Bảo hiểm phi nhân thọ ghi nhận nhiều điểm sáng

Hồng Chi
(TBTCO) - Thị trường bảo hiểm tiếp tục đối mặt với nhiều áp lực, khó khăn, tuy nhiên với quyết tâm đổi mới từ định hướng cho tới chiến lược kinh doanh, kịp thời thích ứng với thị trường, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đã gặt hái được kết quả khả quan trong 6 tháng đầu năm 2024.
aa
Bảo hiểm phi nhân thọ ghi nhận nhiều điểm sáng
Liên danh các nhà bảo hiểm ký thỏa thuận hợp tác cùng Tập đoàn HBRE. Ảnh: Phan Hà

Tăng trưởng tích cực

Theo đại diện Tổng công ty Bảo hiểm PVI, kết thúc quý II/2024, tổng doanh thu bảo hiểm của Bảo hiểm PVI đạt 12.016 tỷ đồng, hoàn thành 151,9% kế hoạch 6 tháng, tăng trưởng 65,7%. Lợi nhuận trước thuế đạt 502 tỷ đồng, hoàn thành 149,9% kế hoạch 6 tháng, tăng trưởng 42,6%, tiếp tục giữ vững vị trí dẫn đầu thị trường bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam với tốc độ tăng trưởng nhanh nhất.

Bảo hiểm PVI cũng được Bộ Tài chính chấp thuận tăng vốn điều lệ từ 3.300 tỷ đồng lên 3.500 tỷ đồng, tiếp tục là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ có vốn điều lệ lớn nhất tại thị trường Việt Nam. Việc tăng vốn điều lệ này nằm trong chiến lược phát triển của Bảo hiểm PVI nhằm nâng cao năng lực tài chính, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình mở rộng mạng lưới hoạt động, đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng tốt hơn nữa nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Đại diện Bảo hiểm Bảo Minh cho biết, 6 tháng đầu năm 2024, công ty đạt doanh thu 3.666 tỷ đồng, tăng trưởng 16,08% so với cùng kỳ và đạt 53,92% kế hoạch năm, vượt mức tiến độ kế hoạch được đại hội đồng cổ đông thông qua.

Theo số liệu từ Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam, 5 tháng đầu năm 2024, Bảo Minh vẫn đảm bảo giữ vững vị trí thứ ba về thị phần doanh thu, với tỷ lệ thị phần chiếm 8,4% (tăng trưởng hơn 0,6% so với tỷ lệ thị phần năm 2023). Về lợi nhuận, Bảo Minh ước tính sẽ đạt được 188,5 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế trong 6 tháng đầu năm 2024, bằng 102% so với cùng kỳ năm 2023 và vượt tiến độ 50% lợi nhuận kế hoạch 2024 được Đại hội đồng cổ đông giao.

Được biết, tại Đại hội cổ đông thường niên tổ chức cuối tháng 4/2024, cổ đông Bảo hiểm Bảo Minh đã thông qua kế hoạch kinh doanh năm 2024, với tổng doanh thu năm 2024 là 6.800 tỷ đồng (tăng trưởng 2,56%), trong đó doanh thu bảo hiểm gốc là 5.824,5 tỷ đồng, doanh thu nhận tái bảo hiểm là 662,5 tỷ đồng, doanh thu hoạt động tài chính và kinh doanh bất động sản đầu tư là 313 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế 377 tỷ đồng; tỷ lệ chia cổ tức tối thiểu là 10%.

Đại diện Bảo hiểm PJICO cho biết, hoạt động kinh doanh của công ty 6 tháng đầu năm 2024 đạt nhiều kết quả khả quan, nhiều chỉ tiêu hoàn thành vượt kế hoạch. Theo đó, tổng doanh thu 6 tháng đầu năm 2024 của Bảo hiểm PJICO ước đạt 2.546 tỷ đồng, hoàn thành 53,4% kế hoạch năm, trong đó, doanh thu bảo hiểm gốc ước đạt 2.154 tỷ đồng, hoàn thành 53,6% kế hoạch, tăng trưởng 7,5% so với cùng kỳ năm 2023. Đặc biệt, nhờ kiểm soát tốt hoạt động đầu tư, tài chính, thúc đẩy khai thác các sản phẩm bảo hiểm mới, kết quả lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm của Bảo hiểm PJICO đã hoàn thành 65,8% kế hoạch đại hội đồng cổ đông, ước đạt 190 tỷ đồng.

