Chi trả lương hưu theo mức mới nhanh nhất, kịp thời nhất tới người hưởng

Luyện Vũ
(TBTCO) - Với tinh thần chủ động chuẩn bị sẵn mọi nguồn lực chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng theo mức mới, ngay trong ngày đầu tiên Nghị định số 75/2024/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (1/7/2024), toàn ngành Bảo hiểm xã hội đã tích cực triển khai công tác chi trả để người hưởng được nhận chế độ nhanh nhất, kịp thời nhất. Trong ngày 1/7, đã có 70% người hưởng được chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội theo mức mới.
aa
Bảng lương mới nhất của công chức, viên chức từ 1/7/2024 Quy định về 9 loại phụ cấp theo chế độ tiền lương mới từ ngày 1/7 Tiền lương mới của cán bộ, công chức, viên chức sẽ tăng bao nhiêu?

Hơn 3,3 triệu người được điều chỉnh tăng lương hưu, trợ cấp hằng tháng

Ngày 29/6/2024, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là thống nhất điều chỉnh tăng 15% lương hưu, trợ cấp BHXH từ ngày 1/7/2024.

Chi trả lương hưu theo mức mới nhanh nhất, kịp thời nhất tới người hưởng
Chi trả lương hưu theo mức mới nhanh nhất, kịp thời nhất tới người hưởng. Ảnh minh họa

Theo Nghị quyết, từ ngày 1/7/2024, điều chỉnh tăng thêm 15% trên mức lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2024. Phạm vi áp dụng rộng lớn, bao gồm người đang hưởng lương hưu từ tham gia BHXH bắt buộc (khối nhà nước, tư nhân) và người tham gia BHXH tự nguyện.

Đồng thời, đối với người đang hưởng lương hưu trước năm 1995, sau khi điều chỉnh mà có mức hưởng thấp hơn 3,2 triệu đồng/tháng thì điều chỉnh tăng 0,3 triệu đồng/tháng, có mức hưởng từ 3,2 triệu đồng/tháng đến dưới 3,5 triệu đồng/tháng thì điều chỉnh bằng 3,5 triệu đồng/tháng.

Tại Điều 57 Luật BHXH hiện hành quy định: “Chính phủ quy định việc điều chỉnh lương hưu trên cơ sở mức tăng chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với ngân sách nhà nước và quỹ BHXH”.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2023, tăng trưởng kinh tế đạt 5,05% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,25%. Năm 2024, tăng trưởng kinh tế đạt trên 6% và chỉ số giá tiêu dùng là dưới 4%.

Việc đề xuất điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng tăng với tỷ lệ 15% là mức tăng cao so với chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế. Đây là mức tăng thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng, đảm bảo hợp lý, hài hòa, có sự chia sẻ giữa người đang đóng BHXH và người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng, giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, giữa các thế hệ tham gia và thụ hưởng chính sách.

Tỷ lệ tăng lần này đã được cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tính toán kỹ lưỡng đảm bảo khả năng cân đối Quỹ BHXH trong dài hạn. Ngoài lương hưu hằng tháng, người hưởng còn được cấp thẻ BHYT miễn phí trong suốt thời gian nghỉ hưu để được hưởng các quyền lợi khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe do Quỹ BHYT chi trả với mức hưởng là 95%.

Theo thống kê, với phạm vi áp dụng rộng lớn, ở lần chi trả mức hưởng mới theo Nghị định số 75, cả nước sẽ có hơn 3,3 triệu người được điều chỉnh tăng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng. Trong đó có khoảng 200 nghìn người hưởng lương hưu, trợ cấp trước ngày 1/1/1995 tiếp tục được điều chỉnh mức hưởng theo số tiền tuyệt đối do ngân sách nhà nước chi trả.

Dự kiến, kinh phí tăng thêm để chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng trong 6 tháng cuối năm 2024 từ ngân sách nhà nước khoảng 3.700 tỷ đồng và từ Quỹ BHXH là hơn 12.500 tỷ đồng. Tổng kinh phí dự kiến để tăng lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp BHXH hằng tháng 6 tháng cuối năm 2024 là hơn 16.200 tỷ đồng.

