Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi

(TBTCO) - Lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng niêm yết đạt gần 312.000 tỷ đồng sau 9 tháng năm 2026, tăng 19,8% cùng kỳ. Đằng sau đà tăng trưởng là cuộc đua thứ hạng sôi động, với những màn bứt tốc, đổi ngôi ngay trong nhóm dẫn đầu. Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận vẫn phân hóa rõ nét khi 24 ngân hàng tăng lãi, 4 nhà băng đi lùi.
aa
Ngân hàng báo lãi gần 225.000 tỷ đồng, bảng xếp hạng lợi nhuận xuất hiện màn “đổi ngôi” ngoạn mục “Nắn” dòng vốn đúng đích trong chặng nước rút Chủ động điều tiết “van” tín dụng bất động sản

Top 10 ngân hàng lãi “vạn tỷ”, thứ hạng xáo trộn

Bức tranh lợi nhuận ngành ngân hàng sau 9 tháng năm 2026 đã lộ diện khi 28 ngân hàng niêm yết đều công bố báo cáo tài chính, cho thấy cuộc đua lợi nhuận ngày càng sôi động với những màn bứt tốc, “đổi ngôi” đáng chú ý.

Đằng sau bức tranh tăng trưởng chung, lợi nhuận ngành ngân hàng ghi nhận sự phân hóa rõ nét, khi 24/28 nhà băng báo lãi tăng, trong khi 4 ngân hàng sụt giảm so với cùng kỳ.

Đồ họa: Ánh Tuyết

Thống kê của phóng viên cho thấy, tổng lợi nhuận trước thuế của 28 ngân hàng đạt 311.940,5 tỷ đồng, tăng 19,8% so với cùng kỳ năm trước, tương ứng tăng thêm 51.553,3 tỷ đồng. Đáng chú ý, nhóm 10 ngân hàng dẫn đầu tiếp tục chiếm phần lớn lợi nhuận, song trật tự xếp hạng đã có những thay đổi đáng kể.

Thống kê của phóng viên cho thấy, 10 ngân hàng dẫn đầu đều ghi nhận lợi nhuận trước thuế vượt 10.000 tỷ đồng sau 9 tháng 2026 và duy trì tăng trưởng dương so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng phân hóa rõ nét, từ 3,4% tại ACB đến 46,7% tại VPBank.

Giữ vững ngôi đầu là Vietcombank với lợi nhuận trước thuế đạt 40.440,1 tỷ đồng, tăng 22,1%.

Động lực tăng trưởng đến từ tổng thu nhập hoạt động (TOI) tăng 39,9%, tương ứng tăng thêm gần 19.800 tỷ đồng, giúp Vietcombank duy trì đà tăng lợi nhuận, dù chi phí dự phòng rủi ro tín dụng tăng mạnh, lên 9.179,8 tỷ đồng, gấp gần 4 lần cùng kỳ.

Trong văn bản giải trình biến động lợi nhuận, theo đại diện Vietcombank, việc gia tăng trích lập dự phòng diễn ra trong bối cảnh dư nợ ngân hàng tăng và ngân hàng tăng trích lập dự phòng để đảm bảo khả năng phòng thủ trước những rủi ro do biến động thị trường.

Bên cạnh đó, vị trí quán quân đang chịu sức ép cạnh tranh khi VietinBank bám sát với 39.556,6 tỷ đồng, tăng 33,9%, qua đó, khoảng cách với Vietcombank chỉ còn 883,5 tỷ đồng.

Đáng chú ý, cuộc đua ở nhóm tiếp theo chứng kiến sự bứt phá của MB và VPBank, khi cả hai cùng tăng 2 bậc so với cùng kỳ. Trong đó, MB vươn từ vị trí thứ 5 lên thứ 3 với 30.518,4 tỷ đồng, tăng 31,9%; VPBank nhảy từ thứ 6 lên thứ 4 với 29.910,9 tỷ đồng, tăng 46,7%.

Màn tăng tốc của hai nhà băng này đẩy BIDV và Techcombank cùng lùi 2 bậc, lần lượt xuống vị trí thứ 5 và thứ 6, dù lợi nhuận vẫn tăng trưởng hai chữ số, đạt tương ứng 29.483,5 tỷ đồng và 28.915,4 tỷ đồng.

