EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiếp đà tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 72% năm qua, EVNFinance đặt mục tiêu tăng thêm 36% lợi nhuận năm 2025, mở rộng tệp khách hàng, thúc đẩy tài chính xanh, tài chính số.
aa

Công ty Tài chính Cổ phần Điện Lực (EVNFinance - Mã ck: EVF) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 5/4 tại TP. Đà Nẵng.

Bức tranh kinh doanh khởi sắc

Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực (EVNFinance/Công ty) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/09/2008, với sứ mệnh và mục tiêu thu xếp vốn và quản lý nguồn vốn chuyên nghiệp cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Năm 2018, theo quy định của Chính phủ, EVN đã thoái vốn tại EVNFinance. Những năm gần đây, EVNFinance có những bước tiến mạnh mẽ trong việc mở rộng hệ sinh thái thúc đẩy tăng trưởng tài chính xanh và tài chính số.

Mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 36%, mở rộng khách hàng

Tại báo cáo thường niên vừa công bố, năm 2025, EVNFinance đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 36% so với năm 2024; đồng thời, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 2%, đảm bảo chất lượng tín dụng và an toàn hoạt động. Công ty cũng nỗ lực đa dạng hóa thu nhập, tăng cường nguồn thu ngoài tín dụng truyền thống, phấn đấu mở rộng tập khách hàng bán buôn và bán lẻ 15% - 35% so với năm 2024, tùy theo nhóm sản phẩm.

Năm 2025, công ty sẽ giữ lại lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ khoảng 459 tỷ đồng để phục vụ hoạt động kinh doanh, không chia cổ tức.

Về cơ cấu cổ đông, cổ đông trong nước nắm giữ đa số 99,3% cổ phần. Đầu năm 2025, EVNFinance công bố danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, với sự góp mặt của Công ty cổ phần Chứng khoán VIX khi nắm giữ hơn 31,61 triệu cổ phiếu EVF, tương đương tỷ lệ sở hữu 4,16%.

Cùng với đó, ông Nguyễn Văn Cảnh hiện sở hữu 16,23 triệu cổ phiếu EVF, chiếm tỷ lệ 4,62%.

EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng
Nguồn: EVNFinance.

Năm 2025, công ty cũng sẽ phát triển quan hệ với các nhà đầu tư chiến lược, tăng năng lực nguồn vốn, kiến thức chuyên môn, mạng lưới đối tác và chuyển giao công nghệ; đầy mạnh số hóa trên phạm vi toàn diện các hoạt động quản trị, điều hành, kinh doanh.

Chú trọng kiểm soát nợ xấu

Nhìn lại toàn cảnh bức tranh kinh doanh của EVNFinance, cuối năm 2024, tổng tài sản của công ty đạt 59.598 tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2023, mức tăng trưởng này chủ yếu đến từ tăng trưởng danh mục cho vay và danh mục đầu tư.

Tổng dư nợ cấp tín dụng của EVNFinance đạt 46.802,9 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch tăng trưởng tín dụng. Công ty triển khai đồng bộ các giải pháp để tối ưu hiệu quả cấp tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng với lãi suất phù hợp với thực tế huy động vốn.

Năm 2024, EVNFinance ghi nhận kết quả kinh doanh ấn tượng với nhiều điểm sáng và tiếp tục đẩy mạnh cho vay các dự án tín dụng xanh. Theo đó, dư nợ cho vay khách hàng vượt 46.800 tỷ đồng, tăng 39,5% so với đầu năm, trong khi tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh xuống dưới 0,8% từ mức 1,29%.

Tiền gửi khách hàng cũng tăng đột biến, đạt hơn 10.210 tỷ đồng, gấp 3,4 lần. Từ năm 2022 đến nay, EVNFinance cũng đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá như: kỳ phiếu, trái phiếu (dư nợ cuối năm 2024 là 1.725 tỷ đồng) và chứng chỉ tiền gửi (16.831 tỷ đồng).

EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng
EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng. Ảnh tư liệu.

