Các ngân hàng sẽ cần 283 nghìn tỷ đồng trái phiếu duy trì an toàn vốn

(TBTCO) - Theo báo cáo của VIS Rating, trong vòng từ 1 đến 3 năm tới, các ngân hàng sẽ cần 283 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 để hỗ trợ nguồn vốn nội bộ và duy trì tỷ lệ an toàn vốn.
aa

Cụ thể, trong báo cáo mới nhất của VIS Rating về ngành ngân hàng, trong 5 năm qua, các ngân hàng Việt Nam ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào nguồn vốn thị trường để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn và đảm bảo các yêu cầu về an toàn vốn cho tăng trưởng kinh doanh trong bối cảnh tăng trưởng tiền gửi chậm lại.

Tỷ lệ cho vay trên tiền gửi của ngành ngân hàng tăng mạnh và đạt đỉnh ở mức 101% do huy động tiền gửi cá nhân và doanh nghiệp gặp khó khăn.

Các ngân hàng sẽ cần 283 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 để bổ sung nguồn vốn và an toàn vốn

Ngành ngân hàng sẽ cần hơn 283 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 từ 2024-2026.

VIS Rating dự báo, khi tăng trưởng tín dụng cải thiện hơn trong 1 - 3 năm tới, các ngân hàng sẽ cần 283 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 để hỗ trợ nguồn vốn nội bộ và duy trì tỷ lệ an toàn vốn.

Trên thực tế, các ngân hàng đã phát hành tổng cộng 196 nghìn tỷ đồng trái phiếu trong năm 2023, cao hơn mức 104 nghìn tỷ đồng năm 2019. Trái phiếu tăng vốn cấp 2 chiếm 35% quy mô trái phiếu phát hành. Các ngân hàng sử dụng nguồn vốn phát hành trái phiếu để hỗ trợ cho các khoản cho vay dài hạn và đáp ứng các tỷ lệ theo quy định: kiểm soát tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn dưới 30% và tỷ lệ cho vay trên tiền gửi ở mức 85%.

Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản bình quân thấp cùng với việc trả cổ tức tiền mặt thường xuyên đã hạn chế khả năng tạo vốn cấp 1 mới để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng. Các ngân hàng quốc doanh nhận thấy việc huy động vốn cấp 2 mới sẽ tiết kiệm thời gian hơn so với việc huy động vốn cổ phần mới mà luôn đòi hỏi quy trình thủ tục kéo dài.

Trong đó, các ngân hàng quốc doanh và một số các ngân hàng tư nhân quy mô nhỏ sử dụng nhiều trái phiếu tăng vốn cấp 2 hơn trong cơ cấu vốn của mình để khắc phục những hạn chế trong việc huy động vốn cổ phần và hỗ trợ nguồn vốn cấp 1 đang ở mức thấp.

VIS Rating cho rằng, trong số hơn 283 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 thì có khoảng 55% trái phiếu tăng vốn cấp 2 mới sẽ được phát hành bởi các ngân hàng quốc doanh do vốn cấp 2 của các ngân hàng này sẽ bị khấu trừ đáng kể.

Theo quy định, trái phiếu tăng vốn cấp 2 đang lưu hành được tính vào vốn tự có sẽ bị khấu trừ khoảng 20% mỗi năm trong 5 năm cuối của kỳ hạn trái phiếu. Các ngân hàng sẽ cần phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 mới để thay thế các trái phiếu bị khấu trừ và tăng mức an toàn vốn. Một vài ngân hàng tư nhân nhỏ có khả năng sinh lời yếu sẽ phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 để hỗ trợ 3 - 4% tỷ lệ an toàn vốn. Bên cạnh đó, một số ngân hàng tư nhân quy mô vừa và lớn sẽ sử dụng trái phiếu tăng vốn cấp 2 để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng tín dụng cao.

Các ngân hàng sẽ cần 283 nghìn tỷ đồng trái phiếu tăng vốn cấp 2 để bổ sung nguồn vốn và an toàn vốn
Các ngân hàng đã công bố kế hoạch phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2.

Về nhu cầu đầu tư trái phiếu tăng vốn cấp 2 của các nhà đầu tư, VIS Rating nhận định, nhu cầu của các nhà đầu tư vẫn duy trì ở mức cao. Cụ thể, nhà đầu tư cá nhân nắm giữ phần lớn trái phiếu tăng vốn cấp 2 được chào bán ra công chúng, chủ yếu là do lợi suất của các trái phiếu này cao hơn so với tiền gửi và trái phiếu thường. Trái phiếu ngân hàng chủ yếu được phát hành riêng lẻ để giúp các tổ chức phát hành huy động vốn trong khoảng thời gian ngắn với các yêu cầu tối thiểu về hồ sơ và tài liệu quy định.

