Thị trường carbon: Từ giá trị giảm phát thải đến dòng vốn xanh

Nhuệ Mẫn
(TBTCO) - Thị trường carbon đang mở ra một cách tiếp cận mới đối với bài toán vốn cho chuyển đổi xanh: biến kết quả giảm phát thải thành một giá trị có thể được ghi nhận, giao dịch và từng bước đi vào quyết định đầu tư. Nhưng để điều đó xảy ra, Việt Nam cần cả hệ thống dữ liệu, tiêu chuẩn, định giá, tín dụng và thị trường vốn đủ tin cậy để biến giá trị carbon thành tín hiệu tài chính.
aa

Các dự án chuyển đổi năng lượng, phát triển hạ tầng xanh, giao thông xanh, xử lý chất thải, kinh tế tuần hoàn và các hoạt động giảm phát thải thường đòi hỏi nguồn vốn lớn, thời gian hoàn vốn dài, trong khi có thể đi kèm rủi ro về công nghệ và chính sách. Vì vậy, bài toán không chỉ là cần bao nhiêu vốn, mà còn là vốn được huy động từ đâu, với kỳ hạn và chi phí như thế nào và rủi ro được phân bổ ra sao. Tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò quan trọng, nhưng khó có thể một mình đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn. Cùng với tín dụng, cần mở rộng thị trường vốn, tài chính xanh, tài chính khí hậu, nguồn vốn tư nhân và các cơ chế chia sẻ rủi ro.

Nhưng mở thêm các kênh vốn mới chỉ giải quyết một nửa bài toán. Phần khó hơn là xác định một dự án xanh tạo ra giá trị gì, rủi ro ở đâu và giá trị đó có thể chuyển thành dòng tiền đến mức nào. Đây chính là điểm thị trường carbon trở nên quan trọng.

Định giá carbon tạo ra một tín hiệu kinh tế: phát thải có chi phí, còn giảm phát thải có thể tạo ra giá trị. Với doanh nghiệp, tín hiệu này có thể làm thay đổi phép tính giữa tiếp tục sử dụng công nghệ phát thải cao và đầu tư vào công nghệ tiết kiệm năng lượng, nhiên liệu hoặc nguyên liệu. Với dự án đáp ứng cơ chế tín chỉ, kết quả giảm phát thải còn có thể trở thành nguồn thu. Nhưng giá trị carbon chỉ thực sự có ý nghĩa với quyết định đầu tư khi doanh nghiệp và nhà đầu tư có cơ sở tin rằng giá trị đó đủ rõ, đủ ổn định và có thể chuyển thành tiền.

Khoảng cách từ “tiềm năng giảm phát thải” đến một tài sản có thể giao dịch vì thế rất lớn. Tiềm năng không đồng nghĩa đã có tín chỉ. Để hình thành giá trị carbon cần phương pháp luận, đường cơ sở, dữ liệu và hệ thống đo lường - báo cáo - thẩm tra (MRV), cùng cơ chế phát hành, giao dịch và thanh toán. Thiếu một mắt xích, giá trị môi trường chưa đủ chắc chắn để trở thành tài sản tài chính.

Thị trường carbon: Từ giá trị giảm phát thải đến dòng vốn xanh

Kinh nghiệm Singapore cho thấy thị trường carbon không được tạo nên chỉ bằng một sàn giao dịch. Quốc gia này kết hợp tín hiệu giá thông qua thuế carbon với tiêu chuẩn chất lượng tín chỉ, hợp tác quốc tế và hệ sinh thái dịch vụ tài chính. Chính sách tạo nhu cầu, tiêu chuẩn tạo niềm tin, còn hệ thống tài chính kết nối giá trị carbon với dòng vốn. Bài học với Việt Nam vì vậy không chỉ là xây dựng nơi mua bán tín chỉ, mà là tạo đủ hạ tầng để thị trường hình thành một giá trị được tin cậy.

Ở Việt Nam, khoảng cách này thể hiện rõ trong dữ liệu và định giá khi dữ liệu phát thải còn phân mảnh, thiếu chuỗi dữ liệu đủ dài và giá tham chiếu đủ tin cậy, ngân hàng và nhà đầu tư khó có cơ sở thống nhất để dự báo dòng tiền và định giá rủi ro. Bên cạnh đó, chi phí thẩm định, xác minh và công bố cũng có thể trở thành rào cản đối với doanh nghiệp. Và đặc biệt, khi thông tin chưa chuẩn hóa, “nhãn xanh” chưa đủ tạo niềm tin tài chính.

