Bức tranh lợi nhuận ngân hàng quý II/2024: Điểm sáng đến từ Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank)

(TBTCO) - Mùa công bố kết quả kinh doanh quý II đang đến gần, tuy không đột biến, song lợi nhuận của ngành Ngân hàng quý II/2024 có nhiều chuyển biến tích cực nhờ vay tiêu dùng và tăng trưởng dương từ tín dụng. Bức tranh 6 tháng đầu năm còn nhiều mảng đan xen, song dự kiến sẽ xuất hiện nhiều điểm sáng.
aa
LPBank công bố tên thương mại mới: Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam
Bức tranh lợi nhuận ngân hàng quý II/2024: Điểm sáng đến từ Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank)

Kết thúc 6 tháng đầu năm, một ngân hàng thu về 5,919 tỷ đồng lợi nhuận

Điểm nhanh bức tranh lợi nhuận ngành Ngân hàng 6 tháng đầu năm

Theo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của Vụ Dự báo – Thống kê, Ngân hàng Nhà nước, tình hình kinh doanh tổng thể và lợi nhuận trước thuế của hệ thống ngân hàng trong quý II có nhiều cải thiện, nhưng bức tranh toàn ngành Ngân hàng chưa thực sự rõ nét và đạt được nhiều kỳ vọng.

Lợi nhuận ngành Ngân hàng được dự báo tăng trưởng chậm lại ở mức 12%, trước đó lợi nhuận toàn ngành quý I/2024 tăng 14% so với cùng kỳ. Nguyên nhân đến từ biên lãi ròng tiếp tục chịu áp lực giảm, khi lãi suất cho vay giảm theo yêu cầu của Ngân hàng Nhà nước, trong khi lãi suất huy động tăng nhẹ ở hầu hết ngân hàng. Các chuyên gia của Chứng khoán MBS đánh giá, biên lợi nhuận (NIM) của ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục chịu áp lực giảm khi lãi suất cho vay dự báo sẽ giảm thêm, trong khi lãi suất huy động đã tăng nhẹ ở hầu hết các ngân hàng.

Trong năm 2024, LPBank đặt kế hoạch kinh doanh với lợi nhuận trước thuế đạt mức 10.500 tỷ đồng, tăng gần 50% so với năm 2023. Như vậy, Ngân hàng này đã thực hiện được hơn 56% kế hoạch lợi nhuận cả năm. Trước đó, trong quý I, LPBank cũng là ngân hàng có tốc độ tăng lợi nhuận trước thuế cao thứ 2 toàn ngành.

Điểm sáng trong bức tranh của ngành Ngân hàng quý II thuộc về tăng trưởng tín dụng, ghi nhận mức tăng gấp 4 lần so với quý I, ước đạt 4,17% so với mức 0,26% vào cuối quý I/2024 nhưng vẫn thấp hơn so với cùng kỳ, do đó nhìn chung lãi thuần vẫn chưa thể tăng mạnh.

Trong khi đó, Công ty Chứng khoán SSI đánh giá, lợi nhuận của ngành Ngân hàng trong quý II có sự phân hóa rõ rệt khi chứng kiến những ngân hàng ghi nhận mức tăng lợi nhuận lên tới 60% so với cùng kỳ, nhưng cũng có những ngân hàng mức tăng trưởng chỉ ở mức một con số hay thậm chí có ngân hàng bị đánh giá sẽ có lợi nhuận đi lùi trong quý II/2024.

Nhìn chung lợi nhuận sau thuế của các ngân hàng sẽ có mức tăng trưởng không cao, mức tăng nổi bật ở một số ngân hàng có tăng trưởng tín dụng tốt như LPBank, VPBank, HDBank; một số ngân hàng ghi nhận lợi nhuận tăng trưởng âm do lợi nhuận sau thuế cùng kỳ năm ngoái ở mức cao.

