EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiếp đà tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 72% năm qua, EVNFinance đặt mục tiêu tăng thêm 36% lợi nhuận năm 2025, mở rộng tệp khách hàng, thúc đẩy tài chính xanh, tài chính số.
aa

Công ty Tài chính Cổ phần Điện Lực (EVNFinance - Mã ck: EVF) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 5/4 tại TP. Đà Nẵng.

Bức tranh kinh doanh khởi sắc

Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực (EVNFinance/Công ty) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/09/2008, với sứ mệnh và mục tiêu thu xếp vốn và quản lý nguồn vốn chuyên nghiệp cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Năm 2018, theo quy định của Chính phủ, EVN đã thoái vốn tại EVNFinance. Những năm gần đây, EVNFinance có những bước tiến mạnh mẽ trong việc mở rộng hệ sinh thái thúc đẩy tăng trưởng tài chính xanh và tài chính số.

Mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 36%, mở rộng khách hàng

Tại báo cáo thường niên vừa công bố, năm 2025, EVNFinance đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 36% so với năm 2024; đồng thời, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 2%, đảm bảo chất lượng tín dụng và an toàn hoạt động. Công ty cũng nỗ lực đa dạng hóa thu nhập, tăng cường nguồn thu ngoài tín dụng truyền thống, phấn đấu mở rộng tập khách hàng bán buôn và bán lẻ 15% - 35% so với năm 2024, tùy theo nhóm sản phẩm.

Năm 2025, công ty sẽ giữ lại lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ khoảng 459 tỷ đồng để phục vụ hoạt động kinh doanh, không chia cổ tức.

Về cơ cấu cổ đông, cổ đông trong nước nắm giữ đa số 99,3% cổ phần. Đầu năm 2025, EVNFinance công bố danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, với sự góp mặt của Công ty cổ phần Chứng khoán VIX khi nắm giữ hơn 31,61 triệu cổ phiếu EVF, tương đương tỷ lệ sở hữu 4,16%.

Cùng với đó, ông Nguyễn Văn Cảnh hiện sở hữu 16,23 triệu cổ phiếu EVF, chiếm tỷ lệ 4,62%.

EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng
Nguồn: EVNFinance.

Năm 2025, công ty cũng sẽ phát triển quan hệ với các nhà đầu tư chiến lược, tăng năng lực nguồn vốn, kiến thức chuyên môn, mạng lưới đối tác và chuyển giao công nghệ; đầy mạnh số hóa trên phạm vi toàn diện các hoạt động quản trị, điều hành, kinh doanh.

Chú trọng kiểm soát nợ xấu

Nhìn lại toàn cảnh bức tranh kinh doanh của EVNFinance, cuối năm 2024, tổng tài sản của công ty đạt 59.598 tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2023, mức tăng trưởng này chủ yếu đến từ tăng trưởng danh mục cho vay và danh mục đầu tư.

Tổng dư nợ cấp tín dụng của EVNFinance đạt 46.802,9 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch tăng trưởng tín dụng. Công ty triển khai đồng bộ các giải pháp để tối ưu hiệu quả cấp tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng với lãi suất phù hợp với thực tế huy động vốn.

Năm 2024, EVNFinance ghi nhận kết quả kinh doanh ấn tượng với nhiều điểm sáng và tiếp tục đẩy mạnh cho vay các dự án tín dụng xanh. Theo đó, dư nợ cho vay khách hàng vượt 46.800 tỷ đồng, tăng 39,5% so với đầu năm, trong khi tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh xuống dưới 0,8% từ mức 1,29%.

Tiền gửi khách hàng cũng tăng đột biến, đạt hơn 10.210 tỷ đồng, gấp 3,4 lần. Từ năm 2022 đến nay, EVNFinance cũng đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá như: kỳ phiếu, trái phiếu (dư nợ cuối năm 2024 là 1.725 tỷ đồng) và chứng chỉ tiền gửi (16.831 tỷ đồng).

EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng
EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng. Ảnh tư liệu.

Cũng trong năm 2024, thu nhập lãi thuần của EVNFinance đạt 1.444,3 tỷ đồng, gấp đôi cùng kỳ. Các mảng kinh doanh khác cũng ghi nhận thu nhập khả quan. Cụ thể, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 40 tỷ đồng, tăng gấp 12 lần cùng kỳ.

