Chi trả lương hưu theo mức mới nhanh nhất, kịp thời nhất tới người hưởng

Luyện Vũ
(TBTCO) - Với tinh thần chủ động chuẩn bị sẵn mọi nguồn lực chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng theo mức mới, ngay trong ngày đầu tiên Nghị định số 75/2024/NĐ-CP có hiệu lực thi hành (1/7/2024), toàn ngành Bảo hiểm xã hội đã tích cực triển khai công tác chi trả để người hưởng được nhận chế độ nhanh nhất, kịp thời nhất. Trong ngày 1/7, đã có 70% người hưởng được chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội theo mức mới.
aa
Bảng lương mới nhất của công chức, viên chức từ 1/7/2024 Quy định về 9 loại phụ cấp theo chế độ tiền lương mới từ ngày 1/7 Tiền lương mới của cán bộ, công chức, viên chức sẽ tăng bao nhiêu?

Hơn 3,3 triệu người được điều chỉnh tăng lương hưu, trợ cấp hằng tháng

Ngày 29/6/2024, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XV. Một trong những nội dung đáng chú ý của Nghị quyết là thống nhất điều chỉnh tăng 15% lương hưu, trợ cấp BHXH từ ngày 1/7/2024.

Chi trả lương hưu theo mức mới nhanh nhất, kịp thời nhất tới người hưởng
Chi trả lương hưu theo mức mới nhanh nhất, kịp thời nhất tới người hưởng. Ảnh minh họa

Theo Nghị quyết, từ ngày 1/7/2024, điều chỉnh tăng thêm 15% trên mức lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp hằng tháng của tháng 6/2024. Phạm vi áp dụng rộng lớn, bao gồm người đang hưởng lương hưu từ tham gia BHXH bắt buộc (khối nhà nước, tư nhân) và người tham gia BHXH tự nguyện.

Đồng thời, đối với người đang hưởng lương hưu trước năm 1995, sau khi điều chỉnh mà có mức hưởng thấp hơn 3,2 triệu đồng/tháng thì điều chỉnh tăng 0,3 triệu đồng/tháng, có mức hưởng từ 3,2 triệu đồng/tháng đến dưới 3,5 triệu đồng/tháng thì điều chỉnh bằng 3,5 triệu đồng/tháng.

Tại Điều 57 Luật BHXH hiện hành quy định: “Chính phủ quy định việc điều chỉnh lương hưu trên cơ sở mức tăng chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế phù hợp với ngân sách nhà nước và quỹ BHXH”.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2023, tăng trưởng kinh tế đạt 5,05% và chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng 3,25%. Năm 2024, tăng trưởng kinh tế đạt trên 6% và chỉ số giá tiêu dùng là dưới 4%.

Việc đề xuất điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng tăng với tỷ lệ 15% là mức tăng cao so với chỉ số giá tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế. Đây là mức tăng thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước đối với người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng, đảm bảo hợp lý, hài hòa, có sự chia sẻ giữa người đang đóng BHXH và người đang hưởng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng, giữa khu vực nhà nước và khu vực ngoài nhà nước, giữa các thế hệ tham gia và thụ hưởng chính sách.

Tỷ lệ tăng lần này đã được cơ quan chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan tính toán kỹ lưỡng đảm bảo khả năng cân đối Quỹ BHXH trong dài hạn. Ngoài lương hưu hằng tháng, người hưởng còn được cấp thẻ BHYT miễn phí trong suốt thời gian nghỉ hưu để được hưởng các quyền lợi khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe do Quỹ BHYT chi trả với mức hưởng là 95%.

Theo thống kê, với phạm vi áp dụng rộng lớn, ở lần chi trả mức hưởng mới theo Nghị định số 75, cả nước sẽ có hơn 3,3 triệu người được điều chỉnh tăng lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng. Trong đó có khoảng 200 nghìn người hưởng lương hưu, trợ cấp trước ngày 1/1/1995 tiếp tục được điều chỉnh mức hưởng theo số tiền tuyệt đối do ngân sách nhà nước chi trả.

Dự kiến, kinh phí tăng thêm để chi trả lương hưu, trợ cấp BHXH hằng tháng trong 6 tháng cuối năm 2024 từ ngân sách nhà nước khoảng 3.700 tỷ đồng và từ Quỹ BHXH là hơn 12.500 tỷ đồng. Tổng kinh phí dự kiến để tăng lương hưu, trợ cấp BHXH và trợ cấp BHXH hằng tháng 6 tháng cuối năm 2024 là hơn 16.200 tỷ đồng.

Người dân phấn khởi khi nhận lương hưu mới

Nhằm kịp thời nắm bắt tình hình và chỉ đạo BHXH các địa phương nhanh chóng triển khai công tác chi trả theo mức hưởng mới tới người hưởng, ngay trong chiều ngày 1/7, BHXH Việt Nam đã tổ chức các đoàn công tác do Tổng Giám đốc Nguyễn Thế Mạnh và Phó Tổng Giám đốc Trần Đình Liệu làm trưởng đoàn đến làm việc với BHXH TP. Hà Nội, BHXH TP. Hồ Chí Minh và trực tiếp xuống thăm hỏi tại nhà của một số người dân thụ hưởng chính sách trong đợt này.

Chi trả lương hưu theo mức mới nhanh nhất, kịp thời nhất tới người hưởng
Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thế Mạnh thăm hỏi, trao lương hưu tại nhà cho bà Lương Thị Hai.

Bà Lương Thị Hai (91 tuổi, phường Yết Kiêu, quận Hà Đông, TP. Hà Nội) không giấu được sự xúc động khi được Đảng, Nhà nước, Chính phủ quan tâm tăng lương hưu và được cơ quan BHXH Việt Nam trực tiếp xuống thăm hỏi, trao lương hưu tại nhà.