Điểm sáng trong bức tranh còn nhiều màu xám

Giữa nhiều ngân hàng có dự kiến lợi nhuận đi ngang (VCB, TPB) hoặc thậm chí đi lùi (BIDV, OCB), các chuyên gia tín dụng MBS đánh giá cao kết quả kinh doanh quý II của LPBank nhờ tăng trưởng ấn tượng. Đây là ngân hàng đầu tiên công bố kết quả kinh doanh và hiện cũng là ngân hàng duy nhất có mức tăng trưởng lợi nhuận quý II lên tới 3 con số.

Cụ thể, LPBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 6 tháng đầu năm đạt 5.919 tỷ đồng, tăng trưởng 142% so với cùng kỳ. Trước đó, lợi nhuận trước thuế quý I của Ngân hàng này đạt hơn 2.886 tỷ đồng. Với lợi nhuận quý II ở mức trên 3.033 tỷ đồng, Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam ghi nhận tăng trưởng lợi nhuận ở 2 quý liên tiếp và tăng gấp gần 3,5 lần cùng kỳ năm trước. MBS đánh giá đây là một trong số ít những ngân hàng vượt qua được trở ngại của thị trường 6 tháng đầu năm 2024.

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng quý II/2024: Điểm sáng đến từ Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank)

Trong năm 2024, LPBank đặt kế hoạch kinh doanh với lợi nhuận trước thuế đạt mức 10.500 tỷ đồng, tăng gần 50% so với năm 2023. Như vậy, Ngân hàng này đã thực hiện được hơn 56% kế hoạch lợi nhuận cả năm. Trước đó, trong quý I, LPBank cũng là ngân hàng có tốc độ tăng lợi nhuận trước thuế cao thứ 2 toàn ngành.

Tính đến hết 30/6/2024, quy mô tổng tài sản của LPBank là 442.926 tỷ đồng, mở rộng 16% so với thời điểm đầu năm. Trong đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động tiếp tục duy trì ở mức tốt.

Chuyên gia của tổ chức tín dụng này đánh giá, kết quả ấn tượng của LPBank có được là nhờ ngân hàng đã đẩy mạnh tăng trưởng tín dụng ngay từ những tháng đầu năm. Bên cạnh đó, LPBank cũng chú trọng thúc đẩy bán chéo các sản phẩm dịch vụ, đặc biệt phải kể đến sản phẩm kinh doanh ngoại tệ, kiều hối, xuất nhập khẩu… Nguồn thu nhập lõi chiếm 77% tổng thu nhập (TOI). Đặc biệt, nỗ lực đa dạng hóa nguồn thu của Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam đã mang lại kết quả là tỷ trọng phi tín dụng tăng đáng kể. Tỷ trọng thu ngoài lãi đóng góp 22,63% trong cơ cấu tổng thu nhập, đạt 2.079 tỷ đồng trong 6 tháng đầu năm.

Bức tranh lợi nhuận ngân hàng quý II/2024: Điểm sáng đến từ Ngân hàng Lộc Phát Việt Nam (LPBank)

Ở khả năng huy động vốn, với lợi thế mạng lưới rộng lớn (sở hữu hơn 1.200 điểm giao dịch), LPBank dễ dàng tiếp cận tới nhiều tệp khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ tài chính. Kết quả huy động vốn trong 6 tháng đầu năm của Ngân hàng đạt 336.978 tỷ đồng. Phía đầu ra, dư nợ cho vay thị trường 1 đạt 317.417 tỷ đồng, tăng trưởng tín dụng 15,23% so với thời điểm 31/12/2023.

Tính đến hết 30/6/2024, quy mô tổng tài sản của Ngân hàng này là 442.926 tỷ đồng, mở rộng 16% so với thời điểm đầu năm. Trong đó, tốc độ tăng trưởng tín dụng và huy động tiếp tục duy trì ở mức tốt.

Như vậy, bức tranh kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm của ngành ngân hàng có sự phân hóa nhất định. Các ngân hàng có chiến lược kinh doanh tốt, nguồn vốn dồi dào và đa dạng hóa được các nguồn thu phí sẽ có nhiều cơ hội tăng trưởng và giữ được mức lợi nhuận tốt dù chịu nhiều áp lực từ thị trường. Ngược lại, chắc chắn sẽ có những ngân hàng sẽ phải tiếp tục tìm các giải pháp tái cấu trúc để vượt khó, xử lý các vấn đề rủi ro nợ xấu và biên độ lợi nhuận có xu hướng ngày càng thu hẹp.