Cũng trong năm 2024, thu nhập lãi thuần của EVNFinance đạt 1.444,3 tỷ đồng, gấp đôi cùng kỳ. Các mảng kinh doanh khác cũng ghi nhận thu nhập khả quan. Cụ thể, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 40 tỷ đồng, tăng gấp 12 lần cùng kỳ.

Bên cạnh đó, EVNFinance báo lãi hơn 15 tỷ đồng từ kinh doanh chứng khoán trong khi các năm trước không ghi nhận khoản này, với tổng giá trị chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán đạt 2.082 tỷ đồng, tăng 25%. Tuy nhiên, công ty lỗ gần 50 tỷ đồng vì mua bán chứng khoán đầu tư, trái ngược với khoản lãi đậm 316 tỷ đồng cùng kỳ.

Sau khi trừ đi các khoản chi phí, lợi nhuận trước thuế năm 2024 của EVNFinance đạt 703,7 tỷ đồng, vượt 20% kế hoạch năm và tăng 72% so với năm 2023.

Về chất lượng tài sản, quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3-5) năm 2024 của EVNFinance đạt 368 tỷ đồng, giảm 15% cùng kỳ. Trong đó, nợ nhóm 5 suy giảm gần 70% cùng kỳ, song nợ dưới tiêu chuẩn nhóm 3 và nợ nghi ngờ nhóm 4 tăng 13% và 33% cùng kỳ. Hơn nữa, nợ quá hạn, bao gồm nợ nhóm 2 và nợ xấu lại tăng 68% cùng kỳ, lên 1.186 tỷ đồng.

Dù dư nợ cho vay tăng mạnh nhưng quy mô nợ xấu sụt giảm nên tỷ lệ nợ xấu của EVNFinance cuối năm 2024 giảm còn là 0,72%, từ mức 1,08% năm 2023, hoàn thành mục tiêu kế hoạch đã đề ra; đồng thời thấp hơn rất mức dưới 3% theo định hướng chung của Ngân hàng Nhà nước những năm gần đây./.

Nợ xấu giảm nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro tín dụng

Liên quan đến chất lượng các khoản cho vay, báo cáo tài chính soát xét bán niên 2024 của EVNFinance đã được các kiểm toán viên của EY Việt Nam đưa ra một số lưu ý đối với người đọc về các yếu tố dẫn tới sự không chắc chắn về lợi ích kinh tế trong tương lai của các khoản mục này đã được chỉ ra. Đây là các vấn đề mà công ty cần lưu ý khi tiếp tục hoạt động và phát triển.

Đáng chú ý, chỉ vài ngày trước khi năm 2024 khép lại, EVNFinance bất ngờ thông báo chấm dứt hợp đồng kiểm toán năm 2024 với EY Việt Nam. Thay vào đó, công ty đã chọn Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C thực hiện kiểm toán năm tài chính 2024 và 2025. Đến cuối năm 2024, dư nợ cho vay khách hàng tăng thêm 5 nghìn tỷ đồng, song những điểm lưu ý trên không còn được đề cập tới.

Theo báo cáo bán niên, tổng dư nợ cho vay khách hàng của EVNFinance tính đến hết quý II/2024 là gần 38 nghìn tỷ đồng, tăng gần 4,4 nghìn tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, một số khoản cho vay ngắn hạn góp vốn vào các hợp đồng hợp tác kinh doanh để triển khai các dự án bất động sản dài hạn, với tài sản bảo đảm là quyền tài sản và tài sản hình thành trong tương lai, có giá trị trên 11 nghìn tỷ đồng (chiếm 30% tổng dư nợ).

Cùng với đó, các khoản cho vay được định giá độc lập bởi một công ty thẩm định giá trong nhiều năm, suốt trong thời gian dài gần 30 nghìn tỷ đồng (chiếm 73%).