Nỗ lực hoàn thành mục tiêu đề ra

Đại diện Bảo hiểm PVI cho biết, công ty quyết tâm hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch đã đề ra của năm 2024. Theo đó, công ty sẽ tiếp tục tập trung mở rộng, chiếm lĩnh các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, các dịch vụ có quy mô vừa và nhỏ. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh phát triển kênh thương mại điện tử và môi giới; mở rộng thị trường quốc tế nhằm phát triển quy mô doanh thu nhận tái bảo hiểm trên nguyên tắc đảm bảo an toàn và hiệu quả; thu xếp các hợp đồng tái bảo hiểm mới nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động bảo hiểm; duy trì hệ thống bán lẻ vừa tăng trưởng quy mô, vừa giữ vững hiệu quả ...

Ông Vũ Anh Tuấn - Tổng Giám đốc Bảo hiểm Bảo Minh khẳng định, kết quả mà công ty đạt được trong 6 tháng đầu năm 2024 trước hết nhờ vào đường lối, chiến lược phát triển đúng đắn mà đại hội đồng cổ đông, Hội đồng Quản trị Bảo Minh đã đặt ra. Bên cạnh đó, Bảo Minh ghi nhận nỗ lực không ngừng nghỉ của tập thể lãnh đạo, đội ngũ cán bộ nhân viên đã đóng góp vào thành công chung của tổng công ty.

Cũng theo đại diện Bảo hiểm Bảo Minh, 6 tháng cuối năm 2024 sẽ là giai đoạn khó khăn và nhiều thách thức cho thị trường kinh doanh bảo hiểm. Mặc dù vậy, Bảo Minh sẽ tiếp tục phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo, khắc phục khó khăn, tận dụng cơ hội, quyết tâm hoàn thành tốt kế hoạch kinh doanh mà đại hội đồng cổ đông đã thông qua.

Đại diện Bảo hiểm PJICO nhấn mạnh, mặc dù thị trường bảo hiểm năm 2024 vẫn còn nhiều khó khăn, nền kinh tế chưa phục hồi hoàn toàn, nhưng với thế mạnh của đơn vị kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ uy tín, có ưu thế về quy mô thị phần, theo đó một số mảng kinh doanh cốt lõi của Bảo hiểm PJICO đã tăng trưởng cao so với cùng kỳ và kỳ vọng tăng trưởng mạnh mẽ trong thời gian tới. Đặc biệt, với việc ra mắt bộ nhận diện thương hiệu mới, Bảo hiểm PJICO đã và đang thể hiện tầm nhìn dài hạn, nỗ lực thúc đẩy chiến lược chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Đại diện các doanh nghiệp bảo hiểm cho biết, những tháng còn lại của năm 2024, công ty sẽ tiếp tục nâng cao chất lượng dịch vụ trước, trong và sau bán hàng; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong mọi hoạt động. Đồng thời, đẩy nhanh tiến độ triển khai dự án chuyển đổi số; nghiên cứu phát triển các sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm bảo hiểm sức khỏe, con người và các sản phẩm phù hợp với xu hướng công nghệ, số hóa…, nhằm tăng trưởng doanh thu, sớm hoàn thành mục tiêu năm 2024.

Doanh thu bảo hiểm phi nhân thọ duy trì mức tăng trưởng tốt

Báo cáo số liệu từ cơ quan quản lý 6 tháng đầu năm 2024 cho thấy, các chỉ tiêu tiếp tục duy trì mức tăng trưởng tốt, doanh thu của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ ước đạt 38.800 tỷ đồng, tăng 11,2% so với cùng kỳ và kỳ vọng sẽ sớm hoàn thành mục tiêu năm 2024.

