Kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ

Theo đó, Nghị quyết nêu rõ nền tảng của kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối hoạt động nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh, quốc phòng, như: đất đai, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, vùng biển, vùng trời, không gian ngầm, các công trình kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư xây dựng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, doanh nghiệp nhà nước, tổ chức tín dụng nhà nước, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống, đơn vị sự nghiệp công lập...

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế nhà nước
Kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý và chi phối

Theo Nghị quyết, sau 80 năm xây dựng và phát triển, kinh tế nhà nước luôn giữ vai trò chủ đạo, định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định vĩ mô và bảo đảm an ninh quốc phòng.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Chính sách pháp luật về kinh tế nhà nước chậm đổi mới, chưa theo kịp thực tiễn phát triển của nền kinh tế. Các doanh nghiệp nhà nước - lực lượng nòng cốt của kinh tế nhà nước, hoạt động chưa hiệu quả, chưa tương xứng với vị trí, nguồn lực đang nắm giữ… Hệ thống tổ chức đơn vị sự nghiệp công lập chưa tinh gọn, cơ chế hoạt động và tự chủ tài chính chậm đổi mới…

Nhằm phát huy hơn nữa vai trò của kinh tế nhà nước, góp phần hiện thực hoá mục tiêu phát triển, Bộ Chính trị yêu cầu tập trung quán triệt, thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả một số chủ trương, chính sách về phát triển kinh tế nhà nước.

Quan điểm chỉ đạo là kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn của nền kinh tế, định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.

Kinh tế nhà nước bình đẳng trước pháp luật với các khu vực kinh tế khác. Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường, gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Đồng thời, đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế. Giải quyết tốt mối quan hệ giữa Nhà nước - thị trường - xã hội. Tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước trong cung cấp hàng hoá, dịch vụ công, thực hiện nhiệm vụ chính trị với các hoạt động kinh doanh, Nghị quyết nêu rõ.

Cũng theo Nghị quyết, kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, dẫn dắt, mở đường, thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cơ cấu lại nền kinh tế và xác lập mô hình tăng trưởng mới, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Ban hành cơ chế thử nghiệm để phát triển kinh tế không gian vũ trụ

Về các mục tiêu cụ thể, Nghị quyết đặt ra lộ trình đến 2030, phấn đấu có 50 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á và từ 1 - 3 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới.

Xây dựng một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn, công nghệ hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, giữ vai trò tiên phong, dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia sâu vào một số chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế. 100% doanh nghiệp nhà nước thực hiện quản trị doanh nghiệp hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.

Về tổ chức tín dụng nhà nước, phấn đấu có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực Châu Á về tổng tài sản.

Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về phát triển kinh tế nhà nước
Ảnh TL minh họa

Về đơn vị sự nghiệp công lập, tiếp tục xã hội hoá mạnh mẽ cung cấp các dịch vụ công; tiếp tục tinh gọn đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu.

Tầm nhìn đến năm 2045, kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế. Mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP; khoảng 60 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; 5 doanh nghiệp nhà nước vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; tối thiểu 50% đơn vị sự nghiệp công lập tự bảo đảm chi thường xuyên, chi đầu tư hoặc tự bảo đảm chi thường xuyên hoạt động hiệu quả theo cơ chế thị trường.

Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, Nghị quyết yêu cầu triển khai mạnh mẽ, thực chất một loạt nhóm giải pháp, nhiệm vụ.

Theo đó, phải chuyển mạnh từ "quản lý hành chính" sang "kiến tạo phát triển" và quản trị hiện đại. Tách bạch rõ chức năng sở hữu, chức năng quản lý kinh tế và thực hiện nhiệm vụ chính trị. Xây dựng cơ chế đủ mạnh để bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung, phân biệt rõ sai sót khách quan với vi phạm pháp luật để xử lý đúng bản chất. Cùng với đó là chuẩn hóa cơ sở dữ liệu về chủ thể và nguồn lực kinh tế nhà nước, đảm bảo liên thông để phục vụ hoạch định chính sách.