Nguyễn Cầm

Đọc thêm

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

Thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở Chi nhánh Khánh Hòa của Ngân hàng MBV

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở đối với Chi nhánh Khánh Hòa.
VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

VietinBank năm thứ 4 liên tiếp được vinh danh Doanh nghiệp niêm yết có hoạt động IR được Nhà đầu tư yêu thích nhất

(TBTCO) - Ngày 24/09/2026, Lễ trao giải thưởng Doanh nghiệp niêm yết (DNNY) có hoạt động Quan hệ Nhà đầu tư (IR) tốt nhất năm 2026 - IR Awards 2026 do Vietstock, Hiệp hội Các Nhà Quản trị Tài chính Việt Nam (VAFE) và Tạp chí điện tử Tài chính và Cuộc sống (FiLi) đồng tổ chức đã diễn ra tại TP. Hồ Chí Minh.
Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương  hiệu văn hóa

Liên hiệp các tổ chức Unesco vinh danh Nam Á Bank thương hiệu văn hóa

(TBTCO) - Ngày 22/9, trong khuôn khổ Hội nghị Đối thoại Văn hóa và Tri thức 2026 (Dialogue of Culture and Knowledge), Liên hiệp các Hội UNESCO khu vực Châu Âu và Bắc Mỹ vinh danh Nam A Bank (NAB) - Thương hiệu vì Văn hóa và Phát triển bền vững UNESCO - Ngân hàng đột phá trong xây dựng và phát triển bền vững gắn chặt lợi ích cộng đồng Nhân văn, Văn hóa thông qua mô hình "Ngân hàng Trà".
Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

Từ Việt Nam đến New York: Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy nói gì về chiến lược trong một thế giới liên tục thay đổi?

(TBTCO) - Tháng 9/2026 tại New York (Mỹ), trong Global Strategy Summit 2026, Hội nghị đối thoại chiến lược dành cho các nhà lãnh đạo do McKinsey & Company tổ chức, Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy đã chia sẻ những góc nhìn về những vấn đề đang đặt ra với nhiều doanh nghiệp trên thế giới: tăng trưởng bền vững trước áp lực ngắn hạn, nhận diện xu hướng nhưng không chạy và chuẩn bị con người trước những thay đổi mà AI tạo ra.
BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

BAC A BANK tiếp tục chào bán trái phiếu ra công chúng, đa dạng lựa chọn đầu tư

(TBTCO) - Từ ngày 21/9 đến ngày 12/10/2026, Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) chính thức chào bán hơn 15 triệu trái phiếu phát hành ra công chúng Lần 2 - Đợt 5, với tổng giá trị chào bán trên 1.500 tỷ đồng.
"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

"Kho" tiền rẻ 1,2 triệu tỷ đồng sụt giảm, ngân hàng vẫn lo giữ CASA

(TBTCO) - Số liệu của Ngân hàng Nhà nước cho thấy, đến cuối quý II/2026, tiền gửi thanh toán của khách hàng cá nhân giảm gần 10% so với cùng kỳ, xuống khoảng 1,22 triệu tỷ đồng, dù số tài khoản tiếp tục tăng lên mức kỷ lục. Trong bối cảnh lãi suất tiền gửi kỳ hạn neo ở mức cao, các ngân hàng đẩy mạnh sản phẩm lợi suất cao nhằm giữ dòng tiền gửi không kỳ hạn (CASA).
Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

Người Việt tin mình đã sẵn sàng cho tuổi già, nhưng số liệu lại kể một câu chuyện khác

(TBTCO) - Đến năm 2036, cứ 5 người Việt Nam sẽ có 1 người trên 60 tuổi (theo Quỹ Dân số Liên hợp quốc). Con số này đang đặt ra một câu hỏi: liệu người Việt đã thực sự sẵn sàng về tài chính cho tuổi già hay chưa? Câu trả lời, theo báo cáo năm 2025 do Viện nghiên cứu Hiệp hội Định phí Bảo hiểm Hoa Kỳ (SOA Research Institute) công bố, là một nghịch lý đáng suy ngẫm.
Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

Thanh khoản “dễ thở” hơn, dư địa giảm sâu lãi suất thế nào?

