Trồng mắc ca lấy ‘hạt nữ hoàng quả khô’, nông dân bán sướng hơn đi ‘bán vàng’

(TBTCO) - Cây mắc ca dễ trồng, dễ chăm và vào mùa thu hoạch thì “bán sướng hơn đi bán vàng”. Bởi bán vàng mình phải mang đi tiệm, còn mắc ca thì thương lái đến tận vườn đặt cọc tiền trước để được thu mua.
aa

Đó là chia sẻ từ ông Đặng Văn Khánh đang có 5 ha mắc ca tại xã miền núi Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định. Trong đó, vườn hơn 500 cây trồng năm 2012 cho thu hoạch đều đặn 5 năm nay, doanh thu mỗi năm không dưới 200 triệu đồng.

Thương lái ôm tiền đến vườn đặt cọc thu mua

Ông Khánh là người đầu tiên trồng cây mắc ca ở Vĩnh Sơn. Cơ duyên đến với cây trồng có hạt được mệnh danh là “nữ hoàng hạt quả khô” đến từ sau chuyến đi Đắk Lắk năm 2012 thăm quan vườn mắc ca. Ông Khánh mua hơn 500 cây đưa về địa phương trồng thử nghiệm. Ông Khánh nổi tiếng là người tiên phong đưa giống cây mới về địa phương, giúp đồng bào dân tộc Bana phát triển kinh tế, nhưng đều là cây trồng ngắn ngày nên chỉ đạt hiệu quả trong vài ba năm đầu.

Trồng mắc ca lấy ‘hạt nữ hoàng quả khô’, nông dân bán sướng hơn đi ‘bán vàng’

Vườn mắc ca sai trĩu quả của gia đình ông Đặng Văn Khánh trồng từ năm 2012 đang chuẩn bị cho thu hoạch.

“Tôi trồng thử nghiệm hàng trăm loại cây từ ngô, lúa, đậu đến cây ăn quả như bơ, xoài, sầu riêng, măng cụt… nhưng đến giờ thì không có cây nào vượt qua mắc ca” - ông Khánh quả quyết.

Theo ông Khánh, mắc ca trồng trên đất đồi Vĩnh Sơn lớn nhanh, ít sâu bệnh. Đến năm thứ 5 trở đi, cây trổ hoa rất dày, đậu nhiều trái. Đặc biệt, 10 năm nay, vườn cây mắc ca chưa từng sử dụng thuốc bảo vệ thực vật. Chi phí đầu tư chủ yếu là thuê nhân công cắt cỏ, mua phân bò bón cây. “Chi phí vụ năm ngoái tốn hơn 10 triệu đồng, nhưng tiền bán mắc ca thu về hơn 200 triệu đồng” - ông Khánh tiết lộ.

Trồng mắc ca lấy ‘hạt nữ hoàng quả khô’, nông dân bán sướng hơn đi ‘bán vàng’

PGS.TS Nguyễn Lân Hùng ngỡ ngàng cây mắc ca trồng xã Vĩnh Sơn, huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định hợp khí hậu, phát triển tốt, ra quả sai.

Điểm khác biệt của mắc ca với nhiều loại cây trồng khác mà ông Khánh tâm đắc, khẳng định “chưa có cây nào đấu được với mắc ca” là ở khâu tiêu thụ. Năm 2021, giá mắc ca bán sô từ 75.000 - 80.000 đồng/kg, còn hàng loại 1 giá từ 100.000 - 120.000 đồng/kg. “Từ khi vườn mắc ca cho thu hoạch đến giờ, tôi chưa bán một kg ra bên ngoài vì có thương lái mua tại vườn. Thông thường, trước khi thu hoạch 1 - 2 tháng, thương lái sẽ đi thăm vườn và ôm tiền đặt cọc luôn. Tôi thấy bán mắc ca còn sướng hơn bán vàng, bởi bán vàng, mình phải đến tiệm, còn mắc ca thương lái đến tận vườn thu mua” - ông Khánh ví von.

