Thách thức điều hành tỷ giá dưới thời chính quyền Trump 2.0

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Việc điều hành tỷ giá năm 2025 tiếp tục gặp nhiều thách thức trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, đặc biệt khi những chính sách thời chính quyền Trump 2.0 đi vào thực thi. Theo dự báo, đồng USD sẽ có thể mạnh lên nửa đầu năm và chỉ suy yếu nửa cuối năm 2025.
aa
Thách thức điều hành tỷ giá dưới thời chính quyền Trump 2.0

Nhìn lại những nhân tố ảnh hưởng lớn đến biến động tỷ giá năm 2024, ông Nguyễn Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết, dòng ngoại hối trên thế giới biến động mạnh năm vừa qua, tất cả thị trường mới nổi đều bị suy giảm dòng vốn đầu tư và rút về trú ẩn tại Mỹ.

"Trên thị trường chứng khoán, thống kê sơ bộ của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước cho thấy, nhà đầu tư nước ngoài bán ròng hơn 3,5 tỷ USD, đặc biệt sau khi Tổng thống Trump đắc cử, điều này gây sức ép tới thị trường ngoại hối. Song song với đó, trong tháng 11/2024, chúng ta cũng phải cân đối lượng ngoại tệ lớn cho Kho bạc Nhà nước thanh toán các khoản trái phiếu chính phủ đến hạn. Hai lượng ngoại tệ đột biến trên rất lớn, gây sức ép trong thời gian ngắn khiến thị trường ngoại tệ có diễn biến căng thẳng”, ông Quang nói.

Linh hoạt điều hành, giảm sốc trước các biến động

Trước những biến động nhất định trên thị trường ngoại hối, ông Nguyễn Chí Quang cho biết, trong hai quý đầu năm 2024, NHNN phải tiến hành bán ngoại tệ can thiệp. Quý III/2024, thị trường ngoại tệ ổn định hơn, nguồn cung cải thiện tích cực. Sang quý IV/2024, những diễn biến bất ngờ trên thị trường quốc tế lại gây áp lực tới tỷ giá. Đặc biệt, tháng 11/2024, chiến thắng của ông Donald Trump trong cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ tác động mạnh tới đồng USD khi định hướng chính sách tương tự nhiệm kỳ 1, tức áp thuế suất cao với hàng nhập khẩu, đặc biệt là các nước là đối tác thương mại lớn, trong đó có Việt Nam.

Giảm áp lực từ đầu cơ ngoại tệ trong ngắn hạn

Thách thức điều hành tỷ giá dưới thời chính quyền Trump 2.0

“Chênh lệch lãi suất trên thị trường liên ngân hàng luôn âm dù trong năm 2024, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED) nhiều lần giảm lãi suất, dẫn tới các tổ chức tín dụng kinh doanh chênh lệch lãi suất, nắm giữ đồng USD. Bằng biện pháp điều hành trên thị trường liên ngân hàng, NHNN sử dụng tín phiếu để giảm sức ép đáng kể với đầu cơ ngoại tệ”. Ông Nguyễn Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước

Ngay sau đó, thị trường ngoại hối toàn cầu có những thay đổi lớn, chỉ số DXY tăng nhanh, có thời điểm tháng cuối năm 2024 tăng cao nhất trong vòng 3 năm lên 109,6 điểm khiến đồng USD tăng 7,6% so với năm 2023.

"NHNN điều hành chặt chẽ, kết hợp các công cụ chính sách tiền tệ, thực hiện hoạt động bơm, hút nhịp nhàng trên thị trường liên ngân hàng khi “đi bằng hai chân”. Một mặt, không để các ngân hàng khó khăn về thanh khoản; mặt khác, hút bớt lượng tiền dư thừa trên thị trường liên ngân hàng để giảm chênh lệch lãi suất USD - VND" - ông Nguyễn Chí Quang cho biết thêm.

