“Bắt mạch” lợi nhuận ngân hàng trước áp lực cạnh tranh hút vốn đầu vào

Chí Tín
(TBTCO) - Sức hút của nhiều kênh đầu tư như bất động sản, chứng khoán, vàng… khiến ngân hàng đối mặt với cuộc cạnh tranh gay gắt trong thu hút dòng tiền, trong đó, áp lực phải tăng lãi suất huy động manh nha xuất hiện. Trong bối cảnh này, lãi suất cho vay khó tăng, đang tạo ra bối cảnh khiến các ngân hàng phải đối diện với những bài toán hóc búa trong việc duy trì tăng trưởng lợi nhuận năm 2022.
aa

Áp lực cạnh tranh dòng tiền

Thời gian qua, lác đác một số ngân hàng có động thái tăng lãi suất huy động. Diễn biến này tuy chưa hình thành một cuộc chạy đua, nhưng cũng phần nào cho thấy các ngân hàng cũng đang đứng trước nhu cầu phải gia tăng sức hấp dẫn để thu hút dòng vốn đầu vào.

“Bắt mạch” lợi nhuận ngân hàng trước áp lực cạnh tranh hút vốn đầu vào
Sự phục hồi từ nền kinh tế giúp các ngân hàng đạt tăng trưởng tín dụng tốt.

Điểm qua động thái một số ngân hàng, sau nghỉ Tết, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) nâng mức lãi suất cao nhất lên tới 12,4%/năm trong tháng đầu tiên, với kỳ hạn 12 tháng khi gửi tiết kiệm Prime Savings trên ngân hàng số VPBank Neo.

Cũng trong thời gian từ đầu năm 2022 trở lại đây, một số ngân hàng khác cũng có động thái tăng lãi suất. Chẳng hạn so với cuối năm 2021, Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB) tăng lãi suất huy động online 0,2% ở kỳ hạn từ 13 tháng trở lên; Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu (Eximbank) tăng 0,1 - 0,3%/năm; Ngân hàng TMCP Phương Đông (OCB) tăng 0,2%/năm;…

So sánh mặt bằng lãi suất chung của các ngân hàng, SCB hiện là ngân hàng có nhiều kỳ hạn có mức lãi suất cao nhất thị trường. Ngân hàng này để mức lãi suất 7%/năm cho các kỳ hạn 12 tháng, 18 tháng, 24 tháng và 36 tháng. Trong khi đó, một số ngân hàng khác lại có chiến lược thu hút tiền gửi bằng các kỳ hạn lẻ, hoặc kỳ hạn ngắn. Chẳng hạn, 3 ngân hàng cùng dẫn đầu ở kỳ hạn 13 tháng với lãi suất 6,6%/năm là Ngân hàng TMCP Bắc Á, Ngân hàng TMCP Xây dựng (CBBank) và Ngân hàng TMCP Kiên Long. Riêng GPBank tìm cho mình sân chơi ở phân khúc tiền gửi kỳ hạn ngắn khi đưa lãi suất kỳ hạn 1 tháng lên 4%/năm.

Động thái hiện tại cho thấy các ngân hàng vẫn phải dõi theo từng bước trước diễn biến dòng tiền để có phản ứng kịp thời về xu hướng thị trường vốn, qua đó có chiến lược huy động vốn hợp lý. Đặc biệt, các kênh cạnh tranh dòng tiền chính đối với hoạt động huy động của các ngân hàng như bất động sản, chứng khoán, vàng… vẫn đều có sức hút riêng trong thời điểm hiện tại.

Bắt mạch lợi nhuận ngân hàng

Trong bối cảnh phải đối diện sức ép cạnh tranh dòng tiền, nhiều khả năng phải tăng lãi suất để tạo sức hấp dẫn với người gửi tiền, trong khi đó các ngân hàng lãi suất đầu ra khó tăng đang đặt ra bài toán khó trong việc duy trì biên lợi nhuận cao.