Điều này cũng giải thích vì sao tín dụng xanh và thị trường carbon phải được nhìn trong cùng một chuỗi giá trị. Nhu cầu vốn xuất hiện từ rất sớm, ngay ở giai đoạn chuẩn bị dự án, mua thiết bị, đầu tư công nghệ và tổ chức sản xuất. Trong khi đó, doanh thu carbon thường chỉ xuất hiện sau khi kết quả giảm phát thải được đo lường, xác minh, cấp tín chỉ hoặc hình thành hợp đồng mua bán. Khoảng lệch này tạo ra khoảng trống tài chính mà tín dụng, vốn cầu nối, bảo lãnh, quản lý dòng tiền và các cơ chế tài chính kết hợp có thể lấp đầy.

Từ góc nhìn ngân hàng, cách tiếp cận phù hợp không phải coi tín chỉ carbon là nguồn trả nợ chắc chắn ngay từ đầu. Cần phân biệt dòng tiền từ hoạt động sản xuất - kinh doanh cốt lõi với doanh thu carbon. Dòng tiền cốt lõi là nền tảng trả nợ; doanh thu carbon là tầng bổ sung và chỉ được ghi nhận theo mức độ chắc chắn. Giá trị carbon có thể tác động đến phương án tài chính qua ba kênh: giảm chi phí sản xuất nhờ đầu tư ít phát thải; giảm nhu cầu mua bổ sung hạn ngạch đối với doanh nghiệp thuộc phạm vi tuân thủ; hoặc tạo doanh thu từ chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ. Ba kênh cần được lượng hóa riêng để tránh cộng trùng hoặc đánh giá quá mức khả năng tạo tiền.

Ở phía thị trường vốn, yêu cầu cũng tương tự. Giá carbon chỉ có thể truyền dẫn vào chi phí vốn khi nhà đầu tư có đủ thông tin để đánh giá rủi ro. Điều đó đòi hỏi dữ liệu có thể đối chiếu, tiêu chuẩn xác minh thống nhất, công bố rõ và cơ chế hậu kiểm. Khi một dự án được xác định rõ lượng phát thải, kết quả giảm phát thải, quyền đối với giá trị carbon và dòng tiền dự kiến, ngân hàng mới có thể thẩm định tín dụng tốt hơn, còn nhà đầu tư mới có cơ sở định giá tài sản.

Vì vậy, khơi thông dòng vốn xanh không chỉ là “có thêm vốn”, mà là tạo chuỗi liên kết từ giảm phát thải đến dữ liệu, từ dữ liệu đến giá trị carbon, rồi đến tín dụng và thị trường vốn. Khi chuỗi này minh bạch và đáng tin cậy, thị trường carbon mới thực sự trở thành công cụ tài chính cho chuyển đổi xanh, thay vì chỉ là nơi mua bán tín chỉ.

Thước đo cuối cùng không nằm ở số lượng nhãn xanh hay quy mô giao dịch, mà ở lượng phát thải thực tế được giảm, số dự án được tài trợ và khả năng để chi phí vốn phản ánh đúng chất lượng, rủi ro và giá trị của từng dự án./.

Sáng ngày 14/10/2026, Báo Tài chính - Đầu tư phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức Hội thảo “Chính sách tín dụng và thị trường Carbon: Khơi thông dòng vốn xanh” tại trụ sở Báo Tài chính - Đầu tư, 47 Quán Thánh, Hà Nội. Hội thảo tập trung trao đổi về mối liên kết giữa chính sách tín dụng, thị trường carbon và thị trường vốn, từ đó tìm kiếm các giải pháp khơi thông nguồn lực tài chính cho quá trình chuyển đổi xanh. Chương trình gồm các tham luận từ Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng Phát triển châu Á và Agribank, cùng phiên thảo luận với sự tham gia của đại diện cơ quan quản lý, thị trường vốn, ngân hàng, doanh nghiệp và các tổ chức tư vấn. Các nội dung trọng tâm xoay quanh việc mở rộng dòng vốn xanh, nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp, phát triển thị trường carbon và tăng cường kết nối giữa giá trị giảm phát thải với các quyết định tài chính.
Nhuệ Mẫn

