Agribank nỗ lực cùng cả nước hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế

Văn Tuấn
(TBTCO) - Năm 2025, Agribank xác định mục tiêu đổi mới sáng tạo, tăng tốc, đột phá, tiếp tục tập trung mọi nguồn lực để hoàn thành vượt các chỉ tiêu kế hoạch kinh doanh, tăng trưởng an toàn, hiệu quả, đóng góp thiết thực cho sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
aa
Agribank nỗ lực cùng cả nước hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Agribank nỗ lực đóng góp vào sự phát triển bền vững của nền kinh tế đất nước. Ảnh: Phương Liên

Tiên phong hiện thực hóa các chủ trương, chính sách

Ngày 5/2/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 25/NQ-CP về mục tiêu tăng trưởng các ngành, các lĩnh vực và các địa phương bảo đảm mục tiêu tăng trưởng cả nước năm 2025 đạt 8% trở lên.

Ngày 10/4/2025, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 77/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 3/2025 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương. Theo đó, Chính phủ yêu cầu các bộ, ngành, địa phương ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng cao gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; chủ động, linh hoạt, phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả với những vấn đề phát sinh, kiên định mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2025 từ 8% trở lên.

Tích cực vào cuộc, hoàn thành chỉ tiêu đề ra

Sự vào cuộc tích cực và đồng bộ từ trụ sở chính tới các chi nhánh là tiền đề quan trọng để Agribank tiếp tục vượt qua mọi khó khăn, thách thức, nỗ lực phấn đấu đạt và vượt các chỉ tiêu quan trọng đề ra trong năm 2025, cùng ngành Ngân hàng có nhiều đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.

Đối với ngành Ngân hàng, Chính phủ yêu cầu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương theo dõi chặt chẽ tình hình quốc tế, khu vực; điều hành tỷ giá phù hợp với điều kiện thị trường, sẵn sàng can thiệp khi cần thiết nhằm ổn định thị trường ngoại tệ.

Chính phủ giao Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện quyết liệt, hiệu quả hơn nữa các giải pháp phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay, tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với chi phí hợp lý, giá vốn rẻ. Hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng; đẩy mạnh cho vay ngắn hạn để hỗ trợ các doanh nghiệp bị ảnh hưởng do chính sách thuế quan của Mỹ; nghiên cứu xây dựng gói tín dụng ưu đãi cho người dưới 35 tuổi mua nhà, gói tín dụng ưu đãi khoảng 500 nghìn tỷ đồng cho doanh nghiệp đầu tư hạ tầng, công nghệ số vay dài hạn…

Với vai trò là một trong những ngân hàng thương mại nhà nước hàng đầu, Agribank xác định rõ trách nhiệm trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ, góp phần hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển và thịnh vượng. Tinh thần đổi mới sáng tạo cùng với việc quyết liệt triển khai các giải pháp đẩy mạnh tăng trưởng hiệu quả, an toàn là những yếu tố then chốt để Agribank đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế - xã hội 8% trở lên của đất nước trong năm 2025.

Để hiện thực hóa mục tiêu Chính phủ đề ra, ngay từ đầu năm, Đảng ủy Agribak đã ban hành Nghị quyết số 63-NQ/ĐU-NHNo về nhiệm vụ công tác năm 2025, đây cũng là cơ sở để Hội đồng thành viên ban hành Nghị quyết số 01/NQ-HĐTV về chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu năm 2025; Tổng Giám đốc Agribank ban hành Văn bản số 1567/NHNo-KHCL về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp năm 2025.

Cùng với đó, Đảng ủy Agribank đã ban hành Chương trình hành động số 42-CTr/ĐU ngày 4/3/2025 thực hiện Kết luận của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Đề án bổ sung về phát triển kinh tế - xã hội năm 2025 với mục tiêu tăng trưởng đạt 8% trở lên. Đây là cơ sở định hướng hành động cho toàn Đảng bộ và làm căn cứ để cụ thể hóa nội dung kết luận vào hoạt động của Agribank, định hướng hành động cho Đảng bộ Agribank.

Quyết tâm hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kinh doanh

Năm 2025, Agribank quyết tâm hoàn thành toàn diện các chỉ tiêu kinh doanh được Ngân hàng Nhà nước giao, các chỉ tiêu, mục tiêu của phương án cơ cấu lại, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Agribank lần thứ X, nhiệm kỳ 2020 - 2025 và Đề án chiến lược phát triển Agribank đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

Theo đó, ngay trong quý I/2025, toàn hệ thống Agribank đã kịp thời triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh an toàn, hiệu quả. Agribank đang tiếp tục cung cấp đầy đủ các sản phẩm tín dụng tới tất cả đối tượng khách hàng. Thực hiện hỗ trợ người dân và doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo định hướng chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước, Agribank đã ban hành các cơ chế, chính sách, triển khai sớm 10 chương trình tín dụng ưu đãi lãi suất với tổng quy mô khoảng 350.000 tỷ đồng nhằm tăng trưởng tín dụng ngay từ những tháng đầu, quý đầu.

Bên cạnh đó, Agribank luôn chú trọng công tác phát triển khách hàng, triển khai quyết liệt nhiều giải pháp về cơ cấu lại hoạt động như: sắp xếp tổ chức bộ máy, mạng lưới; xử lý, thu hồi nợ xấu; công tác tài chính; thúc đẩy chuyển đổi số…

Đến ngày 31/3/2025, các chỉ tiêu kinh doanh trọng yếu của Agribank đạt kết quả tích cực. Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt gần 1,78 triệu tỷ đồng. Đây là năm có mức tăng trưởng dư nợ đột phá của Agribank so với cùng kỳ các năm gần đây. Tổng nợ xấu nội bảng giảm 1.107 tỷ đồng (tương đương 3,79%) so với đầu năm, 69/162 chi nhánh giảm nợ xấu, thu nợ sau xử lý rủi ro cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2024.