Qua đó, VIS Rating kỳ vọng, ngân hàng sẽ đẩy mạnh phát hành trái phiếu tăng vốn cấp 2 ra công chúng nhiều hơn để có thể khai thác nhu cầu mạnh mẽ của nhà đầu tư cá nhân, vì các tổ chức phát hành sẽ không còn được phát hành riêng lẻ cho các nhà đầu tư cá nhân không phải là nhà đầu tư chuyên nghiệp.

"Các nhà đầu tư cần nhận thức được những rủi ro đến từ sản phẩm đầu tư này, đơn cử như không được bảo lãnh thanh toán hoặc bảo hiểm chậm thanh toán hay thậm chí là có thể bị mua lại trước hạn" - VIS Rating khuyến cáo./.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) yêu cầu các ngân hàng duy trì một số tỷ lệ an toàn tài chính như SMLR (vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn), LDR (cho vay trên tổng huy động) và CAR (tỷ lệ an toàn vốn) trong ngưỡng quy định. Theo đó, cả trái phiếu thường và trái phiếu tăng vốn cấp 2 do ngân hàng phát hành đều có thể được sử dụng để đáp ứng các tỷ lệ quy định, bởi các trái phiếu này giúp cải thiện sự ổn định về nguồn vốn cho ngân hàng.

Diệu Khiết

Đọc thêm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

UOB nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất đến hết năm, DXY trên đà về 95 điểm

CPI Mỹ tháng 8 công bố ngày 11/9 được dự báo tác động lớn đến kỳ vọng lãi suất trước cuộc họp FOMC tháng 9. Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) nghiêng về kịch bản Fed giữ nguyên lãi suất hết năm 2026, khi áp lực lạm phát mang tính tạm thời và dự báo chỉ số DXY trên đà giảm về 95 điểm.
Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

Vốn trung - dài hạn chỉ chiếm 16%, bơm ròng mạnh cùng mở “van” tái cấp vốn tiếp sức thanh khoản

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã bơm ròng 60,2 nghìn tỷ đồng trong tháng 8, khi nhu cầu vốn ngắn hạn tăng. Cùng với các điều chỉnh về LDR, cơ cấu nguồn vốn và tiền gửi Kho bạc Nhà nước, cơ chế tái cấp vốn dự kiến tiếp tục hỗ trợ thanh khoản, khi vốn trung và dài hạn chỉ chiếm 16% tổng nguồn vốn huy động.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

Thị trường tiền tệ tuần qua: USD đồng loạt hạ nhiệt, bơm ròng khi doanh số “vay nóng” liên ngân hàng vượt 2 triệu tỷ đồng

(TBTCO) - Sau kỳ nghỉ lễ Quốc khánh, Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 10.787 tỷ đồng qua kênh OMO khi lãi suất qua đêm bật từ quanh 1% lên 6%/năm, quy mô “vay nóng” liên ngân hàng hai kỳ hạn ngắn vượt 2 triệu tỷ đồng. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá trung tâm đảo chiều sau 16 tuần tăng liên tiếp, USD đồng loạt hạ nhiệt.
Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

Thị trường tiền tệ tuần 24 - 28/8: USD biến động hẹp, lãi suất qua đêm rơi về 1% sau nhịp bơm mạnh thanh khoản

(TBTCO) - Trong tuần từ ngày 24 - 28/8, doanh số vay mượn liên ngân hàng biến động mạnh, trong khi Ngân hàng Nhà nước bơm ròng gần 54.900 tỷ đồng qua kênh OMO, giúp lãi suất qua đêm giảm sâu còn 1,19%/năm, dù lãi suất các kỳ hạn dài vẫn neo ở mức cao. Trên thị trường ngoại hối, tỷ giá USD biến động hẹp, USD tự do giảm tuần thứ 9 liên tiếp, cung - cầu ngoại hối ngắn hạn thuận lợi.
Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

Ngân hàng huy động hàng tỷ USD qua vay hợp vốn quốc tế, lợi thế không nằm ở lãi suất