Về các giải pháp cụ thể, Nghị quyết yêu cầu đến hết năm 2026 phải hoàn thành số hóa, làm sạch dữ liệu đất đai toàn quốc. Trong năm 2026, hoàn thành ban hành Luật Đất đai sửa đổi để khơi thông nguồn lực.

Kinh tế biển phải là cấu phần quan trọng của kinh tế nhà nước; ưu tiên điện gió ngoài khơi và cảng lưỡng dụng. Đặc biệt, ban hành cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để phát triển kinh tế không gian vũ trụ và kinh tế tầm thấp. Quy hoạch tích hợp không gian ngầm với đô thị. Đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia trở thành nguồn lực chiến lược, thúc đẩy sàn giao dịch dữ liệu.

Cho phép dùng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hoá, thoái vốn để tăng vốn điều lệ

Nghị quyết yêu cầu nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) và Công ty Mua bán nợ Việt Nam (DATC) để hỗ trợ quá trình tái cơ cấu, đặc biệt là tái cơ cấu về tài chính, xử lý nợ xấu của khu vực doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại theo cơ chế thị trường.

Đối với doanh nghiệp nhà nước, Nghị quyết xác định tập trung đầu tư, phát triển một số tập đoàn kinh tế, doanh nghiệp nhà nước mạnh, có quy mô lớn đóng vai trò dẫn dắt trong các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược của nền kinh tế như: Quốc phòng, an ninh; năng lượng; vận tải, logistics; tài chính - ngân hàng; khoa học - công nghệ, điện tử - viễn thông, hạ tầng số; khai thác, chế biến khoáng sản chiến lược; hoá chất; xây dựng, vật liệu xây dựng; nông, lâm nghiệp; …

Đồng thời, có chính sách khuyến khích phát triển doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn thông qua tăng vốn điều lệ, bao gồm: cho phép sử dụng toàn bộ nguồn thu từ cổ phần hoá, thoái vốn nhà nước tại doanh nghiệp; tăng tỉ lệ lợi nhuận sau thuế để lại doanh nghiệp; rà soát, đánh giá lại tài sản đã hết khấu hao nhưng còn giá trị sử dụng. Khuyến khích hợp nhất, sáp nhập, chuyển giao các doanh nghiệp nhằm phát huy lợi thế tổng thể của ngành kinh tế.

Đối với dự án trọng điểm quốc gia, dự án đầu tư ở nước ngoài do cấp có thẩm quyền giao ngoài kế hoạch của doanh nghiệp, Nhà nước có chính sách bảo đảm đủ vốn, hỗ trợ lãi suất và cung cấp đủ tín dụng.

Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) sẽ được tái cơ cấu toàn diện theo hướng kinh doanh vốn chuyên nghiệp, tiến tới hình thành Quỹ đầu tư quốc gia. Theo đó sẽ tập trung nguồn lực từ cơ cấu lại vốn tại các doanh nghiệp và các nguồn lực nhà nước giao khác để: đầu tư phát triển các doanh nghiệp quy mô lớn, các doanh nghiệp có hiệu quả cao; đầu tư vào dự án trong các ngành, lĩnh vực công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, có tính chất quan trọng đối với nền kinh tế; triển khai đầu tư trực tiếp và hỗ trợ các nguồn lực để doanh nghiệp nhà nước đầu tư ra nước ngoài; thực hiện mua bán, sáp nhập để tiếp cận các công nghệ mới, công nghệ lõi, công nghệ và công nghiệp chiến lược hoặc vì mục tiêu lợi nhuận cao.

Về tổ chức thực hiện, Bộ Chính trị giao Đảng ủy Chính phủ thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia để triển khai Nghị quyết. Đảng ủy các bộ, ngành và địa phương phải xây dựng kế hoạch hành động cụ thể, phân công rõ trách nhiệm và lộ trình thực hiện.