Đáng chú ý, rủi ro tập trung tín dụng cũng được nhắc đến khi dư nợ các nhóm khách hàng cho vay hoặc có cùng người đại diện hoặc cùng tòa nhà làm việc lên tới 25 nghìn tỷ đồng (chiếm 66% tổng dư nợ cho vay). Ngoài ra, khoản cho vay liên quan đến các dự án bất động sản chưa triển khai xây dựng hơn 11,6 nghìn tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

Công bố danh sách 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải, nhiều tên tuổi “vắng bóng”

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa công bố 26 doanh nghiệp bảo hiểm có uy tín trong lĩnh vực hàng hải. Doanh nghiệp không còn đáp ứng một số tiêu chí theo báo cáo quý sẽ không được phát hành thư cam kết bảo lãnh theo quy định. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp đã phát sinh doanh thu từ nghiệp vụ này nhưng "vắng bóng" trong danh sách.
VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

VPBank mở rộng cầu nối tài chính cho dòng vốn Đài Loan (Trung Quốc) vào Việt Nam

(TBTCO) - Trong chu kỳ đầu tư mới tại Việt Nam, VPBank trở thành đối tác dài hạn của doanh nghiệp Đài Loan (Trung Quốc), với thế mạnh về năng lực phân tích thị trường, mạng lưới bản địa và giải pháp tài chính để đồng hành cùng các nhà đầu tư - từ gia nhập đến mở rộng hoạt động.
TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

TPBank tiếp sức dòng vốn, đồng hành cùng mục tiêu tăng trưởng

(TBTCO) - Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước về việc tập trung nguồn vốn cho sản xuất, kinh doanh, TPBank triển khai loạt chương trình ưu đãi lãi suất dành cho nhiều nhóm khách hàng, từ doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, xuất nhập khẩu, doanh nghiệp siêu nhỏ và nhỏ đến khách hàng có nhu cầu mua ô tô, bất động sản và tiêu dùng thế chấp. Với cách thiết kế ưu đãi theo từng mục đích và nhu cầu sử dụng vốn, TPBank hướng tới giúp khách hàng chủ động hơn về chi phí tài chính, dòng tiền và các kế hoạch tăng trưởng.
Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 24/8: Vàng thế giới duy trì trên ngưỡng 4.600 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giữ đà trên 4.600 USD/ounce, trong khi vàng trong nước đi ngang, vàng miếng duy trì mức bán ra 147,6 triệu đồng/lượng.
SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

SHB chính thức vào rổ chỉ số toàn cầu FTSE Global All Cap

(TBTCO) - Ngày 21/8, theo công bố của FTSE Russell, SHB là một trong 8 cổ phiếu ngành ngân hàng Việt Nam nằm trong FTSE Global All Cap - một cấu phần của FTSE Global Equity Index Series (GEIS). Đây là danh mục được công bố ngay trước thềm chứng khoán Việt Nam được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi thứ cấp.
Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

Những “cái bắt tay” hướng bancassurance vào chiều sâu

(TBTCO) - Những thỏa thuận mới giữa Shinhan Life Việt Nam - Nam A Bank, Hanwha Life Việt Nam - ABBank…, cùng xu hướng mở rộng các hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm cho thấy kênh phân phối bảo hiểm qua ngân hàng (bancassurance) vẫn còn nhiều dư địa. Những “cái bắt tay” mới đang đưa hoạt động hợp tác đi vào chiều sâu, với trọng tâm chuyển từ mở rộng doanh số sang nâng cao chất lượng tư vấn, trải nghiệm khách hàng và tính bền vững của hợp đồng.
Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

Đầu tư hạ tầng tăng tốc, quy định bảo hiểm công trình có gì mới?

(TBTCO) - Nghị định 220/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/2023/NĐ-CP về bảo hiểm bắt buộc trong hoạt động đầu tư xây dựng có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Những thay đổi mới về đối tượng phải mua bảo hiểm, số tiền bảo hiểm tối thiểu, nguyên tắc xác định phí và trách nhiệm của chủ đầu tư đang đặt ra yêu cầu doanh nghiệp cần chủ động hơn trong quản trị rủi ro công trình.
Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8: Lãi suất qua đêm lùi về 3% khi thanh khoản "dễ thở", tỷ giá USD vẫn “lệch pha”

