Tín dụng cho kinh doanh bất động sản tăng cao gấp 3 lần tốc độ tín dụng chung

Hoàng Yến
(TBTCO) - Với nhiều giải pháp tạo điều kiện cho thị trường bất động sản và thị trường trái phiếu, tốc độ tăng tín dụng của kinh doanh bất động sản tính đến nay rất cao, tới 9,78%, trong khi tín dụng chung của nền kinh tế tăng 3,24%.
aa

Đây là thông tin được Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Đào Minh Tú cho biết tại cuộc họp báo thường kỳ của Văn phòng Chính phủ chiều 5/5.

Các ngân hàng có lãi suất cho vay cao đã được nhắc nhở

Tại cuộc họp báo, Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho hay, từ đầu năm đến nay NHNN đã tập trung triển khai 8 chính sách, trong đó có chính sách về giảm lãi suất.

Cụ thể là chính sách điều hành tiền tệ để bảo đảm ổn định giá trị đồng tiền cũng như bảo đảm ổn định tỷ giá. Đấy là một trong những điều kiện tiên quyết, quan trọng nhất đã được triển khai tích cực.

Thứ hai là tạo dư địa tăng trưởng tín dụng, dự kiến là 14,5%, để hỗ trợ khôi phục nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng.

Thứ ba là luôn bảo đảm tính thanh khoản cho nền kinh tế cũng như tính thanh khoản của các tổ chức tín dụng.

Thứ tư là các giải pháp tạo điều kiện cho thị trường bất động sản và thị trường trái phiếu. Tính đến nay, tốc độ tăng của kinh doanh bất động sản rất cao (9,78%) trong khi tín dụng chung của nền kinh tế tăng 3,24%.

Chính sách thứ năm được các ngân hàng triển khai là gói cho vay bất động sản 120 nghìn tỷ đồng cho 3 đối tượng ưu tiên cùng với nhiều gói tín dụng khác.

Chính sách thứ sáu là, giãn hoãn nợ, kéo dài thời hạn trả nợ cho các doanh nghiệp có khó khăn đến kỳ hạn chưa trả nợ được, kể cả lãi và gốc 1 năm.

Thứ bảy là chỉ đạo các ngân hàng thương mại cắt giảm chi phí chính, thủ tục giảm chi phí… hỗ trợ cho doanh nghiệp

Và chính sách cuối cùng, theo Phó Thống đốc NHNN là giảm lãi suất, một trong những chính sách rất quan trọng, có ý nghĩa thiết thực hỗ trợ doanh nghiệp.

Tín dụng cho kinh doanh bất động sản tăng cao gấp 3 lần tốc độ tín dụng chung

Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú

Để giảm lãi suất, NHNN đã quyết định giảm lãi suất điều hành, tạo định hướng cho các ngân hàng thương mại trong việc giảm lãi suất huy động, giảm lãi suất cho vay. Theo đó, lãi suất huy động chung của tất cả các tổ chức tín dụng giảm 1 - 1,2%, lãi suất cho vay chung của các ngân hàng trong cả hệ thống giảm khoảng 0,5 - 0,65%. Riêng các ngân hàng thương mại nhà nước, mức giảm tích cực hơn. Đây cũng là những ngân hàng chủ lực, có vai trò định hướng thị trường, phần lãi suất huy động trung bình giảm từ 1 - 1,5%, lãi suất cho vay giảm từ 1,5 -2%.

Hiện nay, đối với các khoản tiền gửi mới, lãi suất bình quân là 6,0 - 6,1% (cộng tất cả kỳ hạn lại chia bình quân), các khoản cho vay mới lãi suất khoảng từ 9 - 9,2%.

Đặc biệt, vừa qua tại hội nghị ngày 25/4 triển khai Thông tư 02/2023/TT-NHNN về giãn, hoãn, cơ cấu lại các khoản nợ, NHNN đã nhắc nhở các ngân hàng còn cho vay cao, xem xét để sao có mặt bằng thống nhất chung, tương quan với mức độ tài chính của các tổ chức tín dụng. Sắp tới, NHNN sẽ tiếp tục chỉ đạo, định hướng, vận động các ngân hàng thương mại cắt giảm chi phí, tạo điều kiện tiếp tục giảm lãi suất cho doanh nghiệp, để vừa chia sẻ với doanh nghiệp, vừa tạo điều kiện đẩy mạnh tín dụng từ nay đến cuối năm.

Vực dậy tăng trưởng ở các đầu tàu kinh tế

Liên quan đến thúc đẩy tăng trưởng, sản xuất kinh doanh, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đỗ Thành Trung cũng trả lời về các giải pháp vực dậy tăng trưởng của một số địa phương, các điểm sản xuất trên cả nước có quy mô sản xuất lớn và có sự tăng trưởng chậm trong quý I như TP. Hồ Chí Minh (HCM), Bắc Ninh, Thái Nguyên.

