 15,210
KRW 16.21 17.81
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26120 26120 26466
AUD 17776 17876 18801
CAD 18156 18256 19270
CHF 32096 32126 33716
CNY 3813.3 3838.3 3973.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29554 29584 31310
GBP 34315 34365 36133
HKD 0 3355 0
JPY 158.11 158.61 169.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.6 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14713 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19919 20049 20770
THB 0 735 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14340000 14340000 14640000
SBJ 13000000 13000000 14640000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,146 26,196 26,466
USD20 26,146 26,196 26,466
USD1 26,146 26,196 26,466
AUD 17,824 17,924 19,036
EUR 29,703 29,703 31,112
CAD 18,106 18,206 19,510
SGD 19,999 20,149 20,703
JPY 158.75 160.25 164.81
GBP 34,232 34,582 35,444
XAU 14,338,000 0 14,642,000
CNY 0 3,721 0
THB 0 768 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 01/07/2026 16:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80