(TBTCO) - Thị trường tiền tệ tuần 17 - 21/8 ghi nhận nhiều diễn biến đáng chú ý, khi Ngân hàng Nhà nước hút ròng 7.839 tỷ đồng qua OMO, doanh số vay liên ngân hàng vượt 900 nghìn tỷ đồng/phiên, nhưng lãi suất qua đêm lại lùi về 3,01%/năm. Điều này cho thấy thanh khoản ngắn hạn bớt căng, song “cơn khát” vốn trung dài hạn vẫn lớn. Trong khi đó, tỷ giá USD tuần qua tiếp tục diễn biến phân hóa.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Hà Nội - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đà Nẵng - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Miền Tây - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Tây Nguyên - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
Đông Nam Bộ - PNJ 146,800 ▲2800K 150,000 ▲2500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Nghệ An 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
Miếng SJC Thái Bình 14,700 ▲240K 15,000 ▲240K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,800 ▲340K 15,200 ▲390K
NL 99.99 14,150 ▲450K
Nhẫn Tròn Thái Bình 14,050 ▲450K
Trang sức 99.9 14,510 ▲390K 15,110 ▲390K
Trang sức 99.99 14,520 ▲390K 15,120 ▲390K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 147 ▼1299K 15,002 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 147 ▼1299K 15,003 ▲240K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,465 ▲24K 1,495 ▲24K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,465 ▲24K 1,496 ▲24K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,435 ▲24K 148 ▼1308K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 139,535 ▲2377K 146,535 ▲2377K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 101,361 ▲1800K 111,161 ▲1800K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 91 ▼89277K 1,008 ▼98160K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 80,639 ▲1464K 90,439 ▲1464K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,643 ▲1400K 86,443 ▲1400K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 52,072 ▲1001K 61,872 ▲1001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 147 ▼1299K 150 ▼1326K
Cập nhật: 24/08/2026 21:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18201 18477 19056
CAD 18376 18652 19272
CHF 31955 32336 32981
CNY 0 3840 3950
EUR 29891 30114 31197
GBP 34852 35246 36186
HKD 0 3209 3412
JPY 157 161 168
KRW 0 17 19
NZD 0 15292 15879
SGD 20055 20338 20908
THB 716 779 832
USD (1,2) 25907 0 0
USD (5,10,20) 25947 0 0
USD (50,100) 25976 25990 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,950 25,950 26,330
USD(1-2-5) 24,912 - -
USD(10-20) 24,912 - -
EUR 29,928 29,952 31,371
JPY 159.96 160.25 169.93
GBP 35,019 35,114 36,339
AUD 18,376 18,442 19,151
CAD 18,596 18,656 19,346
CHF 32,248 32,348 33,303
SGD 20,164 20,227 21,019
CNY - 3,813 3,959
HKD 3,267 3,277 3,414
KRW 17.46 18.21 19.81
THB 763.56 772.99 827.36
NZD 15,268 15,410 15,868
SEK - 2,712 2,808
DKK - 4,014 4,156
NOK - 2,757 2,862
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,044.92 - 6,824.23
TWD 742.72 - 899.2
SAR - 6,842.36 7,207.52
KWD - 82,924 88,232
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,920 25,950 26,330
EUR 29,964 30,084 31,283
GBP 35,036 35,177 36,215
HKD 3,267 3,280 3,397
CHF 32,071 32,200 33,141
JPY 160.36 161 168.96
AUD 18,395 18,469 19,066
SGD 20,233 20,314 20,913
THB 781 784 821
CAD 18,569 18,644 19,240
NZD 15,368 15,917
KRW 18.08 20.06
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25990 25990 26350
AUD 18396 18496 19421
CAD 18564 18664 19679
CHF 32202 32232 33823
CNY 3833.1 3858.1 3993.1
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 30072 30102 31827
GBP 35164 35214 36985
HKD 0 3330 0
JPY 160.85 161.35 171.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.3 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2760 0
NZD 0 15418 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2725 0
SGD 20218 20348 21071
THB 0 745.3 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14700000 14700000 15000000
SBJ 13000000 13000000 15000000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,985 26,035 26,370
USD20 25,935 26,035 26,830
USD1 25,885 26,035 26,880
AUD 18,432 18,532 19,640
EUR 29,860 29,960 31,619
CAD 18,505 18,605 19,908
SGD 20,288 20,438 21,693
JPY 161.32 162.82 168.37
GBP 35,055 35,205 36,530
XAU 14,598,000 0 14,902,000
CNY 0 3,740 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 24/08/2026 21:30
Ngân hàng