Mỗi gia đình trồng 1 ha mắc ca, đời sống sẽ khá giả

Vườn mắc ca của ông Khánh là minh chứng sinh động nhất thuyết phục nhiều hộ gia đình ở Vĩnh Sơn chuyển đổi cây trồng. Một trong số đó là ông Dương Công Thức - người từng là nhân công làm thuê cho ông Khánh và hiện đã có gần 3 ha trồng mắc ca.

“Những cây mắc ca đầu tiên đưa từ Đắk Lắk về đây do tay tôi trồng và chăm sóc, thấy ông Khánh trồng mà mê nhưng khổ nỗi năm đó, tôi nuôi 3 con học đại học, không có tiền mua cây” - ông Thức kể lại và nói tiếp: “Mãi đến đầu năm 2021, các con ra trường, có công ăn việc làm. Gia đình bán đồi keo được hơn 100 triệu đồng, tôi quyết định mua gần 1.000 cây mắc ca về trồng thay thế keo lai”. Đến nay, một số cây mắc ca của ông Thức bắt đầu trổ hoa.

Câu chuyện ông Khánh trồng cây mắc ca cũng truyền cảm hứng cho rất nhiều thanh niên người dân tộc thiểu số Bana. Theo UBND xã Vĩnh Sơn, đến nay diện tích mắc ca đã tăng lên hơn 40 ha, phần lớn các hộ là những đôi bạn trẻ mới lập gia đình được ông Khánh tư vấn và chọn mắc ca là cây trồng khởi nghiệp.

Trồng mắc ca lấy ‘hạt nữ hoàng quả khô’, nông dân bán sướng hơn đi ‘bán vàng’

Chuyên gia kỹ thuật của Hiệp hội mắc ca Việt Nam tư vấn cho ông Khánh về chế độ dinh dưỡng để hạt quả mắc ca đạt chất lượng tốt nhất

“Tôi vẫn nói với anh em thanh niên mới lập gia đình, Nhà nước có chính sách vay vốn ưu đãi 50 triệu đồng thì cứ mạnh dạn mà vay. Trong đó, 30 triệu mua giống trồng được 1 ha mắc ca. 20 triệu còn lại mua 2 con bê cái. Nuôi 5 năm sau, 2 con bê giúp đủ trả nợ ngân hàng, còn vườn mắc ca sẽ nuôi tới đời con cháu. Tôi suy nghĩ đơn giản thế thôi mà số anh em thanh niên làm theo ý tưởng này cũng không phải là ít. Nếu trồng sắn, lúa rẫy, keo… chỉ giúp đời sống tạm ổn thôi. Nhưng nếu mỗi gia đình trồng 1 ha hoặc 5 sào thôi thì dứt khoát đời sống bà con sẽ khá giả, thay đổi” - ông Khánh kể.

Trực tiếp thăm vườn của ông Đặng Văn Khánh, ông Nguyễn Lân Hùng - Phó chủ tịch Hiệp hội mắc ca Việt Nam ngỡ ngàng khi mắc ca ở đây ra quả rất sai. Cũng theo ông Nguyễn Lân Hùng, thực tế nghiên cứu và khảo nghiệm ở các huyện miền Trung giáp với Tây Nguyên có điều kiện thời tiết thuận lợi trồng mắc ca. Các địa phương, nông dân mạnh dạn chuyển đổi diện tích đang trồng ngô, keo, sắn… hiệu quả kinh tế rất thấp sang trồng mắc ca, đây là loại cây giá trị kinh tế cao, giúp nông dân có thu nhập cao hơn.

“Ngay tại mô hình của ông Khánh, cùng một diện tích đất ấy, nhưng khi đưa mắc ca vào thì hiệu quả kinh tế vượt trội so với trồng sắn, trồng keo. Ở miền Trung, muốn biết xem địa phương có đủ điều kiện trồng được mắc ca không, bà con cứ liên hệ với chúng tôi, Hiệp hội mắc ca Việt Nam sẽ cử cán bộ xuống tận nơi khảo sát, nếu thời tiết phù hợp sẽ tiếp tục hỗ trợ bà con trồng mắc ca” - ông Hùng nói.