Phía dưới bảng xếp hạng, HDBank tăng 1 bậc lên vị trí thứ 7 với 17.370,3 tỷ đồng. Còn ACB lùi xuống thứ 8 với 16.614,4 tỷ đồng. SHB giữ nguyên vị trí thứ 9 với 14.308,9 tỷ đồng, trong khi LPBank tăng từ thứ 11 lên thứ 10 với 10.420,9 tỷ đồng, thay SACOMBANK góp mặt trong nhóm dẫn đầu.

Động lực tăng tốc đến từ đâu?

Biến động lợi nhuận của các ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào TOI - phản ánh khả năng tạo thu nhập từ các mảng kinh doanh của mỗi ngân hàng, mà còn chịu tác động đáng kể từ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng.

Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng, kịch tính những màn bứt tốc và đổi ngôi
Các ngân hàng niêm yết lãi hơn 310.000 tỷ đồng sau 9 tháng. Ảnh minh họa.

Về tốc độ tăng trưởng, NCB dẫn đầu về tốc độ tăng trưởng lợi nhuận với mức tăng 140,6%, đạt 1.574,2 tỷ đồng và lập kỷ lục cao nhất về lợi nhuận kể từ khi thành lập ngân hàng tới nay. Động lực chủ yếu đến từ TOI tăng 74,2%, kéo lợi nhuận trước dự phòng tăng 150%, đạt 2.340 tỷ đồng. Dù chi phí dự phòng tăng mạnh 172%, lên 765,8 tỷ đồng, NCB vẫn là ngân hàng duy nhất duy trì mức tăng trưởng lợi nhuận 3 chữ số.

Xếp tiếp theo là BVBank với lợi nhuận tăng 88,9%, đạt 825 tỷ đồng; ABBank tăng 86,9%, đạt 4.301,3 tỷ đồng. Cả hai đều ghi nhận lợi nhuận trước dự phòng tăng mạnh, lần lượt đạt 55,3% và 61,1%, đủ bù đắp mức tăng chi phí dự phòng tương ứng 20,8% và 12,9%.

VietBank đứng thứ tư với lợi nhuận tăng 52,5%, đạt 1.320,6 tỷ đồng. Khác với các ngân hàng trên, kết quả này được hỗ trợ đồng thời bởi lợi nhuận trước dự phòng tăng 31,5% và chi phí dự phòng giảm 30%, xuống còn 206,9 tỷ đồng.

Trong top 5 ngân hàng niêm yết có tốc độ tăng trưởng lợi nhuận cao nhất, VPBank nổi bật là ngân hàng tư nhân quy mô lớn với lợi nhuận trước thuế tăng 46,7%, đạt 29.910,9 tỷ đồng, gần bằng kết quả cả năm 2025 (30.624,9 tỷ đồng) và hoàn thành khoảng 72,4% kế hoạch năm. Kết quả này được hỗ trợ bởi tổng TOI của VPBank tăng 25,3%.

Theo đại diện VPBank, riêng ngân hàng mẹ đóng góp hơn 25.200 tỷ đồng lợi nhuận, tăng gần 48%, trong khi các công ty thành viên tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động chung của hệ sinh thái.

Bên cạnh đó, một số nhà băng ghi nhận lợi nhuận cải thiện chủ yếu nhờ giảm áp lực dự phòng. Điển hình, PVcomBank có TOI giảm 29,8%; lợi nhuận trước dự phòng giảm 56,5%; nhưng lợi nhuận trước thuế vẫn tăng 35,2%, đạt 1.877,7 tỷ đồng, nhờ chi phí dự phòng giảm tới 89,6%.

Tương tự, Nam A Bank ghi nhận lợi nhuận trước dự phòng giảm nhẹ 0,3%, song lợi nhuận trước thuế vẫn tăng 24,8% lên 4.757,2 tỷ đồng, nhờ chi phí dự phòng giảm 79,3%.

Còn VietABank ghi nhận lợi nhuận trước dự phòng giảm 1,6%, nhưng lợi nhuận trước thuế vẫn tăng 13,4%, đạt 1.191 tỷ đồng, nhờ chi phí dự phòng giảm mạnh 63,8%, xuống còn 92 tỷ đồng...

Hầu hết nhà băng báo lãi đi lùi vì TOI giảm, SACOMBANK là ngoại lệ

Trong nhóm ngân hàng niêm yết, có 4/28 ngân hàng ghi nhận lãi đi lùi so với cùng kỳ; trong đó, SACOMBANK là trường hợp đáng chú ý khi thu nhập hoạt động tăng trưởng, nhưng lợi nhuận vẫn giảm, vì chủ động tăng trích lập dự phòng.