Đạt được kết quả trên, ngoài vai trò chỉ đạo điều hành sát sao, linh hoạt từ trụ sở chính, nhiều chi nhánh đã thay đổi tư duy kinh doanh, chủ động triển khai các giải pháp, vận dụng hiệu quả các chính sách, sản phẩm do trụ sở chính ban hành để thúc đẩy hoạt động kinh doanh ngay từ đầu năm, không còn tâm lý mùa vụ, thụ động.

Để đảm bảo tiến độ thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh năm 2025 được Ngân hàng Nhà nước, Đảng ủy, Hội đồng thành viên giao và các mục tiêu của Phương án cơ cấu lại Agribank gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021 - 2025, Tổng Giám đốc Agribank yêu cầu các đơn vị trong toàn hệ thống tổ chức triển khai nghiêm túc chương trình, nhiệm vụ công tác từng tháng, quý.

Đồng thời, phát huy sức mạnh đoàn kết, tinh thần đổi mới sáng tạo, không ngừng nỗ lực phấn đấu, biến khó khăn, thách thức thành cơ hội bứt phá, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt để hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch.

Dành 50.000 tỷ đồng, đồng hành cùng hộ kinh doanh tiếp sức sản xuất

Tiếp nối chương trình tín dụng thành công trong năm 2024 và để khẳng định cam kết của Agribank đồng hành cùng sự phục hồi và phát triển kinh tế hộ gia đình, kinh tế nông thôn và tiểu thương đô thị, Agribank tiếp tục triển khai chương trình tín dụng ưu đãi mới dành cho khách hàng cá nhân.

Chương trình tín dụng với tổng hạn mức lên tới 50.000 tỷ đồng được áp dụng từ ngày 2/4/2025 đến 30/6/2025 hoặc cho đến khi giải ngân hết quy mô chương trình. Chương trình áp dụng mức lãi suất ưu đãi từ 4,5%/năm mang đến lợi ích thiết thực cho khách hàng trong bối cảnh chi phí vốn ngày càng trở thành yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh.

Bên cạnh đó, Agribank cũng đưa ra nhiều phương thức vay linh hoạt phù hợp với nhu cầu thực tế như vay từng lần, vay theo hạn mức, hoặc vay thấu chi trên tài khoản thanh toán. Việc xét duyệt và giải ngân sẽ tuân thủ theo các quy định hiện hành của Agribank và các điều kiện cụ thể của chương trình.

Điểm đáng chú ý của chương trình tín dụng này không chỉ nằm ở mức lãi suất cạnh tranh mà còn ở tính linh hoạt và thiết kế sát thực tế của sản phẩm. Agribank đã khéo léo cân đối giữa quy định chặt chẽ của tín dụng Ngân hàng và yêu cầu thực tiễn từ người vay vốn./.

Văn Tuấn

Đọc thêm

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

Tỷ giá USD hôm nay (22/9): USD nhích nhẹ, DXY dao động hẹp khi Mỹ đề xuất rót 5 tỷ USD tái thiết Trung Đông

(TBTCO) - Sáng 22/9, tỷ giá trung tâm tăng 3 đồng, lên 25.640 đồng/USD, trong khi chỉ số DXY dao động rất hẹp quanh 100,43 điểm. Diễn biến thị trường được chú ý khi chính quyền Tổng thống Donald Trump đề xuất rót 5 tỷ USD vào quỹ hỗ trợ tái thiết hạ tầng Trung Đông, nhà đầu tư cũng chờ thêm tín hiệu từ các quan chức Fed để xác định hướng đi tiếp theo.
VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

Nhiều giải pháp xử lý tổ chức tín dụng yếu kém, siết giám sát sở hữu ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước cho biết 04 nhóm giải pháp với 53 nhiệm vụ được cụ thể hóa nhằm triển khai Đề án “Tiếp tục hiện đại hóa hệ thống ngân hàng, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém, tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa”. Trong đó, tăng cường thanh tra, giám sát, ngăn ngừa và xử lý vi phạm về sở hữu, chuyển nhượng cổ phiếu, gây rủi ro cho tổ chức tín dụng.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 144,900
Hà Nội - PNJ 141,900 144,900
Đà Nẵng - PNJ 141,900 144,900
Miền Tây - PNJ 141,900 144,900
Tây Nguyên - PNJ 141,900 144,900
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 144,900
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 14,490
Miếng SJC Nghệ An 14,190 14,490
Miếng SJC Thái Bình 14,190 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 14,540
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 14,540
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,850 14,450
Trang sức 99.99 13,860 14,460
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 14,492
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 14,493
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 1,445
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 1,434
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 14,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 107,711
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 97,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 87,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 83,761
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 59,954
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 1,449
Cập nhật: 23/09/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17973 18248 18827
CAD 18005 18280 18899
CHF 31130 31508 32152
CNY 0 3840 3937
EUR 29195 29415 30495
GBP 33957 34346 35297
HKD 0 3185 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14614 15204
SGD 19871 20153 20724
THB 702 765 818
USD (1,2) 25749 0 0
USD (5,10,20) 25788 0 0
USD (50,100) 25816 25830 26200
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25832 25832 26192
AUD 18156 18256 19181
CAD 18188 18288 19302
CHF 31370 31400 32974
CNY 3822.6 3847.6 3983.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29369 29399 31121
GBP 34253 34303 36072
HKD 0 3305 0
JPY 162.15 162.65 173.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14739 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20021 20151 20876
THB 0 729 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14490000
SBJ 13000000 13000000 14490000
Cập nhật: 23/09/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30