Trồng mắc ca được vay vốn trong 10 năm, không cần sổ đỏ

Ngân hàng TMCP Bưu điện Liên Việt (LienVietPostBank) đang cho nông dân vay vốn ưu đãi để trồng mắc ca. Cụ thể, gói vay này được ân hạn 5 năm và tổng thời gian trả vốn, lãi lên tới 10 năm Trong 5 năm đầu tiên, nông dân không phải lo lắng trả lãi suất, vốn. Bắt đầu từ năm thứ 6, cây mắc ca cho thu hoạch, nông dân bắt đầu trả lãi, vốn và kéo dài đến năm thứ 10. Trong gói vay này, LienVietPostBank không yêu cầu nông dân phải thế chấp sổ đỏ khi làm thủ tục vay vốn và mỗi hộ được vay ưu đãi tối đa để trồng 2 ha.

Hoàng Phan

Đọc thêm

Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

Vietcombank đồng hành kiến tạo nền tảng phát triển bền vững cho thị trường vốn

(TBTCO) - Dòng vốn cho một kỷ nguyên mới không chỉ cần được khơi thông, mà cần được vận hành trên nền tảng của an toàn, minh bạch và niềm tin. Vietcombank sẵn sàng cùng ngành quản lý quỹ và thị trường vốn Việt Nam kiến tạo nền tảng ấy, hôm nay và cho những chặng đường phát triển tiếp theo.
MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB dự tính chào bán cổ phiếu giá 10.000 đồng huy động nghìn tỷ, lập nhiều công ty con mở rộng hệ sinh thái

MSB lên kế hoạch tăng vốn lần hai trong năm 2026, dự kiến chào bán 936 triệu cổ phiếu giá 10.000 đồng, huy động 9.360 tỷ đồng. Song song, ngân hàng muốn thành lập ngân hàng 100% vốn tại VIFC; mở rộng mảng chứng khoán, bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, hướng tới hoàn thiện hệ sinh thái với hoạt động ngân hàng làm nền tảng cốt lõi.
Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

Ngân hàng Shinhan - cầu nối dòng vốn Hàn Quốc với thị trường Việt Nam

(TBTCO) - Thị trường vốn Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, được hỗ trợ bởi triển vọng nâng hạng, sự gia tăng của nhà đầu tư tổ chức và nhu cầu đa dạng hóa sản phẩm đầu tư. Việc nâng hạng không chỉ giúp cải thiện vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính quốc tế, mà còn mở ra cơ hội tiếp cận dòng vốn quy mô lớn từ các quỹ đầu tư toàn cầu.
SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

SHB cung cấp giải pháp tài chính toàn diện cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) tiếp tục đẩy mạnh hệ sinh thái giải pháp tài chính dành cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu, hỗ trợ khách hàng chủ động nguồn vốn, tối ưu dòng tiền, tiết giảm chi phí giao dịch và quản trị rủi ro tỷ giá trong toàn bộ chuỗi thương mại quốc tế.
PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

PVcomBank tăng vốn sau hơn một thập kỷ và “ẩn số” nhà đầu tư khi chào bán cổ phiếu cao hơn 50% thị giá

(TBTCO) - PVcomBank chốt giá chào bán riêng lẻ 300 triệu cổ phiếu ở mức 13.628 đồng/cổ phần, cao hơn 53% thị giá PCB kết phiên ngày 28/9. Trong bối cảnh hoạt động kinh doanh còn nhiều áp lực, danh tính nhà đầu tư và tỷ lệ cổ phần được phân phối là những điểm đáng chú ý.
Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

Việt Nam giữ vững “tay lái” chính sách tiền tệ

(TBTCO) - Chỉ trong hơn một tuần, ba ngân hàng trung ương lớn đồng loạt tăng lãi suất 0,25 điểm phần trăm khi nỗi lo lạm phát dai dẳng. USD mạnh lên gây áp lực tỷ giá, đặt ra câu hỏi liệu Việt Nam có “nối gót” xu hướng thắt chặt. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số và dư địa điều hành tỷ giá đang tạo cơ sở để duy trì chính sách tiền tệ hỗ trợ nền kinh tế.
Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