Theo đó, Saigonbank ghi nhận lợi nhuận trước thuế giảm mạnh nhất, tới 74,4%, xuống còn 65,9 tỷ đồng. TOI của ngân hàng giảm 15,9%, khiến lợi nhuận thuần trước dự phòng giảm 47,3%, xuống 197,1 tỷ đồng, trong khi chi phí dự phòng tăng 12,8%.

Tương tự, SACOMBANK ghi nhận lợi nhuận giảm 46,4%, còn 5.893,4 tỷ đồng, dù TOI tăng 14,1% và lợi nhuận trước dự phòng tăng mạnh 42,6%, đạt 18.741,1 tỷ đồng. Nguyên nhân chủ yếu đến từ chi phí dự phòng tăng gần 6 lần, lên 12.847,7 tỷ đồng. Trong khi đó, SeABank giảm lãi 41,5%, xuống 3.940,4 tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam khai trương văn phòng và ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) vừa chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới tại Trụ sở chính TP. Hồ Chí Minh và khai trương Văn phòng Chi nhánh Hà Nội mới tại tòa nhà BRG Diamond Park Plaza.
Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

Vạn dặm gắn kết: Khi yêu thương được gửi trao bằng hành động thiết thực

(TBTCO) - Trên hành trình đồng hành cùng cộng đồng, những giá trị bền vững thường được tạo nên từ sự thấu hiểu nhu cầu địa phương và những hành động thiết thực.
Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Đầu tư tài chính giữ nhịp lợi nhuận MVI Life trước khi đổi chủ, “khoác áo” Asahi Life

Asahi Mutual Life (Nhật Bản) vừa hoàn tất mua lại 100% vốn MVI Life, đồng thời đổi tên doanh nghiệp thành Asahi Life. Thương vụ đánh dấu bước ngoặt mới trong hành trình nhiều lần thay đổi chủ sở hữu và thương hiệu của doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ này. Nửa đầu năm 2026, doanh nghiệp lãi trước thuế 191,2 tỷ đồng, với danh mục đầu tư hơn 16.300 tỷ đồng.
Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

Vietnam Airlines lãi gần 4.700 tỷ đồng, trên nền doanh thu trăm nghìn tỷ và nhân đôi danh mục đầu tư

(TBTCO) - Lũy kế 9 tháng năm 2026, Vietnam Airlines đạt doanh thu thuần 114.264,6 tỷ đồng, tăng 28,5% so với cùng kỳ, hướng tới năm thứ ba liên tiếp vượt mốc 100.000 tỷ đồng. Lợi nhuận trước thuế hợp nhất của Hãng đạt 4.652,4 tỷ đồng, được hỗ trợ bởi nguồn thu tài chính với danh mục đầu tư tăng hơn gấp đôi lên 16.853 tỷ đồng.
ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

ABBank kết nối hệ sinh thái, gia tăng giải pháp tài chính cho khách hàng

(TBTCO) - Liên tiếp ký kết hợp tác với 4 đối tác trong lĩnh vực bảo hiểm, tư vấn tài chính, công nghệ và Đại học Kinh tế Quốc dân, ABBank mở rộng liên kết nguồn lực, phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính đa dạng, đồng thời đầu tư đào tạo, nghiên cứu và tạo cơ hội nghề nghiệp cho nguồn nhân lực trẻ.
Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

Doanh nghiệp muốn vay vốn phải minh bạch, không có chuyện hai bảng cân đối kế toán

(TBTCO) - Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn cho biết doanh nghiệp phải minh bạch tài chính, chứng minh khả năng trả nợ để ngân hàng có cơ sở cấp tín dụng. Không thể có tình trạng doanh nghiệp dùng một bảng cân đối kế toán để nộp thuế, một bảng để vay ngân hàng.
Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

Eximbank công bố kết quả kinh doanh Quý III: Tiếp tục định hướng phát triển thận trọng và bền vững

(TBTCO) - Trong 9 tháng đầu năm 2026, Eximbank ghi nhận tổng thu nhập hoạt động thuần đạt 4.692 tỷ đồng. Ngân hàng tiếp tục tăng cường kỷ luật tài chính, tối ưu hóa vận hành với chi phí hoạt động ở mức 2.831 tỷ đồng, giảm 1,9% so với cùng kỳ, đồng thời duy trì nguồn lực đầu tư cho các sáng kiến chiến lược.
HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