Trước đây, bà Hai công tác tại Nhà máy cơ khí nông nghiệp và nghỉ việc (vào tháng 4/1984) với số tiền hưởng BHXH khi đó là 290 đồng. Đến nay, qua nhiều lần được Nhà nước điều chỉnh tăng, số tiền hưởng của bà Hai là 4.813.100 đồng, tăng 627.800 đồng so với mức lương tháng 6/2024 (4.185.300 đồng). Do tuổi cao, sức khỏe yếu nên bà Hai được chi trả tiền hưu ngay tại nhà, mà không phải ra các điểm chi trả.

Đặc biệt, bên cạnh số tiền lương hưu ổn định hằng tháng, bà Hai còn được cấp thẻ BHYT miễn phí để chăm sóc sức khỏe khi ốm đau. Với căn bệnh đái tháo đường của mình, bà Hai thường xuyên sử dụng thẻ BHYT để đi khám chữa bệnh. Nhờ đó, bà Hai thêm an tâm tuổi già, mà không phải nhờ cậy vào con cháu.

Bà Lê Thị Chí (61 tuổi, phường Kiến Hưng, quận, Hà Đông, TP. Hà Nội) sau thời gian tham gia BHXH bắt buộc, đến khi nghỉ việc, bà tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện 5 năm 4 tháng (đóng 1 lần cho những năm còn thiếu) để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu vào tháng 7/2018.

Bày tỏ sự vui mừng, phần khởi khi nhận mức lương hưu mới lần này, bà Chí cho biết, ngay trong đầu giờ chiều nay (ngày 1/7) bà đã nhận lương hưu qua tài khoản ATM với số tiền là 2.344.400 đồng (tăng 305.800 đồng so với mức lương tháng 6/2024). Theo bà Chí, việc lĩnh chế độ qua tài khoản ngân hàng đã đem lại cho bà rất nhiều lợi ích, vừa nhanh, vừa an toàn, mà lại không phải mất thời gian đi đến các điểm chi trả.

Nói về việc tăng lương, bà Chí chia sẻ: “Cảm ơn Đảng và Nhà nước đã rất quan tâm đến những người nghỉ hưu như chúng tôi, dù là người tham gia BHXH bắt buộc hay BHXH tự nguyện thì đều được tăng lương hưu lần này. Ngoài tiền hưu hằng tháng, tôi còn được Nhà nước cấp thẻ BHYT miễn phí nên tuổi già có ốm đau, tôi cũng không phải lo lắng. Giờ tôi vẫn thường xuyên nhắc các con, các cháu của mình làm gì thì làm, nhưng lúc còn khỏe, cứ phải tham gia BHXH hằng tháng để khi về già có lương hưu và BHYT Nhà nước lo cho. Khi đó, mình yên tâm, không phải nghĩ ngợi gì”.

Tính đến 17 giờ chiều ngày 1/7, với tinh thần chuẩn bị từ sớm, tập trung mọi nguồn lực triển khai, toàn ngành BHXH Việt Nam đã thực hiện chi trả lương hưu và trợ cấp BHXH hằng tháng theo mức hưởng mới tới hơn 70% tổng số người hưởng. Trong đó, về cơ bản, người hưởng đăng ký nhận chế độ qua tài khoản cá nhân đã được chi trả theo mức hưởng mới; những người già yếu, không đi lại được được cơ quan BHXH chi trả trực tiếp tại nhà. Với quyết tâm để người thụ hưởng nhận chế độ nhanh nhất, kịp thời nhất, hiện ngành BHXH Việt Nam đang tiếp tục chi trả cho tất cả người hưởng theo quy định.
Luyện Vũ

Đọc thêm

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Kim TT/AVPL 16,870 ▲10K 17,170 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲100K 16,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲100K 16,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 ▲150K 17,100 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 ▲150K 17,050 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 ▲150K 17,030 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Hà Nội - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Miền Tây - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
NL 99.90 15,770 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▲100K
Trang sức 99.9 16,350 ▲60K 17,050 ▲60K
Trang sức 99.99 16,360 ▲60K 17,060 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,686 ▲1K 17,162 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,686 ▲1K 17,163 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,684 ▲1K 1,714 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,684 ▲1K 1,715 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,664 ▲1K 1,699 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,718 ▲99K 168,218 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,688 ▲75K 127,588 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,794 ▲68K 115,694 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,899 ▲61K 103,799 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,312 ▲59K 99,212 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,105 ▲41K 71,005 ▲41K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cập nhật: 27/03/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17619 17892 18472
CAD 18481 18758 19371
CHF 32426 32809 33445
CNY 0 3470 3830
EUR 29731 30003 31034
GBP 34300 34691 35622
HKD 0 3232 3434
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14884 15472
SGD 19939 20221 20737
THB 715 778 832
USD (1,2) 26071 0 0
USD (5,10,20) 26112 0 0
USD (50,100) 26140 26160 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17813 17913 18838
CAD 18658 18758 19774
CHF 32700 32730 34317
CNY 3749.5 3774.5 3909.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29931 29961 31686
GBP 34622 34672 36432
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14994 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20105 20235 20959
THB 0 745.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16760000 16760000 17060000
SBJ 15000000 15000000 17060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,355
USD20 26,168 26,218 26,355
USD1 23,845 26,218 26,355
AUD 17,826 17,926 19,043
EUR 30,081 30,081 31,508
CAD 18,611 18,711 20,029
SGD 20,187 20,337 21,307
JPY 162.03 163.53 168.18
GBP 34,530 34,880 36,008
XAU 16,848,000 0 17,152,000
CNY 0 3,660 0
THB 0 779 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80