Phó Chủ tịch Quốc hội: Không thể để thị trường vàng tiếp tục “nhảy múa”

Hoàng Yến
(TBTCO) - Sáng 13/5, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) đã cho ý kiến về các báo cáo về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách nhà nước. Trong phiên thảo luận, một trong những vấn đề được nhiều thành viên UBTVQH quan tâm là việc quản lý giá vàng.
aa

Giá vàng cao, đầu tư yếu, phải chăng môi trường kinh doanh có vấn đề?

Theo Trưởng Ban Công tác đại biểu Nguyễn Thị Thanh, công tác chỉ đạo điều hành, phản ứng chính sách của Chính phủ đã đạt hiệu quả cao, là điểm sáng trong bức tranh chung. Minh chứng là khi đối chiếu các kết quả 4 tháng đầu năm 2024 so với tình hình năm 2023 thì nhiều chỉ số đã tăng lên rõ rệt, cho thấy những chỉ đạo điều hành của Chính phủ đã đi đúng hướng.

Qua xem xét các báo cáo, Tổng Thư ký Quốc hội Bùi Văn Cường đề nghị, các đánh giá cần sát thực tình hình hơn. Chỉ ra trong đánh giá bổ sung tình hình năm 2023, phần thành tựu có 16 trang còn phần tồn tại, hạn chế có 4 trang, Tổng Thư ký Quốc hội cho rằng, như vậy chưa thực sự phản ánh được tình hình hiện nay khi mà thực chất kinh tế rất khó khăn. “Nên xem xét lại 16 trang kết quả để đánh giá khách quan hơn. Đánh giá như này vẫn hơi "hồng"” - Tổng Thư ký Quốc hội nhận xét.

Bên cạnh đó, Trưởng Ban Công tác đại biểu cũng đề nghị quan tâm, đánh giá kỹ hơn một số yếu tố. Trước hết là mức tăng năng suất lao động đang là điểm yếu khi thường ở mức thấp trong nhiều năm qua. Đây là một chỉ số quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng năng suất lao động, song báo cáo chưa nêu được giải pháp trọng tâm, đột phá để thúc đẩy tăng năng suất lao động.

Số doanh nghiệp rút lui tăng cao trong 4 tháng. Tăng trưởng tín dụng, cầu tiêu dùng và vốn đầu tư tư nhân đều yếu trong khi giá vàng “nhảy múa”. “Vì sao đầu tư tư nhân và giá vàng lại có "nghịch cảnh" như vậy, cần đánh giá rõ nội dung này. Phải chăng môi trường đầu tư kinh doanh đang có vấn đề? Nguồn vốn tư nhân đầu tư thấp, có thể người dân không tin tưởng vào đầu tư cho sản xuất kinh doanh” - bà Nguyễn Thị Thanh nêu vấn đề.

Phó Chủ tịch Quốc hội: Không thể để thị trường vàng tiếp tục “nhảy múa”
Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương phát biểu tại phiên họp

Cũng quan tâm đến giá vàng, Phó Chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương nhận xét, chưa bao giờ thị trường vàng tăng giảm đột biến như vậy và đề nghị làm rõ về công tác quản lý trước tình trạng giá vàng “nhảy múa”. Theo Phó Chủ tịch Quốc hội, không thể để thị trường vàng tiếp tục “nhảy múa” như vậy.

Tham gia ý kiến, Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp Lê Thị Nga cũng đồng tình với ý kiến của Phó Chủ tịch Quốc hội về quản lý thị trường vàng. Theo Chủ nhiệm Ủy ban Tư pháp, chưa bao giờ giá vàng cao như hiện nay và chênh lệch với giá vàng thị trường thế giới quá cao. “Chúng tôi thống nhất với Phó chủ tịch Quốc hội Trần Quang Phương cần phải quản lý chặt chẽ thị trường vàng, có bàn tay của Nhà nước can thiệp vào thị trường” - Chủ nhiệm Lê Thị Nga nêu quan điểm.

Giải trình về nội dung này, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Thanh Hà cho biết, những năm gần đây do ảnh hưởng dịch Covid-19, lạm phát tăng cao nên giá vàng quốc tế tăng mạnh, khiến giá vàng trong nước tăng theo.

Nguyên nhân chênh lệch giá trong nước cao so với quốc tế chủ yếu do giá thế giới tăng khi kim loại quý trong nước phụ thuộc thị trường quốc tế. Cùng lúc đó, nguồn cung vàng trong nước hạn chế.

Đề cập đến giải pháp, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cho biết, sẽ tiếp tục đấu thầu vàng với khối lượng phù hợp để tăng cung cho thị trường, nhằm ổn định giá, thu hẹp chênh lệch giữa giá trong nước và thế giới.

Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng tăng cường các biện pháp hỗ trợ quản lý thị trường vàng theo Nghị định 24; tiếp tục triển khai thanh tra doanh nghiệp, tổ chức tín dụng kinh doanh, mua bán vàng miếng; chỉ đạo doanh nghiệp kinh doanh chấp hành nghiêm quy định về hoá đơn thanh toán, kiểm soát giao dịch mua bán vàng.

Ngân hàng Nhà nước cũng phối hợp cùng Bộ Công an, Bộ Công thương… kiểm soát, xử lý nghiêm hành vi buôn lậu, đẩy giá vàng lên cao. Về lâu dài, Ngân hàng Nhà nước sẽ đề xuất thêm giải pháp quản lý thị trường vàng, trong đó sẽ sửa Nghị định 24.

Phó Chủ tịch Quốc hội: Không thể để thị trường vàng tiếp tục “nhảy múa”
Phó Thủ tướng Lê Minh Khái phát biểu tại phiên họp.

Chính phủ "rất đau đầu" về thị trường vàng

Trong phần phát biểu giải trình tại phiên họp, Phó Thủ tướng Lê Minh Khái cũng cho biết, vàng là hàng hóa đặc biệt. Thời điểm trước năm 2012, thị trường vàng còn “nhảy múa” hơn nữa. Sau khi Nghị định 24 ra đời, nhiều biện pháp đã được áp dụng để bình ổn thị trường, trong đó có việc Nhà nước độc quyền sản xuất vàng miếng.

Phó Thủ tướng Lê Minh Khái nhấn mạnh, nếu không kiểm soát bằng các giải pháp đồng bộ sẽ rất khó kiểm soát thị trường vàng. Đơn cử như về buôn bán, phải kiểm soát phát hành hóa đơn nghiêm, theo từng lần.

Về vấn đề tăng cung, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức đấu thầu, nhưng hình thức phải phù hợp. Theo Phó Thủ tướng, vừa qua tổ chức đấu thầu để tăng cung nhưng “chưa tới”, bởi lượng giao dịch lớn nhưng số lượng doanh nghiệp tham gia đấu thầu chỉ có 1, 2 doanh nghiệp. "Như vậy nhu cầu có thật hay không? Ngân hàng Nhà nước phải có đánh giá" - Phó Thủ tướng nhận định.

Tuy nhiên, thời gian gần đây, thị trường vàng có nhiều biến động lớn, đòi hỏi phải có giải pháp quản lý. "Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã họp rất nhiều lần, có nhiều công điện, thông báo đầy đủ giải pháp. Từ đó, những ngày gần đây tình hình đã có xoay chuyển nhưng vẫn phải tiếp tục theo dõi vì rất phức tạp" - Phó thủ tướng cho hay.

Cũng theo Phó thủ tướng, việc quan tâm thị trường vàng là đúng, nhưng phải đánh giá kỹ, bình tĩnh mới tìm được giải pháp đúng. Dự kiến ngày 14/5, Phó Thủ tướng sẽ có thêm cuộc làm việc với Ngân hàng Nhà nước về vấn đề quản lý thị trường vàng để làm rõ nguyên nhân và giải pháp. Sau khi đánh giá tình hình thì giao cho thanh tra chuyên ngành phải thanh tra các đầu mối lớn, kể cả các biên giới, cửa khẩu vào, nếu vi phạm chuyển Bộ Công an xử lý ngay.

"Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hết sức đau đầu vấn đề này. Nhưng tôi nghĩ thời gian tới các bộ, ngành tích cực, đồng lòng vào cuộc thì chắc không khó khăn gì chúng ta không xử lý được" - Phó thủ tướng khẳng định./.

Hoàng Yến

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 19/9: Giá vàng thế giới và trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.379 USD/ounce, mức cao nhất trong một tuần. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt tăng mạnh, với mức tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

Giá vàng hôm nay ngày 18/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đảo chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng vượt mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng trong nước đồng loạt giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 144,900
Hà Nội - PNJ 141,900 144,900
Đà Nẵng - PNJ 141,900 144,900
Miền Tây - PNJ 141,900 144,900
Tây Nguyên - PNJ 141,900 144,900
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 144,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 14,490
Miếng SJC Nghệ An 14,190 14,490
Miếng SJC Thái Bình 14,190 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 14,540
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,850 14,450
Trang sức 99.99 13,860 14,460
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 14,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 14,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cập nhật: 23/09/2026 08:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Cập nhật: 23/09/2026 08:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30