(TBTCO) - Các ngân hàng Việt đang trở lại thị trường vay hợp vốn quốc tế, với khoảng 3,4 tỷ USD đã ký và đang triển khai. Lãi suất vay USD ước khoảng 5 - 5,3%, chưa gồm chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá và phí thu xếp. Tuy không rẻ hơn huy động trong nước, nhưng nguồn vốn này có kỳ hạn dài, ổn định, giúp giảm áp lực thanh khoản.
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

Top ngân hàng trả lãi suất tiết kiệm cao nhất tháng 8/2026

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 19/8 cho thấy, lãi suất huy động một tháng qua ít “gợn sóng”, trong khi lãi suất niêm yết cao nhất quanh 7%/năm, ưu đãi vẫn đẩy trên 9%/năm. Dù thanh khoản ngắn hạn dịu lại, mặt bằng lãi suất chưa giảm rõ rệt, khi sức ép không chỉ đến từ thanh khoản, mà còn từ những vấn đề cấu trúc trong bảng cân đối ngân hàng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Hà Nội - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Đà Nẵng - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Miền Tây - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Tây Nguyên - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,000 ▲600K 146,000 ▲600K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
Miếng SJC Nghệ An 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
Miếng SJC Thái Bình 14,300 ▲60K 14,600 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,300 ▲60K 14,650 ▲60K
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 13,960 ▲60K 14,560 ▲60K
Trang sức 99.99 13,970 ▲60K 14,570 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 143 ▼1281K 14,602 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 143 ▼1281K 14,603 ▲60K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,425 ▲6K 1,455 ▲6K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,425 ▲6K 1,456 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 140 ▼1254K 1,445 ▲6K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 136,069 ▲594K 143,069 ▲594K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,736 ▲450K 108,536 ▲450K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,862 ▼79350K 9,842 ▼88170K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,504 ▲366K 88,304 ▲366K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,602 ▲350K 84,402 ▲350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,613 ▲251K 60,413 ▲251K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 143 ▼1281K 146 ▼1308K
Cập nhật: 12/09/2026 23:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18045 18320 18904
CAD 18151 18427 19049
CHF 31095 31473 32132
CNY 0 3821 3917
EUR 29431 29651 30740
GBP 34237 34628 35566
HKD 0 3174 3377
JPY 162 165 172
KRW 0 18 20
NZD 0 14760 15345
SGD 19915 20198 20768
THB 698 761 816
USD (1,2) 25658 0 0
USD (5,10,20) 25696 0 0
USD (50,100) 25724 25738 26108
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,730 25,730 26,110
USD(1-2-5) 24,701 - -
USD(10-20) 24,701 - -
EUR 29,499 29,523 30,923
JPY 163.51 163.8 173.71
GBP 34,417 34,510 35,700
AUD 18,243 18,309 19,004
CAD 18,373 18,432 19,115
CHF 31,483 31,581 32,509
SGD 20,023 20,085 20,873
CNY - 3,789 3,934
HKD 3,238 3,248 3,385
KRW 17.74 18.5 20.13
THB 746.8 756.02 809.53
NZD 14,781 14,918 15,359
SEK - 2,632 2,725
DKK - 3,957 4,097
NOK - 2,743 2,840
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,952.45 - 6,722.27
TWD 739.4 - 895.86
SAR - 6,783.99 7,146.35
KWD - 82,248 87,523
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,710 25,740 26,120
EUR 29,562 29,681 30,871
GBP 34,424 34,562 35,592
HKD 3,239 3,252 3,368
CHF 31,366 31,492 32,418
JPY 163.83 164.49 172.45
AUD 18,236 18,309 18,903
SGD 20,105 20,186 20,781
THB 763 766 803
CAD 18,402 18,476 19,068
NZD 14,837 15,377
KRW 18.41 20.37
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25710 25710 26120
AUD 18226 18326 19251
CAD 18358 18458 19474
CHF 31394 31424 33009
CNY 3803 3828 3963.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29596 29626 31351
GBP 34501 34551 36311
HKD 0 3330 0
JPY 164.66 165.16 175.7
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 14885 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20056 20186 20919
THB 0 728.6 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,680 25,730 26,130
USD20 25,650 25,730 26,130
USD1 24,317 25,730 26,875
AUD 18,210 18,360 19,499
EUR 29,341 29,491 31,193
CAD 18,254 18,404 19,735
SGD 20,079 20,279 20,862
JPY 164.99 166.49 172.3
GBP 34,333 34,533 35,640
XAU 14,238,000 0 14,542,000
CNY 0 3,711 0
THB 0 765 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 12/09/2026 23:30
Ngân hàng