Bên cạnh đó, EVNFinance báo lãi hơn 15 tỷ đồng từ kinh doanh chứng khoán trong khi các năm trước không ghi nhận khoản này, với tổng giá trị chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán đạt 2.082 tỷ đồng, tăng 25%. Tuy nhiên, công ty lỗ gần 50 tỷ đồng vì mua bán chứng khoán đầu tư, trái ngược với khoản lãi đậm 316 tỷ đồng cùng kỳ.

Sau khi trừ đi các khoản chi phí, lợi nhuận trước thuế năm 2024 của EVNFinance đạt 703,7 tỷ đồng, vượt 20% kế hoạch năm và tăng 72% so với năm 2023.

Về chất lượng tài sản, quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3-5) năm 2024 của EVNFinance đạt 368 tỷ đồng, giảm 15% cùng kỳ. Trong đó, nợ nhóm 5 suy giảm gần 70% cùng kỳ, song nợ dưới tiêu chuẩn nhóm 3 và nợ nghi ngờ nhóm 4 tăng 13% và 33% cùng kỳ. Hơn nữa, nợ quá hạn, bao gồm nợ nhóm 2 và nợ xấu lại tăng 68% cùng kỳ, lên 1.186 tỷ đồng.

Dù dư nợ cho vay tăng mạnh nhưng quy mô nợ xấu sụt giảm nên tỷ lệ nợ xấu của EVNFinance cuối năm 2024 giảm còn là 0,72%, từ mức 1,08% năm 2023, hoàn thành mục tiêu kế hoạch đã đề ra; đồng thời thấp hơn rất mức dưới 3% theo định hướng chung của Ngân hàng Nhà nước những năm gần đây./.

Nợ xấu giảm nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro tín dụng

Liên quan đến chất lượng các khoản cho vay, báo cáo tài chính soát xét bán niên 2024 của EVNFinance đã được các kiểm toán viên của EY Việt Nam đưa ra một số lưu ý đối với người đọc về các yếu tố dẫn tới sự không chắc chắn về lợi ích kinh tế trong tương lai của các khoản mục này đã được chỉ ra. Đây là các vấn đề mà công ty cần lưu ý khi tiếp tục hoạt động và phát triển.

Đáng chú ý, chỉ vài ngày trước khi năm 2024 khép lại, EVNFinance bất ngờ thông báo chấm dứt hợp đồng kiểm toán năm 2024 với EY Việt Nam. Thay vào đó, công ty đã chọn Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C thực hiện kiểm toán năm tài chính 2024 và 2025. Đến cuối năm 2024, dư nợ cho vay khách hàng tăng thêm 5 nghìn tỷ đồng, song những điểm lưu ý trên không còn được đề cập tới.

Theo báo cáo bán niên, tổng dư nợ cho vay khách hàng của EVNFinance tính đến hết quý II/2024 là gần 38 nghìn tỷ đồng, tăng gần 4,4 nghìn tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, một số khoản cho vay ngắn hạn góp vốn vào các hợp đồng hợp tác kinh doanh để triển khai các dự án bất động sản dài hạn, với tài sản bảo đảm là quyền tài sản và tài sản hình thành trong tương lai, có giá trị trên 11 nghìn tỷ đồng (chiếm 30% tổng dư nợ).

Cùng với đó, các khoản cho vay được định giá độc lập bởi một công ty thẩm định giá trong nhiều năm, suốt trong thời gian dài gần 30 nghìn tỷ đồng (chiếm 73%).

Đáng chú ý, rủi ro tập trung tín dụng cũng được nhắc đến khi dư nợ các nhóm khách hàng cho vay hoặc có cùng người đại diện hoặc cùng tòa nhà làm việc lên tới 25 nghìn tỷ đồng (chiếm 66% tổng dư nợ cho vay). Ngoài ra, khoản cho vay liên quan đến các dự án bất động sản chưa triển khai xây dựng hơn 11,6 nghìn tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau 3 tháng “án binh”, nhóm "big 4" đồng loạt nâng lãi suất lên tới 1,2 điểm phần trăm

Sau hơn 3 tháng giữ nguyên lãi suất kỳ hạn dài 12 - 24 tháng, Vietcombank, VietinBank và BIDV vừa đồng loạt tăng mạnh 0,7 - 1,2 điểm phần trăm, lên 5,9%/năm và 6,5%/năm, trong khi Agribank vẫn giữ nguyên. So với đầu quý IV/2025, mức tăng đã lên tới 1,8 điểm phần trăm, tạo hiệu ứng đáng chú ý khi nhóm “big 4” nắm khoảng 50% thị phần huy động.
Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