Người dân phấn khởi khi nhận lương hưu mới

Nhằm kịp thời nắm bắt tình hình và chỉ đạo BHXH các địa phương nhanh chóng triển khai công tác chi trả theo mức hưởng mới tới người hưởng, ngay trong chiều ngày 1/7, BHXH Việt Nam đã tổ chức các đoàn công tác do Tổng Giám đốc Nguyễn Thế Mạnh và Phó Tổng Giám đốc Trần Đình Liệu làm trưởng đoàn đến làm việc với BHXH TP. Hà Nội, BHXH TP. Hồ Chí Minh và trực tiếp xuống thăm hỏi tại nhà của một số người dân thụ hưởng chính sách trong đợt này.

Chi trả lương hưu theo mức mới nhanh nhất, kịp thời nhất tới người hưởng
Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh thăm hỏi, trao lương hưu tại nhà cho bà Lương Thị Hai.

Bà Lương Thị Hai (91 tuổi, phường Yết Kiêu, quận Hà Đông, TP. Hà Nội) không giấu được sự xúc động khi được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm tăng lương hưu và được cơ quan BHXH Việt Nam trực tiếp xuống thăm hỏi, trao lương hưu tại nhà.

Trước đây, bà Hai công tác tại Nhà máy cơ khí nông nghiệp và nghỉ việc (vào tháng 4/1984) với số tiền hưởng BHXH khi đó là 290 đồng. Đến nay, qua nhiều lần được Nhà nước điều chỉnh tăng, số tiền hưởng của bà Hai là 4.813.100 đồng, tăng 627.800 đồng so với mức lương tháng 6/2024 (4.185.300 đồng). Do tuổi cao, sức khỏe yếu nên bà Hai được chi trả tiền hưu ngay tại nhà, mà không phải ra các điểm chi trả.

Đặc biệt, bên cạnh số tiền lương hưu ổn định hằng tháng, bà Hai còn được cấp thẻ BHYT miễn phí để chăm sóc sức khỏe khi ốm đau. Với căn bệnh đái tháo đường của mình, bà Hai thường xuyên sử dụng thẻ BHYT để đi khám chữa bệnh. Nhờ đó, bà Hai thêm an tâm tuổi già, mà không phải nhờ cậy vào con cháu.

Bà Lê Thị Chí (61 tuổi, phường Kiến Hưng, quận, Hà Đông, TP. Hà Nội) sau thời gian tham gia BHXH bắt buộc, đến khi nghỉ việc, bà tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện 5 năm 4 tháng (đóng 1 lần cho những năm còn thiếu) để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu vào tháng 7/2018.

Bày tỏ sự vui mừng, phần khởi khi nhận mức lương hưu mới lần này, bà Chí cho biết, ngay trong đầu giờ chiều nay (ngày 1/7) bà đã nhận lương hưu qua tài khoản ATM với số tiền là 2.344.400 đồng (tăng 305.800 đồng so với mức lương tháng 6/2024). Theo bà Chí, việc lĩnh chế độ qua tài khoản ngân hàng đã đem lại cho bà rất nhiều lợi ích, vừa nhanh, vừa an toàn, mà lại không phải mất thời gian đi đến các điểm chi trả.

Nói về việc tăng lương, bà Chí chia sẻ: “Cảm ơn Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến những người nghỉ hưu như chúng tôi, dù là người tham gia BHXH bắt buộc hay BHXH tự nguyện thì đều được tăng lương hưu lần này. Ngoài tiền hưu hằng tháng, tôi còn được Nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí nên tuổi già có ốm đau, tôi cũng không phải lo lắng. Giờ tôi vẫn thường xuyên nhắc các con, các cháu của mình làm gì thì làm, nhưng lúc còn khỏe, cứ phải tham gia BHXH hằng tháng để khi về già có lương hưu và BHYT Nhà nước lo cho. Khi đó, mình yên tâm, không phải nghĩ ngợi gì”.