Theo Thứ trưởng Đỗ Thành Trung, quý I/2023 là một trong những quý I có tốc độ tăng trưởng thấp, động lực tăng trưởng suy giảm chủ yếu do lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, đặc biệt là công nghiệp chế biến chế tạo - nguyên nhân chính dẫn đến các trung tâm sản xuất lớn, công nghiệp xây dựng bị ảnh hưởng.

Điều này dẫn đến khoảng 7 địa phương có tốc độ tăng trưởng tương đối thấp, trong đó có TP.HCM, Thái Nguyên, Bắc Ninh. Bên cạnh nguyên nhân động lực là công nghiệp chế biến chế tạo suy giảm, còn một số ảnh hưởng khác như tổng cầu giảm, xuất nhập khẩu, FDI, và những lĩnh vực riêng đặc thù của các địa phương cũng suy giảm.

Trong đó có những nguyên nhân đặc thù như TP.HCM, trước đây thông thường 1 năm TP.HCM có khoảng 70 - 80 dự án để phê duyệt chủ trương và đầu tư xã hội. Trong 2 năm trở lại đây, dự án mới để phê duyệt rất thấp, liên quan đến năng lực quản lý, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho hay.

Tín dụng cho kinh doanh bất động sản tăng cao gấp 3 lần tốc độ tín dụng chung

Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đỗ Thành Trung

Từ những nguyên nhân chung cũng như đặc thù của từng địa phương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tham mưu Chính phủ nhiều giải pháp để vực lại động lực tăng trưởng, đặc biệt là chỉ đạo điều hành để tháo gỡ khó khăn vướng mắc trong các lĩnh vực lớn như tín dụng, bất động sản, trái phiếu doanh nghiệp… Ngoài ra, có đặt vấn đề hỗ trợ cho các địa phương này.

Bên cạnh đó, Thứ trưởng Đỗ Thành Trung cũng nhấn mạnh một số giải pháp cho các địa phương như nâng cao năng lực, chất lượng chỉ đạo điều hành, xử lý công việc của chính quyền địa phương các cấp, tạo điều kiện để những người trong hệ thống quản lý dám nghĩ, dám làm.

Đồng thời, các địa phương cần đẩy mạnh đầu tư công với vai trò là động lực tăng trưởng. Các trung tâm lớn có dư địa tốt về thúc đẩy du lịch, các ngành dịch vụ trở thành động lực tăng trưởng thứ hai bên cạnh công nghiệp, đầu tư công; tập trung triển khai tốt các giải pháp hỗ trợ người dân, doanh nghiệp mà gần đây Chính phủ đã ban hành…

Hoàng Yến

Đọc thêm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Room tín dụng cạn dần cùng chế tài siết chặt, cuộc đua lãi suất khó "nóng" trở lại cuối năm

Lãi suất huy động khó tăng trở lại cuối năm 2026 do việc đua tăng lãi suất đã bị kiểm soát chặt hơn và room tín dụng sát trần, thậm chí vượt nếu tính thêm số dư mua hẳn miễn truy đòi bộ chứng từ theo thư tín dụng (L/C). Tuy nhiên, kỳ vọng lãi suất giảm sâu hơn mức chỉ đạo trong năm 2027 là chưa thực tế.
VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

VPBank ưu đãi chuyển tiền quốc tế, tiếp sức hành trình du học

(TBTCO) - Chuẩn bị tài chính là một trong những bước quan trọng để hành trình du học diễn ra suôn sẻ. Bên cạnh việc lựa chọn phương thức chuyển tiền phù hợp, phụ huynh và du học sinh cũng cần quan tâm đến phí giao dịch và tỷ giá ngoại tệ để tối ưu chi phí.
Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

Tỷ giá USD hôm nay 23/10: USD ngân hàng đồng loạt giảm, DXY lùi về vùng thấp nhất ba tuần

(TBTCO) - Sáng 23/10, tỷ giá trung tâm giảm 5 đồng xuống 25.627 đồng, USD ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm 0,07% xuống 101,62 điểm khi Fed phát tín hiệu chưa vội tăng lãi suất, khiến đồng bạc xanh gần đáy ba tuần. Tuy nhiên, thị trường vẫn dự báo khả năng Fed tăng lãi suất tháng 12 gần 80%.
Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

Vietcombank đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng thúc đẩy sản xuất, kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên

(TBTCO) - Thực hiện chủ trương của Chính phủ và chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc giảm mặt bằng lãi suất cho vay nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh và tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nhằm hạ chi phí vốn cho khách hàng.
Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

Ngân hàng đua ứng dụng AI, ra biển lớn cần trang bị đủ "phao" an toàn

(TBTCO) - Ngành ngân hàng đang chuyển từ số hóa sang ứng dụng AI, khai thác dữ liệu để tạo giá trị thực chất, thay vì chỉ khoác “một chiếc áo khoác đẹp”. Tuy nhiên, Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước lưu ý rủi ro an ninh mạng đi kèm, đòi hỏi các ngân hàng phải trang bị “phao”, đưa khả năng chống chịu số trở thành năng lực cốt lõi.
Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