Trong năm 2021, 16 ngân hàng lớn chiếm 75% tổng dư nợ nền kinh tế đã thực hiện cam kết giảm lãi suất để hỗ trợ khách hàng gặp khó khăn do đại dịch Covid-19. Tính đến hết năm 2021, số tiền lãi đã giảm của 16 ngân hàng này lên tới hơn 21 nghìn tỷ đồng, cho gần 6 triệu khách hàng. Theo đó, các ngân hàng cũng khó có thể tăng lãi suất cho vay trở lại chỉ sau một thời gian ngắn sau khi thực hiện cam kết giảm lãi cho khách hàng. Ngoài ra, các định hướng chung của Quốc hội và Chính phủ vẫn tiếp tục đặt ra yêu cầu giảm mặt bằng lãi suất cho vay trong năm 2022 để hỗ trợ doanh nghiệp ổn định sản xuất kinh doanh, phục hồi kinh tế sau đại dịch.

Xét trên góc độ thị trường, bản thân các ngân hàng cũng phải cạnh tranh cả ở đầu ra để thu hút khách hàng, theo đó, một số ngân hàng vẫn đưa ra các chính sách tín dụng ưu đãi. Chẳng hạn, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam mới đây vừa ra mắt Chương trình Vay mua nhà xanh với lãi suất chỉ từ 5,19%/năm. Ông Harmander Mahal - Giám đốc Khối Ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam và nhóm 4 nước châu Á của Standard Chartered cho biết, ngân hàng này đang muốn chú trọng vào việc cho ra mắt các chương trình, sản phẩm và dịch vụ thúc đẩy quá trình phát triển bền vững. Việc đưa ra những sản phẩm cho vay lãi suất như trên không chỉ là động thái riêng của một ngân hàng, bởi các ngân hàng khác cũng sẽ phải chịu áp lực cũng phải duy trì lãi suất cho vay hợp lý để cạnh tranh.

Tuy nhiên, theo đánh giá của một số chuyên gia, các ngân hàng cũng có một số yếu tố làm điểm tựa để có thể vẫn duy trì tăng trưởng lợi nhuận trong năm 2022. Ông Bùi Nguyên Khoa - Phó Phòng Phân tích thuộc Công ty chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BSC) cho biết, sự phục hồi từ nền kinh tế giúp các ngân hàng đạt tăng trưởng tín dụng tốt, nhất là nhóm bán lẻ. Ngoài ra, các ngân hàng còn có thể có thêm các nguồn thu nhập nhờ tăng trưởng từ phí dịch vụ sẽ phục hồi, đồng thời chi phí có thể được cắt giảm hơn so với năm 2021 đối với các loại chi phí dự phòng và chi phí hoạt động.

Cụ thể, trong năm 2021, nhiều ngân hàng cũng đã đẩy mạnh trích lập dự phòng và cải thiện chất lượng tài sản, đó là bước đệm giúp các ngân hàng có khả năng ứng phó tốt hơn vượt qua những biến động mạnh của nền kinh tế. Với bối cảnh trên, ông Khoa dự báo chi phí tín dụng có thể sẽ giảm được khoảng 10% trong năm 2022 và thu nhập hoạt động tăng được khoảng trên 22%, đây là những yếu tố có có thể giúp lợi nhuận ngân hàng có thể đạt tăng trưởng tốt trong năm 2022.

“Sự phục hồi từ nền kinh tế giúp các ngân hàng đạt tăng trưởng tín dụng tốt, nhất là nhóm bán lẻ. Ngoài ra, các ngân hàng còn có thể có thêm các nguồn thu nhập nhờ tăng trưởng từ phí dịch vụ sẽ phục hồi, đồng thời chi phí có thể được cắt giảm hơn so với năm 2021 đối với các loại chi phí dự phòng và chi phí hoạt động”.

Ông Bùi Nguyên Khoa - Phó Phòng Phân tích BSC

Chí Tín

Đọc thêm

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

Tỷ giá chịu sức ép ngắn hạn khi nhập siêu tăng, USD phục hồi

(TBTCO) - Sau giai đoạn hạ nhiệt đầu năm, tỷ giá USD/VND chịu áp lực trở lại khi USD phục hồi mạnh trước căng thẳng Mỹ - Iran. Dù mới tăng khoảng 0,1% từ đầu năm, tỷ giá vẫn đối mặt sức ép từ xu hướng trượt giá của VND và cán cân thương mại thâm hụt 6 tháng liên tiếp, dù triển vọng cuối năm được kỳ vọng tích cực hơn.
Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