Tính đến 17 giờ chiều ngày 1/7, với tinh thần chuẩn bị từ sớm, tập trung mọi nguồn lực triển khai, toàn ngành BHXH Việt Nam đã thực hiện chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng theo mức hưởng mới tới hơn 70% tổng số người hưởng. Trong đó, về cơ bản, người hưởng đăng ký nhận chế độ qua tài khoản cá nhân đã được chi trả theo mức hưởng mới; những người già yếu, không đi lại được được cơ quan BHXH chi trả trực tiếp tại nhà. Với quyết tâm để người thụ hưởng nhận chế độ nhanh nhất, kịp thời nhất, hiện ngành BHXH Việt Nam đang tiếp tục chi trả cho tất cả người hưởng theo quy định.
Luyện Vũ

Đọc thêm

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

Áp lực thanh khoản ngân hàng vẫn khó hạ nhiệt

(TBTCO) - Theo dự báo của Công ty cổ phần Chứng khoán Rồng Việt, áp lực thanh khoản hệ thống ngân hàng và xu hướng tăng của lãi suất chưa sớm chấm dứt, trong bối cảnh tăng trưởng huy động tiếp tục thấp hơn tín dụng.
“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

“Cuộc đua” sức khỏe thương hiệu ngành tài chính tiêu dùng trong thế bám đuổi

(TBTCO) - Mibrand Vietnam vừa công bố Bảng xếp hạng sức khỏe thương hiệu tài chính tiêu dùng Việt Nam 2025. Dữ liệu cho thấy, nhóm thương hiệu dẫn đầu chưa tạo ra khoảng cách quá lớn về điểm số. "Cuộc đua" giữa các doanh nghiệp dịch chuyển sang niềm tin, chất lượng dịch vụ và khả năng tối ưu trải nghiệm khách hàng sau vay.
Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

Việt Nam và Lào ký kết hợp tác về bảo hiểm xã hội giai đoạn 2026 - 2028

(TBTCO) - Ngày 27/5, tại Hà Nội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Cơ quan Bảo hiểm xã hội Quốc gia Lào đã ký kết Biên bản Ghi nhớ hợp tác giai đoạn 2026 - 2028.
VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

VIS Rating lo ngại thanh khoản thắt chặt, nợ xấu tăng khiến ngân hàng thêm áp lực

(TBTCO) - Theo VIS Rating, điều kiện huy động tiếp tục thắt chặt, với tăng trưởng tiền gửi toàn hệ thống chỉ đạt 0,6%, trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, lãi suất và đòn bẩy cao kéo dài đang tạo áp lực lên ngành ngân hàng. Từ đó, xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng dự kiến sẽ tiếp diễn.
Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

Trải nghiệm khách hàng là thước đo chất lượng ngân hàng

(TBTCO) - Các ngân hàng đang tăng tốc chuyển đổi số với nhiều sáng kiến, nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu chi phí vận hành. Việc đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cũng góp phần kéo giảm mạnh tỷ lệ CIR. Hiện nhiều tổ chức tín dụng đã có trên 90% giao dịch thực hiện qua kênh số.
Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

Tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai chảy mạnh vào khu vực sản xuất

(TBTCO) - Trong 4 tháng đầu năm 2026, dòng vốn tín dụng tại TP. Hồ Chí Minh và Đồng Nai tiếp tục chảy mạnh vào các lĩnh vực sản xuất, công nghiệp chế biến, nông nghiệp và thương mại. Đây cũng là nhóm ngành đang có nhu cầu vốn lớn nhất tại khu vực phía Nam.
Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

Cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Theo số liệu mới được Bảo hiểm xã hội Việt Nam công bố, tính đến hết tháng 4/2026, cả nước có 21,73 triệu người tham gia bảo hiểm xã hội, tăng 182.000 người so với tháng 3/2026 và tăng 206.000 người so với năm 2025.
Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

