Dòng tín dụng chảy đúng "mạch" tạo cú hích cho kinh tế chuyển mình

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tăng trưởng chỉ bền khi dòng tín dụng được nắn đúng "mạch", chảy hướng "lành" vào khu vực kinh tế thực, kinh tế xanh, thay vì đổ dồn vào các lĩnh vực rủi ro. Tuy nhiên, với tín dụng xanh, dù dư nợ tăng gấp 10 lần sau một thập kỷ song vẫn chiếm tỷ lệ khiêm tốn, do đó, dòng vốn này cần được tháo gỡ rào cản để thực sự thông dòng.
aa
Dòng tín dụng chảy đúng
Nhu cầu tín dụng xanh tại Việt Nam với các dự án tiết kiệm năng lượng, tái tạo năng lượng và công nghệ sạch ngày càng cao. Ảnh minh họa

Những năm gần đây, các ngân hàng thương mại không ngừng “xanh hóa" danh mục cho vay, khẳng định vai trò tiên phong thúc đẩy tăng trưởng bền vững và chuyển dịch sang mô hình kinh tế xanh.

Tín dụng xanh tăng 10 lần vẫn chưa “thấm”

Vietcombank giữ vai trò đầu tàu, chủ động định hướng dòng vốn vào các ngành nghề thân thiện với môi trường và phát triển bền vững, với dư nợ tín dụng xanh đạt 48.000 tỷ đồng cuối năm 2024, tăng trưởng 14% so với cuối năm 2023. Năm qua, Vietcombank đặt dấu mốc đầu tiên trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh thông qua đợt phát hành thành công 2.000 tỷ đồng tài trợ các dự án mang lại lợi ích về môi trường.

Dòng tín dụng chảy đúng "mạch" tạo cú hích cho kinh tế chuyển mình

Đề xuất mạnh tay ưu đãi thông dòng tín dụng xanh

"Ngân hàng Nhà nước có thể xây dựng, bổ sung quy định khuyến khích tổ chức tín dụng ưu tiên bố trí nguồn vốn để tài trợ, cho vay ưu đãi đối với dự án thuộc danh mục phân loại xanh như: không tính tín dụng xanh vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng của ngân hàng, áp dụng hệ số rủi ro thấp hơn đối với các khoản cấp tín dụng xanh khi tính hệ số an toàn vốn tối thiểu, giảm tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cụ thể, miễn trích lập dự phòng chung…". Ông Prasenjit Chakravarti, Giám đốc Khối chiến lược Ngân hàng Techcombank

Techcombank mở rộng quy mô tín dụng xanh lên mức kỷ lục, hơn 16.400 tỷ đồng năm 2024, tăng 18%, hướng đến mục tiêu 25.000 tỷ đồng năm 2025 và phân bổ vào các lĩnh vực như: giao thông bền vững, năng lượng sạch. Đồng thời, ghi dấu trở thành ngân hàng tư nhân đầu tiên xây dựng khung trái phiếu xanh theo chuẩn quốc tế. Đây là bước tiến quan trọng, giúp mở rộng quy mô huy động vốn xanh, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp giảm phát thải carbon và thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

ACB cũng không nằm ngoài cuộc chơi khi triển khai chương trình ưu đãi "Tín dụng xanh - Bật nhanh tăng trưởng", đưa nguồn vốn xanh đến gần hơn với doanh nghiệp. Đến hết năm 2024, ACB còn 273,3 tỷ đồng dư nợ tín dụng xanh, tập trung vào dự án xử lý chất thải, quản lý nước bền vững và năng lượng tái tạo.