Từ dữ liệu đến dòng tiền, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ

(TBTCO) - Thay vì phụ thuộc vào tài sản thế chấp hay hồ sơ tín dụng mỏng vốn khiến nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiếp cận vốn, ngành ngân hàng đang đẩy mạnh số hóa và liên thông dữ liệu các ngành. Bước đi này giúp nhà băng "đọc vị" chính xác sức khỏe tài chính và dòng tiền doanh nghiệp, rút ngắn đường tiếp cận vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

Vietcombank nối dài hành trình chuyển đổi số cùng tiểu thương trên cả nước

(TBTCO) - Từ Thái Nguyên, Đồng Tháp, Đắk Lắk đến Hưng Yên, Vietcombank đã đồng hành cùng chuỗi Chương trình Hỗ trợ tiểu thương ứng dụng thương mại điện tử, đưa các giải pháp tài chính số đến gần hơn với hoạt động kinh doanh hằng ngày, góp phần hình thành hệ sinh thái thương mại hiện đại, minh bạch và bền vững.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Hà Nội - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Miền Tây - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 139,500 ▲100K 142,500 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 13,950 ▲10K 14,250 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,850 ▼40K 14,250 ▼40K
NL 99.99 13,300 ▼100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼100K
Trang sức 99.9 13,560 ▼40K 14,160 ▼40K
Trang sức 99.99 13,570 ▼40K 14,170 ▼40K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,395 ▲1K 14,252 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,395 ▲1K 14,253 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 139 ▼1250K 142 ▼1277K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 139 ▼1250K 1,421 ▲1279K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,365 ▲1K 141 ▼1268K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 132,604 ▲99K 139,604 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,111 ▲75K 105,911 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,624 ▼77548K 9,604 ▼86368K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,369 ▲61K 86,169 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 72,561 ▲58K 82,361 ▲58K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,153 ▲42K 58,953 ▲42K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,395 ▲1K 1,425 ▲1K
Cập nhật: 29/09/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17643 17916 18492
CAD 17766 18040 18659
CHF 30521 30897 31550
CNY 0 3832 3928
EUR 28844 29062 30146
GBP 33580 33968 34906
HKD 0 3179 3382
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14380 14968
SGD 19787 20069 20640
THB 690 753 806
USD (1,2) 25709 0 0
USD (5,10,20) 25748 0 0
USD (50,100) 25776 25790 26160
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,790 25,790 26,170
USD(1-2-5) 24,759 - -
USD(10-20) 24,759 - -
EUR 28,893 28,916 30,289
JPY 160.48 160.77 170.51
GBP 33,755 33,846 35,018
AUD 17,824 17,888 18,564
CAD 17,962 18,020 18,683
CHF 30,754 30,850 31,763
SGD 19,889 19,951 20,735
CNY - 3,801 3,946
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.63 18.39 20.02
THB 737.62 746.73 799.31
NZD 14,353 14,486 14,919
SEK - 2,554 2,644
DKK - 3,875 4,012
NOK - 2,663 2,759
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,950.98 - 6,716.23
TWD 735.55 - 891.16
SAR - 6,801.44 7,164.49
KWD - 82,145 87,410
AED - 6,817 7,346
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,760 25,790 26,170
EUR 28,988 29,104 30,304
GBP 33,802 33,938 34,958
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,695 30,818 31,745
JPY 161.21 161.86 169.84
AUD 17,879 17,951 18,542
SGD 19,983 20,063 20,655
THB 754 757 794
CAD 17,992 18,064 18,651
NZD 14,464 15,004
KRW 18.30 20.28
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25790 26160
AUD 17780 17880 18810
CAD 17940 18040 19054
CHF 30714 30744 32325
CNY 3814.4 3839.4 3974.6
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28986 29016 30742
GBP 33851 33901 35653
HKD 0 3315 0
JPY 161.24 161.74 172.25
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14452 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19925 20055 20776
THB 0 717.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12000000 12000000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,678 25,798 26,170
USD20 25,648 25,798 26,170
USD1 25,628 25,798 26,170
AUD 17,867 17,967 19,075
EUR 28,865 28,965 30,621
CAD 17,909 18,009 19,313
SGD 20,010 20,160 20,715
JPY 162.14 163.64 170.27
GBP 33,789 33,939 35,286
XAU 13,898,000 0 14,202,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 753 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/09/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30