Đọc thêm

Bảo hiểm nhúng thiết kế app minh bạch để khách hàng an tâm

Bảo hiểm nhúng thiết kế app minh bạch để khách hàng an tâm

(TBTCO) - Ngày càng tự chủ mảng bảo hiểm, các ngân hàng có nhiều lợi thế phát triển bảo hiểm nhúng tại các "điểm chạm", ngay từ quá trình chuyển khoản. Tuy nhiên, cách triển khai đang khiến khách hàng thêm bận tâm thay vì an tâm, đòi hỏi bảo hiểm nhúng trên app ngân hàng phải được thiết kế minh bạch, tách bạch với giao dịch chính và đảm bảo tính tự nguyện.
Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 11/10: Giá vàng thế giới phục hồi, trong nước biến động trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới phục hồi lên 4.195 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn diễn biến trái chiều.
Đón Fan Meeting đầu tay của Quán Nhà Haha cùng những suất tham dự sớm nhất từ Vietcombank

Đón Fan Meeting đầu tay của Quán Nhà Haha cùng những suất tham dự sớm nhất từ Vietcombank

(TBTCO) - Vietcombank chính thức đồng hành cùng Fan Meeting đầu tiên của Quán Nhà Haha, mang đến hàng nghìn cơ hội sở hữu vé và những trải nghiệm đặc biệt cho khách hàng thông qua chuỗi chương trình khuyến mại dành riêng cho khách hàng Vietcombank.
Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

Tỷ giá USD hôm nay (10/10): USD trong nước trái chiều, DXY cao nhất 18 tháng trước thềm công bố lạm phát Mỹ

(TBTCO) - Sáng 10/10, tỷ giá trung tâm ở mức 25.629 đồng, giảm 7 đồng so với cuối tuần trước; tỷ giá USD tại ngân hàng giảm mạnh, trái chiều với mức tăng 220 đồng trên thị trường tự do. Chỉ số DXY chốt tuần ở 102,22 điểm, tăng 0,28%, cao nhất kể từ đầu tháng 4/2025. Thị trường đang chờ báo cáo lạm phát của Mỹ tuần tới.
Giá vàng hôm nay ngày 10/10: Vàng miếng tăng mạnh lên 144,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 10/10: Vàng miếng tăng mạnh lên 144,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng tới 1,8 triệu đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng lên 144,8 triệu đồng/lượng. Trên thị trường quốc tế, giá vàng thế giới cũng tăng hơn 60 USD/ounce trong 24 giờ qua.
DBV và CMC CS hợp tác toàn diện, kết nối công nghệ và bảo hiểm để gia tăng giá trị cho khách hàng

DBV và CMC CS hợp tác toàn diện, kết nối công nghệ và bảo hiểm để gia tăng giá trị cho khách hàng

(TBTCO) - Ngày 9/10/2026, tại trụ sở Công ty cổ phần Tập đoàn Bảo hiểm DBV (DBV), DBV và Công ty TNHH An ninh An toàn thông tin CMC (CMC Cyber Security - CMC CS) chính thức ký kết thỏa thuận hợp tác toàn diện, mở ra cơ hội kết nối thế mạnh của hai tập đoàn trong lĩnh vực bảo hiểm và công nghệ nhằm mang đến những giải pháp thiết thực và tối ưu hơn cho khách hàng.
Ngân hàng phụ thuộc vốn thị trường 2, nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp chịu sức ép từ "thước đo" mới

Ngân hàng phụ thuộc vốn thị trường 2, nắm nhiều trái phiếu doanh nghiệp chịu sức ép từ "thước đo" mới

Theo SHS Research, các ngân hàng có LDR sát trần 85% và LDR tính lại tăng ít sẽ có thêm động lực đăng ký áp dụng sớm LCR/NSFR. Trong khi đó, nhóm phụ thuộc nhiều vào vốn liên ngân hàng ngắn hạn, hoặc nắm giữ nhiều trái phiếu doanh nghiệp sẽ chịu sức ép tái cơ cấu tài sản, nguồn vốn để đáp ứng chuẩn mới.
Tuổi nào thì rẽ hướng sự nghiệp?