Hồng Chi

Đọc thêm

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

TPBank đạt chuẩn quốc tế ICXS2019 về trải nghiệm khách hàng

(TBTCO) - Mới đây, TPBank trở thành ngân hàng đầu tiên tại Việt Nam được Viện Tiêu chuẩn Anh Quốc (BSI) cấp chứng chỉ International Customer Experience Standard 2019 (ICXS2019), đồng thời đạt bậc xếp hạng cao nhất “International Excellence”. Kết quả này phản ánh hành trình chuyển đổi toàn diện của ngân hàng, nơi trải nghiệm khách hàng được đặt vào trung tâm trong mọi hoạt động vận hành.
Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

Ngân hàng dồn lực tăng vốn điều lệ mùa đại hội, gia cố "bộ đệm" đón tăng trưởng

(TBTCO) - Mùa Đại hội đồng cổ đông 2026, các ngân hàng đồng loạt ưu tiên chia cổ tức bằng cổ phiếu và đẩy mạnh chào bán cổ phiếu để tăng vốn, với kế hoạch tăng 25 - 50%, đưa vốn điều lệ nhiều nhà băng hướng tới mốc 100.000 tỷ đồng dẫn đầu hệ thống. Xu hướng này nhằm củng cố hệ số CAR, đáp ứng nhu cầu tăng trưởng tín dụng và tạo “bộ đệm” vững chắc mở rộng quy mô.
SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

SHB: Dấu ấn một định chế tư nhân trong 40 năm đổi mới

(TBTCO) - Từ hành trình 40 năm Đổi mới bền bỉ và kiên định, Việt Nam hôm nay đã hội tụ đủ thế, lực và tâm thế để bước vào một giai đoạn phát triển mới – tăng tốc mạnh mẽ và bứt phá toàn diện. Trong dòng chảy ấy, mỗi định chế kinh tế trụ cột từ khối tư nhân và Nhà nước đều mang trên mình sứ mệnh đồng hành cùng đất nước, chuyển hóa khát vọng dân tộc thành sức mạnh quốc gia. Trong khối ngân hàng tư nhân, SHB là một điển hình rõ nét về một tổ chức tích cực, chủ động bám sát và triển khai các định hướng của Đảng, Nhà nước, đóng góp vào sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung và khu vực kinh tế Nhà nước nói riêng.
Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

Tổ chức tín dụng chuẩn hóa thu hồi nợ, cấm đe dọa, gọi điện đòi nợ quá mức

(TBTCO) - Chủ tịch Hội đồng Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam vừa ký ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trong thu hồi nợ áp dụng cho các tổ chức tín dụng hội viên, nhằm chuẩn hóa hoạt động toàn hệ thống. Bộ Quy tắc nghiêm cấm nhân viên thu hồi nợ sử dụng vũ lực, đe dọa, quấy rối, xúc phạm khách hàng và người có liên quan.
VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

VietABank đặt mục tiêu lãi gần 2.000 tỷ đồng, tiếp nối kế hoạch tăng vốn 55% còn dang dở

(TBTCO) - VietABank đặt mục tiêu lãi trước thuế năm 2026 đạt 1.945 tỷ đồng, tăng 18%; dự kiến tăng vốn điều lệ thêm 55% lên 12.688 tỷ đồng thông qua ba phương án phát hành cổ phiếu, tiếp nối tiến độ tăng vốn năm 2025. Ngân hàng cũng chủ động mở rộng sang các lĩnh vực như: chứng khoán, bảo hiểm..., hướng tới đa dạng hóa hoạt động.
Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

Techcombank vạch hai kịch bản kinh doanh, dự kiến tăng trưởng tín dụng 12%

(TBTCO) - Techcombank xây dựng kế hoạch kinh doanh năm 2026 theo hai kịch bản nhằm chủ động ứng phó với bối cảnh nhiều biến động, với mục tiêu lợi nhuận trước thuế đạt 35.000 tỷ đồng hoặc 37.500 tỷ đồng, tương ứng tăng 7,6 - 15%. Ngân hàng dự kiến dư nợ tín dụng đạt 849.000 tỷ đồng, tăng 12% và kiểm soát tỷ lệ nợ xấu 1,5 - 2% theo hai kịch bản.
SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

SJC tạm dừng đăng ký mua vàng trực tuyến từ 6/4/2026

(TBTCO) - Từ ngày 6/4, SJC tạm dừng kênh đăng ký mua vàng trực tuyến, áp dụng bán trực tiếp theo lượng thực tế và giới hạn mỗi khách tối đa 1 lượng vàng miếng.
Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tái bảo hiểm Hanoi Re lên kế hoạch lãi đi lùi, hoạt động tài chính “gánh” phần lớn lợi nhuận