VPBankS cho rằng, áp lực thanh khoản ngắn hạn đã bớt căng hơn. Tuy nhiên, huy động vốn tăng 7,97% vẫn thấp hơn tốc độ tín dụng, dư địa giảm sâu lãi suất là không lớn, chi phí vốn toàn ngành khó quay lại vùng thấp của giai đoạn 2024 - 2025.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,400 144,400
Hà Nội - PNJ 141,400 144,400
Đà Nẵng - PNJ 141,400 144,400
Miền Tây - PNJ 141,400 144,400
Tây Nguyên - PNJ 141,400 144,400
Đông Nam Bộ - PNJ 141,400 144,400
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,140 14,440
Miếng SJC Nghệ An 14,140 14,440
Miếng SJC Thái Bình 14,140 14,440
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,090 14,490
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,090 14,490
NL 99.99 13,550
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450
Trang sức 99.9 13,800 14,400
Trang sức 99.99 13,810 14,410
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,414 14,442
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,414 14,443
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,409 1,439
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,409 144
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,384 1,429
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 134,485 141,485
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,536 107,336
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,532 97,332
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,528 87,328
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,669 83,469
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 49,945 59,745
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,414 1,444
Cập nhật: 25/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17726 18000 18576
CAD 17831 18105 18721
CHF 30712 31088 31723
CNY 0 3827 3923
EUR 28963 29182 30262
GBP 33574 33962 34906
HKD 0 3181 3384
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14414 15002
SGD 19792 20074 20643
THB 694 758 810
USD (1,2) 25718 0 0
USD (5,10,20) 25757 0 0
USD (50,100) 25785 25799 26166
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,800 25,800 26,180
USD(1-2-5) 24,768 - -
USD(10-20) 24,768 - -
EUR 28,966 28,989 30,365
JPY 159.62 159.91 169.6
GBP 33,720 33,811 34,976
AUD 17,889 17,954 18,641
CAD 18,026 18,084 18,749
CHF 30,949 31,045 31,971
SGD 19,891 19,953 20,734
CNY - 3,797 3,942
HKD 3,246 3,256 3,393
KRW 17.61 18.37 20
THB 740.77 749.92 802.72
NZD 14,369 14,502 14,935
SEK - 2,572 2,664
DKK - 3,885 4,022
NOK - 2,681 2,776
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,955.48 - 6,723.75
TWD 738.54 - 894.78
SAR - 6,803.17 7,166.27
KWD - 82,177 87,444
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,780 25,810 26,190
EUR 29,037 29,154 30,363
GBP 33,760 33,896 34,915
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 30,877 31,001 31,935
JPY 159.97 160.61 168.59
AUD 17,900 17,972 18,563
SGD 19,975 20,055 20,646
THB 758 761 799
CAD 18,055 18,128 18,718
NZD 14,492 15,032
KRW 18.24 20.22
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25795 25795 26165
AUD 17909 18009 18931
CAD 18014 18114 19128
CHF 30920 30950 32524
CNY 3809.7 3834.7 3970.2
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 29144 29174 30896
GBP 33895 33945 35703
HKD 0 3315 0
JPY 160.86 161.36 171.9
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14515 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2635 0
SGD 19950 20080 20802
THB 0 723.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14140000 14140000 14440000
SBJ 13000000 13000000 14440000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,695 25,815 26,500
USD20 25,665 25,815 26,500
USD1 25,645 25,815 26,500
AUD 17,921 18,021 19,134
EUR 28,908 29,008 30,678
CAD 17,968 18,068 19,384
SGD 20,010 20,160 20,724
JPY 160.73 162.23 167.83
GBP 33,737 33,887 34,967
XAU 14,138,000 0 14,442,000
CNY 0 3,720 0
THB 0 757 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30