Song song với đó, NHNN cũng phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ để điều hành hài hoà chính sách tiền tệ và chính sách tài khoá. NHNN thường xuyên phối hợp với Kho bạc Nhà nước về lượng tiền gửi tại hệ thống ngân hàng, hay quá trình phát hành trái phiếu chính phủ. Qua đó, một mặt, chúng ta giữ được mặt trận lãi suất, không để lãi suất tăng nóng; mặt khác, vẫn kiểm soát được tỷ giá.

“Kết quả đồng VND mất giá khoảng 5,03% so với USD, nhưng là mức mất giá thấp so với các nước trong khu vực ASEAN và so với các nước xuất khẩu lớn vào Mỹ, mức mất giá của VND cũng thấp”, đại diện NHNN đánh giá.

Việt Nam là 1 trong 3 quốc gia xuất khẩu lớn nhất vào Mỹ, sau Trung Quốc và Mexico, thậm chí lớn hơn Đài Loan, Hàn Quốc song các quốc gia này mất giá đều trên 10%. Nhờ đó, Việt Nam kiểm soát lạm phát ở mức ổn định, dưới 4% theo mục tiêu Quốc hội đề ra; đồng thời, tạo điều kiện các tổ chức tín dụng giảm mặt bằng lãi suất cho vay.

Nhận diện thách thức dưới thời chính quyền Trump 2.0

Việc ổn định tỷ giá và lãi suất trong bối cảnh nhiều biến động năm 2025, đặc biệt là khi Tổng thống Donald Trump chính thức nhậm chức vào ngày 20/1 tới đây và triển khai các chính sách mạnh về thuế sẽ dẫn đến biến động lớn tới dòng ngoại hối, đầu tư trên toàn cầu, là một trong những nhiệm vụ rất thách thức với NHNN thời gian tới.

Ba thách thức lớn trong nhiệm kỳ sắp tới của Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump, trong đó có biến động tỷ giá cũng được ông Suan Teck Kin, Chuyên gia kinh tế, Giám đốc điều hành Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) phân tích rõ.

Theo ông Suan Teck Kin, thách thức đầu tiên về thuế quan. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao, đứng thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Singapore. Do đó, hai quốc gia đều chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ thương mại toàn cầu, điều này thể hiện rõ nét nhất trong năm 2022 - 2023. Năm 2024, tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 7,09%, tương đồng với sự tăng trưởng về xuất khẩu và thương mại quốc tế.

Hiện Mỹ ghi nhận thâm hụt thương mại lớn đến từ Trung Quốc. Với ASEAN, con số thâm hụt năm 2016 chỉ 83 tỷ USD song tăng lên 203 tỷ USD năm 2023. Thâm hụt thương mại của Mỹ với Việt Nam cũng tăng gần 4 lần, từ 32 tỷ USD năm 2016 lên hơn 100 tỷ USD năm 2023. Do đó, Việt Nam cần nhận diện được những thách thức thuế quan khi Tổng thống Trump sẽ hiện thực hóa những cam kết sau nhậm chức.

Thứ hai, thách thức về thị trường tài chính. Biến động của đồng USD và tỷ giá được thúc đẩy bởi chính sách thương mại của Mỹ và các bất ổn địa chính trị. "Đồng USD sẽ có thể tăng giá ít nhất đến khoảng tháng 6/2025 trước khi bắt đầu giảm giá" - đại diện Ngân hàng UOB nhận định.

Tuy nhiên, theo ông Suan Teck Kin, NHNN Việt Nam có những biện pháp điều hành phù hợp để giảm áp lực tỷ giá.

Thứ ba, thách thức về chuỗi cung ứng. Chính sách thuế quan cứng rắn hơn từ chính quyền Trump có thể làm gián đoạn dòng chảy thương mại và đầu tư toàn cầu, gây ảnh hưởng đến ASEAN. Điều này sẽ gây nên sự chuyển dịch chuỗi cung ứng thế nào là điều cần lưu ý.