Bắt nhịp “sóng” lãi suất, doanh nghiệp bảo hiểm xoay trục danh mục "trăm nghìn tỷ"

(TBTCO) - Mặt bằng lãi suất huy động ở mức cao là động lực, đưa tổng lợi nhuận hoạt động tài chính các doanh nghiệp bảo hiểm niêm yết quý I/2026 tăng 14% so với cùng kỳ. Quản lý danh mục đầu tư hơn 350.000 tỷ đồng, các doanh nghiệp chủ động cơ cấu danh mục tài sản, tăng tiền gửi và khóa lãi suất nhằm cải thiện hiệu quả sinh lời.
Bộ Tài chính bãi bỏ thủ tục chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm từ ngày 1/7

Bộ Tài chính bãi bỏ thủ tục chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm từ ngày 1/7

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1381/QĐ-BTC công bố bãi bỏ thủ tục hành chính “Chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm”. Theo quy định hiện hành, việc chuyển đổi chứng chỉ đại lý bảo hiểm cấp trước ngày 1/1/2023 phải hoàn thành trước ngày 30/6/2026, các chứng chỉ chưa được chuyển đổi sẽ hết hiệu lực từ ngày 1/7/2026.
Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 5/6: Giá vàng tiếp tục lùi về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tiếp tục giảm 600.000 đồng/lượng trong sáng 5/6, đưa mặt bằng giao dịch phổ biến về quanh 152,4 - 155,4 triệu đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

Tỷ giá USD hôm nay (5/6): Tỷ giá trung tâm nhích lên 25.147 đồng, DXY duy trì vùng đỉnh 2 tháng

(TBTCO) - Sáng ngày 5/6, tỷ giá trung tâm do Ngân hàng Nhà nước công bố ở mức 25.147 đồng/USD, tăng 2 đồng phiên cuối tuần. Giá USD tự do phổ biến quanh 26.380 - 26.410 VND/USD, tương đương mức giao dịch tại ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY tăng 0,02% lên 99,43 điểm, duy trì gần mức cao 02 tháng, nhờ nhu cầu trú ẩn an toàn trước căng thẳng Mỹ - Iran.
Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

Thanh khoản ngân hàng chịu sức ép khi M2 sụt giảm, chênh lệch tín dụng và huy động sát 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Báo cáo của Chứng khoán SHS cho thấy áp lực thanh khoản trong hệ thống ngân hàng vẫn ở mức cao khi chênh lệch giữa tín dụng và huy động vượt 1,9 triệu tỷ đồng vào cuối quý I/2026. Đáng chú ý, tổng phương tiện thanh toán (M2) từng giảm khoảng 1,25 triệu tỷ đồng, phản ánh lượng tiền trong nền kinh tế bị thu hẹp, qua đó gia tăng áp lực huy động vốn.
ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

ACB chốt lịch chia cổ tức tỷ lệ 20%, nâng vốn điều lệ vượt 58.000 tỷ đồng

(TBTCO) - Ngân hàng ACB vừa chốt ngày 16/6 là ngày đăng ký cuối cùng để cổ đông nhận cổ tức năm 2025 bằng cả tiền mặt và cổ phiếu, với tổng tỷ lệ 20%. Theo kế hoạch, ngân hàng sẽ phát hành tối đa gần 668 triệu cổ phiếu để trả cổ tức tỷ lệ 13%, qua đó, nâng vốn điều lệ thêm 6.677,6 tỷ đồng, lên hơn 58.000 tỷ đồng, tiếp tục củng cố năng lực tài chính và nền tảng tăng trưởng.
Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

Sun Life Việt Nam đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026, lan tỏa hy vọng cho trẻ em mắc ung thư