Tỷ giá USD hôm nay 22/10: USD đồng loạt giảm trước thềm bầu cử giữa kỳ Mỹ và cuộc họp Fed

(TBTCO) - Sáng 22/10, tỷ giá trung tâm giảm 2 đồng xuống 25.632 đồng, tỷ giá USD tại các ngân hàng đồng loạt đi xuống. Chỉ số DXY giảm nhẹ 0,04% xuống 101,69 điểm. Diễn biến cuộc bầu cử giữa kỳ của Mỹ ngày 3/11, diễn biến thị trường trái phiếu và kỳ vọng chính sách của Fed đều chi phối triển vọng đồng USD.
Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 22/10: Vàng miếng, vàng nhẫn trong nước đồng loạt giảm đến 500.000 đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng miếng và vàng nhẫn trong nước giảm 100.000 - 500.000 đồng/lượng, đưa giá giao dịch về vùng 137,4 - 142,3 triệu đồng/lượng.
Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

Nâng cao hiệu quả đầu tư, đảm bảo an toàn Quỹ Bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Góp ý cho việc sửa Luật Bảo hiểm xã hội, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao hiệu quả đầu tư của Quỹ Bảo hiểm xã hội, nhưng bảo đảm an toàn phải là điều kiện tiên quyết.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,000 141,000
Hà Nội - PNJ 138,000 141,000
Đà Nẵng - PNJ 138,000 141,000
Miền Tây - PNJ 138,000 141,000
Tây Nguyên - PNJ 138,000 141,000
Đông Nam Bộ - PNJ 138,000 141,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 13,870 ▼30K 14,170 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,720 ▼30K 14,120 ▼30K
Trang sức 99.9 13,400 ▼30K 14,000 ▼30K
Trang sức 99.99 13,410 ▼30K 14,010 ▼30K
Vàng 99.9 12,900
Vàng 99.99 13,100 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,387 ▲1248K 14,172 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,387 ▲1248K 14,173 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 135 139
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 135 1,391
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 133 138
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 129,634 136,634
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,386 10,366
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 84,199 93,999
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 74,538 84,338
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 70,812 80,612
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 47,902 57,702
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,387 ▲1248K 1,417 ▲1275K
Cập nhật: 24/10/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17640 17913 18499
CAD 17919 18194 18811
CHF 30673 31049 31695
CNY 0 3831 3927
EUR 28318 28534 29617
GBP 33752 34141 35079
HKD 0 3164 3367
JPY 158 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14416 15001
SGD 19669 19950 20531
THB 680 743 797
USD (1,2) 25578 0 0
USD (5,10,20) 25616 0 0
USD (50,100) 25643 25657 26027
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,640 25,640 26,020
USD(1-2-5) 24,615 - -
USD(10-20) 24,615 - -
EUR 28,388 28,411 29,760
JPY 159.97 160.26 169.99
GBP 33,957 34,049 35,225
AUD 17,799 17,863 18,542
CAD 18,084 18,142 18,813
CHF 31,004 31,100 32,019
SGD 19,790 19,852 20,633
CNY - 3,796 3,942
HKD 3,227 3,237 3,374
KRW 17.95 18.72 20.37
THB 729.64 738.65 790.96
NZD 14,376 14,509 14,938
SEK - 2,560 2,651
DKK - 3,807 3,943
NOK - 2,719 2,819
LAK - 0.88 1.22
MYR 5,908.41 - 6,669.56
TWD 715.24 - 866.6
SAR - 6,763.5 7,125.51
KWD - 81,588 86,825
AED - 6,777 7,303
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,630 25,660 26,040
EUR 28,405 28,548 29,777
GBP 33,993 34,164 35,200
HKD 3,224 3,243 3,360
CHF 30,953 31,109 32,055
JPY 160.47 162.09 170.07
AUD 17,765 17,890 18,488
SGD 19,794 19,974 20,571
THB 735 750 787
CAD 18,075 18,202 18,801
NZD 14,454 15,012
KRW 18.86 20.85
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25640 25640 26040
AUD 17779 17879 18805
CAD 18101 18201 19213
CHF 31001 31031 32620
CNY 3813.9 3838.9 3973.9
CZK 0 1140 0
DKK 0 3860 0
EUR 28491 28521 30243
GBP 34071 34121 35879
HKD 0 3300 0
JPY 161.46 161.96 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6445 0
NOK 0 2730 0
NZD 0 14493 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2605 0
SGD 19838 19968 20692
THB 0 710.4 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13900000 13900000 14200000
SBJ 12500000 12500000 14200000
Cập nhật: 24/10/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30