Tổng Công ty cổ phần Tái bảo hiểm Hà Nội (Hanoi Re) đặt kế hoạch doanh thu năm 2026 đạt 3.968 tỷ đồng, tăng 7,5%; lợi nhuận trước thuế đi lùi 1,8%, còn 296 tỷ đồng, trong bối cảnh thị trường cạnh tranh mạnh, dư cung khiến giá tái bảo hiểm đi xuống. Thực tế, lợi nhuận gộp bảo hiểm Hanoi Re “trồi sụt” qua các năm, trong khi hoạt động tài chính chiếm tới 74% lãi trước thuế năm 2025.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,950 17,250
Kim TT/AVPL 16,940 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,930 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,500 15,700
Nguyên Liệu 99.9 15,450 15,650
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,620 17,020
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,570 16,970
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,500 16,950
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,000 172,000
Hà Nội - PNJ 169,000 172,000
Đà Nẵng - PNJ 169,000 172,000
Miền Tây - PNJ 169,000 172,000
Tây Nguyên - PNJ 169,000 172,000
Đông Nam Bộ - PNJ 169,000 172,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,950 17,250
Miếng SJC Nghệ An 16,950 17,250
Miếng SJC Thái Bình 16,950 17,250
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,900 17,200
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,900 17,200
NL 99.90 15,500
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,530
Trang sức 99.9 16,390 17,090
Trang sức 99.99 16,400 17,100
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,695 17,252
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,695 17,253
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 169 172
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 169 1,721
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 167 1,705
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,312 168,812
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,138 128,038
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 107,202 116,102
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,265 104,165
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,661 99,561
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,356 71,256
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,695 1,725
Cập nhật: 08/04/2026 00:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17751 18024 18599
CAD 18387 18664 19281
CHF 32328 32711 33353
CNY 0 3470 3830
EUR 29819 30091 31118
GBP 34136 34526 35459
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14737 15324
SGD 19978 20260 20787
THB 725 788 842
USD (1,2) 26072 0 0
USD (5,10,20) 26113 0 0
USD (50,100) 26141 26161 26363
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,143 26,143 26,363
USD(1-2-5) 25,098 - -
USD(10-20) 25,098 - -
EUR 29,975 29,999 31,239
JPY 160.82 161.11 169.81
GBP 34,362 34,455 35,427
AUD 17,943 18,008 18,574
CAD 18,624 18,684 19,255
CHF 32,668 32,770 33,529
SGD 20,131 20,194 20,865
CNY - 3,770 3,890
HKD 3,303 3,313 3,431
KRW 16.19 16.88 18.26
THB 773.52 783.07 833.75
NZD 14,738 14,875 15,224
SEK - 2,743 2,823
DKK - 4,011 4,127
NOK - 2,677 2,755
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,119.7 - 6,864.35
TWD 746.03 - 897.63
SAR - 6,916.72 7,241.88
KWD - 83,771 88,583
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,113 26,143 26,363
EUR 29,818 29,938 31,112
GBP 34,220 34,357 35,355
HKD 3,292 3,305 3,420
CHF 32,390 32,520 33,434
JPY 160.93 161.58 168.82
AUD 17,849 17,921 18,506
SGD 20,128 20,209 20,785
THB 787 790 825
CAD 18,577 18,652 19,212
NZD 14,773 15,299
KRW 16.75 18.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26219 26219 26363
AUD 17926 18026 18952
CAD 18566 18666 19682
CHF 32576 32606 34193
CNY 3780 3805 3940.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30001 30031 31754
GBP 34439 34489 36247
HKD 0 3355 0
JPY 161.5 162 172.51
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14843 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20138 20268 20999
THB 0 753.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16950000 16950000 17250000
SBJ 16000000 16000000 17250000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,169 26,219 26,363
USD20 26,169 26,219 26,363
USD1 26,169 26,219 26,363
AUD 17,919 18,019 19,127
EUR 30,103 30,103 31,514
CAD 18,515 18,615 19,924
SGD 20,192 20,342 21,365
JPY 161.84 163.34 167.89
GBP 34,281 34,631 35,498
XAU 16,948,000 0 17,252,000
CNY 0 3,682 0
THB 0 789 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/04/2026 00:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80