Việt Nam sẽ đón nhiều cơ hội trong năm 2025

Dù muôn trùng thách thức nhưng theo ông Suan Teck Kin, Chuyên gia kinh tế, Giám đốc điều hành Khối nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB, Việt Nam sẽ đón nhiều cơ hội trong năm 2025 trong thời kỳ Trump 2.0 thông qua việc đa dạng hóa các đối tác thương mại, để giảm thiểu các rủi ro khi quá phụ thuộc vào vài đối tác quan trọng. Việt Nam cần cân bằng hơn, đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu từ khu vực Tây Âu, Đông Âu, một số nước thành viên của Liên minh châu Âu..., tránh phụ thuộc quá mức vào 2 hoặc 3 nước hàng đầu.

Bên cạnh đó, việc đầu tư, nâng cấp cơ sở hạ tầng nội tại như: hệ thống đường cao tốc, sân bay, cảng biển góp phần hấp thụ những rủi ro từ bên ngoài và nâng cao tính cạnh tranh cho tương lai. Ngoài ra, hỗ trợ về chính sách tài khoá tiếp tục đóng vai trò quan trọng.

"Trong thời kỳ Trump 2.0, có nhiều thách thức song hành cùng những cơ hội, Việt Nam đã thể hiện năng lực nội tại mạnh mẽ dưới nhiều góc độ khác nhau, qua các chỉ số vĩ mô ổn định cũng như sự phát triển thương mại, nhờ đó, Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP rất ấn tượng 7,09%. Thời gian tới, bên cạnh những nỗ lực của Chính phủ, vai trò của khu vực doanh nghiệp cũng cần phải mạnh mẽ hơn, chủ động đa dạng hóa các thị trường xuất khẩu, đẩy mạnh hơn nữa nguồn lực đầu tư để hái trái ngọt trong tương lai" - ông Suan Teck Kin khuyến nghị.

Về định hướng điều hành tỷ giá trong năm 2025, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cho biết, trước những áp lực thời gian tới, NHNN sẽ theo sát các diễn biến kinh tế vĩ mô, dòng tiền trên toàn cầu và các nền kinh tế khác để tham mưu Chính phủ, đảm bảo mục tiêu kép, một mặt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế GDP hai con số; mặt khác, không lơ là kiểm soát lạm phát. Ông Nguyễn Chí Quang tin rằng, với dư địa hiện có và sự kết hợp chặt chẽ với các bộ, ngành, đặc biệt là Bộ Tài chính, NHNN có thể khả năng kiểm soát biến động thị trường ngoại tệ thời gian tới.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH tái định vị theo hướng tinh gọn, lợi nhuận kỳ vọng tăng hơn 70%

Bảo hiểm BSH đặt kế hoạch năm 2026 với phí bảo hiểm giữ lại đạt 1.326,3 tỷ đồng, trong đó, doanh thu phí bảo hiểm gốc còn 879 tỷ đồng, giảm 66% cùng kỳ. Dù quy mô thu hẹp, doanh nghiệp vẫn kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng 73% lên 49 tỷ đồng, tiếp tục theo đuổi chiến lược tinh gọn, tập trung vào hiệu quả lợi nhuận, phù hợp với chiến lược phát triển mới.
TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

(TBTCO) - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa ký ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong thu hồi nợ áp dụng cho các tổ chức tín dụng hội viên, nhằm chuẩn hóa hoạt động toàn hệ thống. Bộ Quy tắc nghiêm cấm nhân viên thu hồi nợ sử dụng vũ lực, đe dọa, quấy rối, xúc phạm khách hàng và người có liên quan.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 17,250
Kim TT/AVPL 16,940 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,500 15,700
Nguyên Liệu 99.9 15,450 15,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 17,020
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 16,970
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 16,950
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 17,250
Miếng SJC Nghệ An 16,950 17,250
Miếng SJC Thái Bình 16,950 17,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 17,200
NL 99.90 15,500
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530
Trang sức 99.9 16,390 17,090
Trang sức 99.99 16,400 17,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 17,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 17,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 172
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 1,705
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 168,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 128,038
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 116,102
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 104,165
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 99,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 71,256
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cập nhật: 08/04/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80