Tuổi nào thì rẽ hướng sự nghiệp?

(TBTCO) - Có người bắt đầu một hành trình mới khi đã ngoài 30 tuổi. Có người quyết định chuyển nghề ở tuổi 50, khi nhiều người đã nghĩ đến sự ổn định. Cũng có người lựa chọn con đường đó ngay từ khi còn là sinh viên. Nhưng giữa một thị trường lao động liên tục thay đổi, tuổi tác liệu có thực sự là rào cản?
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,200 ▼100K 144,200 ▼100K
Hà Nội - PNJ 141,200 ▼100K 144,200 ▼100K
Đà Nẵng - PNJ 141,200 ▼100K 144,200 ▼100K
Miền Tây - PNJ 141,200 ▼100K 144,200 ▼100K
Tây Nguyên - PNJ 141,200 ▼100K 144,200 ▼100K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,200 ▼100K 144,200 ▼100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,180 14,480
Miếng SJC Nghệ An 14,180 14,480
Miếng SJC Thái Bình 14,180 14,480
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,050 14,430
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,050 14,430
NL 99.99 13,250
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,150
Trang sức 99.9 13,710 14,310
Trang sức 99.99 13,720 14,320
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,418 14,482
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,418 14,483
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,413 1,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,413 1,444
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,388 1,433
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,881 141,881
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 107,636
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,804 97,604
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,772 87,572
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,902 83,702
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,112 59,912
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,418 1,448
Cập nhật: 12/10/2026 09:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17561 17834 18413
CAD 17625 17898 18520
CHF 30556 30932 31577
CNY 0 3824 3921
EUR 28394 28611 29699
GBP 33481 33868 34815
HKD 0 3166 3370
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14221 14813
SGD 19683 19964 20548
THB 688 751 804
USD (1,2) 25615 0 0
USD (5,10,20) 25653 0 0
USD (50,100) 25681 25695 26070
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,670 25,670 26,050
USD(1-2-5) 24,644 - -
USD(10-20) 24,644 - -
EUR 28,421 28,444 29,794
JPY 159.02 159.31 168.94
GBP 33,639 33,730 34,902
AUD 17,736 17,800 18,477
CAD 17,797 17,854 18,516
CHF 30,774 30,870 31,793
SGD 19,790 19,852 20,631
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,228 3,238 3,374
KRW 17.84 18.6 20.24
THB 735.72 744.81 797.54
NZD 14,192 14,324 14,753
SEK - 2,544 2,636
DKK - 3,812 3,948
NOK - 2,658 2,754
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,924.02 - 6,685.44
TWD 730.82 - 885.49
SAR - 6,766.19 7,129.36
KWD - 81,657 86,897
AED - 6,785 7,312
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,660 25,690 26,070
EUR 28,426 28,569 29,793
GBP 33,643 33,812 34,842
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,648 30,802 31,750
JPY 158.85 160.45 168.43
AUD 17,719 17,844 18,441
SGD 19,779 19,959 20,553
THB 741 756 793
CAD 17,814 17,904 18,499
NZD 14,290 14,845
KRW 18.72 20.72
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25660 25690 26060
AUD 17736 17836 18761
CAD 17802 17902 18917
CHF 30790 30820 32405
CNY 3806.8 3831.8 3967
CZK 0 1140 0
DKK 0 3900 0
EUR 28567 28597 30322
GBP 33775 33825 35588
HKD 0 3315 0
JPY 160.15 160.65 171.17
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14328 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19844 19974 20695
THB 0 717 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14150000 14150000 14450000
SBJ 12500000 12500000 14450000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,570 25,690 26,000
USD20 25,540 25,690 26,000
USD1 25,520 25,690 26,000
AUD 17,755 17,855 18,999
EUR 28,316 28,416 30,116
CAD 17,735 17,835 19,170
SGD 19,886 20,036 20,990
JPY 160.3 161.8 167.6
GBP 33,615 33,765 34,876
XAU 14,178,000 0 14,482,000
CNY 0 3,714 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/10/2026 09:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30