Tuy nhiên, thống kê cho thấy tỷ trọng tín dụng xanh còn thấp, chưa đạt 5% tổng dư nợ toàn hệ thống, cùng thị trường trái phiếu xanh vẫn ở giai đoạn sơ khai. Theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước, số lượng tổ chức tín dụng tham gia tín dụng xanh tăng mạnh từ 5 đơn vị năm 2017 lên 50 tổ chức đến thời điểm này. Dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng ấn tượng, từ 71.000 tỷ đồng năm 2015 lên khoảng 680.000 tỷ đồng cuối năm 2024, gấp gần 10 lần sau một thập kỷ, song mới chiếm khoảng 4,3% tổng dư nợ.

Dù các ngân hàng tích cực định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực bền vững, dư nợ tín dụng xanh vẫn khiêm tốn. Tại Vietcombank, dư nợ tín dụng xanh mới chiếm khoảng 3,3% dư nợ cho vay cuối năm 2024; Techcombank là 2,6%; còn ACB mới "chớm nở" chưa đạt 0,01% dư nợ. Nhiều ngân hàng thậm chí chưa có dư nợ cho vay xanh. Điều này cho thấy dư địa còn rất lớn, nhưng cũng đặt ra thách thức không nhỏ trong lộ trình "xanh hóa" dòng vốn.

Thông dòng tín dụng xanh, mở đường huy động 368 tỷ USD

Chia sẻ gần đây, ông Thomas Jacobs - Giám đốc Quốc gia của Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC) tại Việt Nam, Campuchia và Lào cho biết, nhu cầu tài chính của Việt Nam thực hiện lộ trình phát thải ròng bằng 0 đến năm 2040 ước tính lên tới 368 tỷ USD.

Dù cần hàng tỷ USD nhưng tín dụng xanh chiếm chưa tới 5% tổng dư nợ, trong khi thị trường trái phiếu khí hậu chưa phát triển. Trước thực trạng này, đại diện IFC cho rằng, cần có các giải pháp đồng bộ như hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường năng lực ngân hàng và thúc đẩy công cụ tài chính sáng tạo như trái phiếu xanh dương.

Để gia tăng quy mô thị trường tài chính xanh và khơi thông dòng vốn xanh, ông Prasenjit Chakravarti - Giám đốc Khối chiến lược Ngân hàng Techcombank cho rằng, việc sớm ban hành danh mục xanh quốc gia là cần thiết để các ngân hàng có cơ sở xác định và cấp tín dụng cho các dự án xanh.

"Cần có hướng dẫn cụ thể về các nghiệp vụ tín dụng nào được và không được bao gồm trong tín dụng xanh, chẳng hạn như cho vay, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp, bảo lãnh, để các ngân hàng có cơ sở thực hiện một cách nhất quán" - đại diện Techcombank nhấn mạnh.

Tín dụng xanh đang từng bước hòa vào dòng chảy chung của tín dụng toàn hệ thống, góp phần vào đà tăng trưởng tích cực trong quý I/2025, khi tốc độ tăng trưởng tín dụng tăng 3,93% gấp 2,5 lần cùng kỳ theo số liệu từ Ngân hàng Nhà nước.

Tuy nhiên, tăng trưởng tín dụng không chỉ đòi hỏi nhanh mà cần đúng hướng. Để bước vào kỷ nguyên vươn mình với mục tiêu tăng trưởng GDP 8% bền vững, không chỉ tín dụng xanh, mà việc nắn dòng tín dụng chảy đúng "mạch", hướng đi "lành", vào các khu vực kinh tế thực, lĩnh vực sản xuất và các ngành trọng yếu khác. Đây là một bước đi quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

Đề xuất sửa đổi, bổ sung quy định về thu, đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước dự kiến sửa đổi Thông tư số 25/2013/TT-NHNN theo hướng phân cấp mạnh về Ngân hàng Nhà nước khu vực, tạo thuận lợi hơn khi đổi tiền không đủ tiêu chuẩn lưu thông. Đáng chú ý, dự thảo bổ sung căn cứ xét đổi đối với tiền polymer bị cháy, co biến dạng còn tối thiểu 30% diện tích.
Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 15/05/2026 04:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 04:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80