(TBTCO) - Khẳng định cam kết đồng hành lâu dài vì sức khỏe và chất lượng cuộc sống của cộng đồng, Sun Life Việt Nam tiếp tục là nhà tài trợ đồng hành cùng Children’s Cancer Run 2026 – giải chạy ý nghĩa nhằm chung tay hỗ trợ trẻ em mắc bệnh ung thư tại Việt Nam do Hiệp hội Doanh nghiệp Canada tại Việt Nam (CanCham) tổ chức.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
Kim TT/AVPL 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
Nguyên Liệu 99.99 13,680 ▼320K 13,880 ▼320K
Nguyên Liệu 99.9 13,630 ▼320K 13,830 ▼320K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,780 ▼720K 14,180 ▼720K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,730 ▼720K 14,130 ▼720K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,660 ▼720K 14,110 ▼720K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 138,800 ▼7400K 143,800 ▼6400K
Hà Nội - PNJ 138,800 ▼7400K 143,800 ▼6400K
Đà Nẵng - PNJ 138,800 ▼7400K 143,800 ▼6400K
Miền Tây - PNJ 138,800 ▼7400K 143,800 ▼6400K
Tây Nguyên - PNJ 138,800 ▼7400K 143,800 ▼6400K
Đông Nam Bộ - PNJ 138,800 ▼7400K 143,800 ▼6400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
Miếng SJC Nghệ An 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
Miếng SJC Thái Bình 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,880 ▼740K 14,380 ▼640K
NL 99.90 13,450 ▼300K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▼300K
Trang sức 99.9 13,570 ▼640K 14,270 ▼640K
Trang sức 99.99 13,580 ▼640K 14,280 ▼640K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,388 ▼74K 14,382 ▼640K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,388 ▼74K 14,383 ▼640K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,386 ▲1240K 1,436 ▲1286K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,386 ▲1240K 1,437 ▼64K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,366 ▲1222K 1,421 ▼64K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,693 ▲119640K 140,693 ▲125990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,836 ▼4800K 106,736 ▼4800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,888 ▲78664K 96,788 ▲86674K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,794 ▼74050K 8,684 ▼82060K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,103 ▼3731K 83,003 ▼3731K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,512 ▼2669K 59,412 ▼2669K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,388 ▼74K 1,438 ▼64K
Cập nhật: 08/06/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18058 18333 18907
CAD 18360 18636 19256
CHF 32392 32775 33413
CNY 0 3842 3934
EUR 29728 29950 31024
GBP 34341 34732 35665
HKD 0 3231 3433
JPY 157 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15008 15595
SGD 19902 20184 20755
THB 718 781 834
USD (1,2) 26080 0 0
USD (5,10,20) 26121 0 0
USD (50,100) 26149 26164 26407
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,127 26,127 26,407
USD(1-2-5) 25,082 - -
USD(10-20) 25,082 - -
EUR 29,887 29,911 31,216
JPY 160.16 160.45 169.46
GBP 34,536 34,630 35,688
AUD 18,236 18,302 18,932
CAD 18,567 18,627 19,237
CHF 32,693 32,795 33,627
SGD 20,030 20,092 20,802
CNY - 3,815 3,945
HKD 3,300 3,310 3,436
KRW 15.84 16.52 17.9
THB 765.15 774.6 826.09
NZD 14,967 15,106 15,495
SEK - 2,738 2,824
DKK - 3,999 4,124
NOK - 2,745 2,831
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,060.39 - 6,813.27
TWD 754.54 - 910.53
SAR - 6,909.26 7,249.4
KWD - 83,597 88,600
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,117 26,137 26,407
EUR 29,804 29,924 31,110
GBP 34,521 34,660 35,677
HKD 3,292 3,305 3,421
CHF 32,524 32,655 33,570
JPY 160.39 161.03 168.53
AUD 18,239 18,312 18,904
SGD 20,060 20,141 20,722
THB 783 786 821
CAD 18,545 18,619 19,186
NZD 15,041 15,576
KRW 16.33 17.89
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26165 26165 26407
AUD 18226 18326 19252
CAD 18541 18641 19653
CHF 32610 32640 34218
CNY 3822.9 3847.9 3983.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 29878 29908 31630
GBP 34601 34651 36409
HKD 0 3355 0
JPY 161.12 161.62 172.16
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15102 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20051 20181 20908
THB 0 746.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 13880000 13880000 14380000
SBJ 12000000 12000000 14380000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,173 26,142 26,407
USD20 26,173 26,142 26,407
USD1 23,893 26,142 26,407
AUD 18,251 18,351 19,458
EUR 30,042 30,042 31,451
CAD 18,484 18,584 19,896
SGD 20,113 20,263 20,823
JPY 161.34 162.84 167.41
GBP 34,497 34,847 35,711
XAU 14,248,900 0 14,651,100
CNY 0 3,732 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 08/06/2026 21:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80