Cơ hội sở hữu tài khoản số đẹp từ ưu đãi lớn nhất năm của VietinBank

(TBTCO) - Nhằm khẳng định dấu ấn cá nhân và uy tín vững vàng của quý khách, VietinBank chính thức triển khai chương trình "Ưu đãi chạm đỉnh - Rinh số phát tài". Lần đầu tiên, toàn bộ kho số tài khoản đẳng cấp, phong thủy được áp dụng chính sách trợ giá đặc biệt với mức giảm kỷ lục lên đến 80%, mở ra cơ hội sở hữu "tấm danh thiếp" tài lộc với chi phí tối ưu chưa từng có cho các cá nhân và hộ kinh doanh.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,450 15,750
Kim TT/AVPL 15,450 15,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,450 15,750
Nguyên Liệu 99.99 14,400 14,600
Nguyên Liệu 99.9 14,350 14,550
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,000 15,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 14,950 15,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 14,880 15,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 154,500 157,500
Hà Nội - PNJ 154,500 157,500
Đà Nẵng - PNJ 154,500 157,500
Miền Tây - PNJ 154,500 157,500
Tây Nguyên - PNJ 154,500 157,500
Đông Nam Bộ - PNJ 154,500 157,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,450 15,750
Miếng SJC Nghệ An 15,450 15,750
Miếng SJC Thái Bình 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,450 15,750
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,450 15,750
NL 99.90 14,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,100
Trang sức 99.9 14,940 15,640
Trang sức 99.99 14,950 15,650
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,545 15,752
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,545 15,753
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,543 1,573
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,543 1,574
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,523 1,558
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 147,757 154,257
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 108,112 117,012
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 97,205 106,105
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 86,298 95,198
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 8,209 9,099
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 56,225 65,125
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,545 1,575
Cập nhật: 29/05/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18204 18479 19055
CAD 18451 18728 19341
CHF 32696 33080 33724
CNY 0 3842 3934
EUR 29936 30209 31234
GBP 34453 34845 35779
HKD 0 3230 3432
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15196 15781
SGD 20034 20317 20838
THB 720 783 837
USD (1,2) 26060 0 0
USD (5,10,20) 26101 0 0
USD (50,100) 26130 26144 26393
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,123 26,123 26,393
USD(1-2-5) 25,079 - -
USD(10-20) 25,079 - -
EUR 30,109 30,133 31,438
JPY 160.85 161.14 170.12
GBP 34,719 34,813 35,866
AUD 18,440 18,507 19,123
CAD 18,685 18,745 19,353
CHF 33,064 33,167 33,992
SGD 20,193 20,256 20,964
CNY - 3,815 3,943
HKD 3,300 3,310 3,434
KRW 16.17 16.86 18.27
THB 769.62 779.13 830.62
NZD 15,191 15,332 15,721
SEK - 2,789 2,875
DKK - 4,029 4,154
NOK - 2,795 2,881
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,196.93 - 6,964.34
TWD 757.3 - 913.52
SAR - 6,909.35 7,246.42
KWD - 83,685 88,661
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,143 26,163 26,393
EUR 30,055 30,176 31,355
GBP 34,718 34,857 35,863
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,867 32,999 33,927
JPY 161.30 161.95 169.23
AUD 18,440 18,514 19,103
SGD 20,260 20,341 20,922
THB 787 790 825
CAD 18,686 18,761 19,326
NZD 15,304 15,838
KRW 16.80 18.43
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26171 26171 26393
AUD 18395 18495 19420
CAD 18635 18735 19749
CHF 32958 32988 34567
CNY 3822.4 3847.4 3982.7
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30127 30157 31882
GBP 34768 34818 36575
HKD 0 3355 0
JPY 161.62 162.12 172.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15310 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20196 20326 21054
THB 0 750.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15450000 15450000 15750000
SBJ 14000000 14000000 15750000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,158 26,208 26,393
USD20 26,158 26,208 26,393
USD1 23,881 26,208 26,393
AUD 18,464 18,564 19,799
EUR 30,291 30,291 31,725
CAD 18,609 18,709 20,025
SGD 20,288 20,438 21,012
JPY 161.99 163.49 170.2
GBP 34,698 35,048 35,943
XAU 15,768,000 0 16,072,000
CNY 0 3,734 0
THB 0 788 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 29/05/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80