HDBank đạt 18.379 tỷ đồng lợi nhuận 9 tháng, tổng tài sản vượt 1,14 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Lợi nhuận tăng 24,2%, hệ sinh thái phục vụ hơn 34 triệu khách hàng; HDBank tiếp tục mở rộng nguồn vốn quốc tế, thúc đẩy tài chính số và đồng hành cùng các động lực tăng trưởng của nền kinh tế.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Hà Nội - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đà Nẵng - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Miền Tây - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Tây Nguyên - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
Đông Nam Bộ - PNJ 134,000 ▲400K 138,000 ▲400K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 13,700 ▲100K 14,000 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,500 ▲100K 13,900 ▲100K
Trang sức 99.9 13,180 ▲100K 13,780 ▲100K
Trang sức 99.99 13,190 ▲100K 13,790 ▲100K
Vàng 99.9 12,650 ▲100K
Vàng 99.99 12,800 ▲100K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 137 ▲1K 14,002 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 137 ▲1K 14,003 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,328 ▲10K 1,368 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,328 ▲10K 1,369 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,308 ▲10K 1,358 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 127,455 ▲990K 134,455 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 9,221 ▲75K 10,201 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 82,703 ▲680K 92,503 ▲680K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 73,196 ▲610K 82,996 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 69,529 ▲583K 79,329 ▲583K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 46,984 ▲417K 56,784 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 137 ▲1K 140 ▲1K
Cập nhật: 02/11/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17528 17801 18387
CAD 17901 18176 18793
CHF 30738 31115 31762
CNY 0 3834 3930
EUR 28247 28463 29543
GBP 33741 34130 35065
HKD 0 3154 3357
JPY 156 160 167
KRW 0 18 20
NZD 0 14176 14766
SGD 19608 19889 20459
THB 679 742 795
USD (1,2) 25514 0 0
USD (5,10,20) 25552 0 0
USD (50,100) 25579 25593 25963
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,605 25,605 25,985
USD(1-2-5) 24,581 - -
USD(10-20) 24,581 - -
EUR 28,276 28,299 29,643
JPY 158.92 159.21 168.85
GBP 33,933 34,025 35,220
AUD 17,760 17,824 18,499
CAD 18,098 18,156 18,829
CHF 30,935 31,031 31,945
SGD 19,747 19,808 20,593
CNY - 3,805 3,952
HKD 3,220 3,230 3,366
KRW 17.69 18.45 20.08
THB 727.78 736.77 788.72
NZD 14,164 14,296 14,719
SEK - 2,586 2,678
DKK - 3,793 3,927
NOK - 2,751 2,849
LAK - 0.87 1.21
MYR 5,920.63 - 6,686.79
TWD 713.93 - 865.04
SAR - 6,754.63 7,116.3
KWD - 81,450 86,680
AED - 6,768 7,294
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,580 25,610 25,990
EUR 28,221 28,363 29,591
GBP 33,895 34,065 35,100
HKD 3,215 3,234 3,352
CHF 30,727 30,881 31,829
JPY 158.68 160.28 168.26
AUD 17,756 17,881 18,479
SGD 19,728 19,907 20,504
THB 732 747 784
CAD 18,082 18,209 18,807
NZD 14,263 14,818
KRW 18.60 20.58
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25560 25590 25960
AUD 17749 17849 18774
CAD 18104 18204 19217
CHF 31010 31040 32618
CNY 3817.5 3842.5 3977.5
CZK 0 1130 0
DKK 0 3845 0
EUR 28470 28500 30222
GBP 34095 34145 35903
HKD 0 3300 0
JPY 159.69 160.19 170.73
KHR 0 6.097 0
KRW 0 19 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6450 0
NOK 0 2778 0
NZD 0 14322 0
PHP 0 373 0
SEK 0 2605 0
SGD 19776 19906 20637
THB 0 708.3 0
TWD 0 785 0
SJC 9999 13800000 13800000 14100000
SBJ 12000000 12000000 14100000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,500 25,620 25,920
USD20 25,470 25,620 25,920
USD1 25,450 25,620 25,920
AUD 17,715 17,865 18,697
EUR 28,152 28,252 29,924
CAD 18,054 18,154 19,466
SGD 19,866 20,016 20,900
JPY 160.41 161.91 167.53
GBP 33,928 34,078 35,461
XAU 13,698,000 0 14,002,000
CNY 0 3,795 0
THB 0 744 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 02/11/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30