Khách hàng may mắn “đón lộc” hơn 686 triệu đồng từ BIDV

(TBTCO) - Ngày 24/03/2026, tại Hà Tĩnh, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tổ chức lễ trao giải thưởng Đại Phát Lộc (Sổ tiết kiệm trị giá 686.868.686 đồng) đến khách hàng may mắn trong chương trình “Đón mùa lễ hội - Tiết kiệm bội quà”.
ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

ADB công bố gói hỗ trợ tài chính giúp giảm thiểu tác động từ xung đột Trung Đông

(TBTCO) - Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) ngày 24/3 đã công bố gói hỗ trợ tài chính nhằm giúp các quốc gia thành viên đang phát triển (DMC) giảm thiểu các tác động kinh tế và tài chính do xung đột ở Trung Đông gây ra.
OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

OCB phấn đấu tăng lợi nhuận 39%, nâng vốn điều lệ vượt 30.000 tỷ đồng

Năm 2026, OCB đặt nhiều mục tiêu chiến lược, nổi bật là lợi nhuận trước thuế đạt 6.960 tỷ đồng (tăng 39%); tổng tài sản 354.214 tỷ đồng (tăng 10%). Ngân hàng dự kiến nâng vốn điều lệ lên 30.625 tỷ đồng nhằm mở rộng quy mô, tăng năng lực cạnh tranh; đồng thời, kiện toàn Hội đồng quản trị phục vụ giai đoạn tăng trưởng mới.
Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

Eximbank khai trương trụ sở chính tại Hà Nội, đánh dấu bước chuyển mình trong chiến lược phát triển

(TBTCO) - Ngày 24/3/2026, Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank) chính thức khai trương trụ sở chính tại tòa nhà số 27 - 29 Lý Thái Tổ, phường Hoàn Kiếm, Hà Nội. Việc đặt trụ sở tại Thủ đô là bước triển khai quan trọng trong định hướng phát triển của ngân hàng đã được thông qua tại Đại hội đồng cổ đông năm 2025.
Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Sau cú tăng tới 300 điểm cơ bản, VDSC chỉ ra yếu tố giúp lãi suất huy động cân bằng

Báo cáo VDSC cho thấy năm 2026, ngành ngân hàng đón cả những cơ hội, lẫn những ràng buộc mang tính cấu trúc khác biệt. Trong ngắn hạn, áp lực thanh khoản là thách thức lớn khi lãi suất huy động đã tăng 100 - 300 điểm cơ bản, nhưng huy động vốn chỉ tăng 0,8%. VDSC dự đoán, lãi suất huy động tiếp tục tăng khi tỷ lệ LDR, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn được kiểm soát tốt hơn.
Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

Ngân hàng Đầu tư châu Âu công bố khoản tín dụng 200 triệu EUR cho các dự án khí hậu tại Việt Nam

(TBTCO) - Ngày 24/3, tại Hà Nội, Ngân hàng Đầu tư châu Âu (EIB) và Ngân hàng thương mại cổ phần kỹ thương Việt Nam (Techcombank) đã công bố thỏa thuận tài trợ trị giá 200 triệu EUR nhằm đẩy nhanh các dự án hành động vì khí hậu, môi trường và phát triển bền vững trên khắp Việt Nam.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Kim TT/AVPL 16,860 ▼200K 17,160 ▼200K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,850 ▼200K 17,150 ▼200K
Nguyên Liệu 99.99 15,850 ▼500K 16,050 ▼500K
Nguyên Liệu 99.9 15,800 ▼500K 16,000 ▼500K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 ▼300K 17,000 ▼300K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 ▼300K 16,950 ▼300K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 ▼300K 16,930 ▼300K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Hà Nội - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đà Nẵng - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Miền Tây - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Tây Nguyên - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,500 ▼2000K 171,500 ▼2000K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Nghệ An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
Miếng SJC Thái Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,800 ▼250K 17,100 ▼250K
NL 99.90 15,820 ▼450K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,850 ▼450K
Trang sức 99.9 16,290 ▼250K 16,990 ▼250K
Trang sức 99.99 16,300 ▼250K 17,000 ▼250K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,685 ▼20K 17,152 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,685 ▼20K 17,153 ▼200K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,683 ▼20K 1,713 ▼20K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,683 ▼20K 1,714 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,663 ▼20K 1,698 ▼20K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,619 ▼1980K 168,119 ▼1980K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,613 ▼1500K 127,513 ▼1500K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,726 ▼1360K 115,626 ▼1360K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,838 ▼1220K 103,738 ▼1220K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,253 ▼1166K 99,153 ▼1166K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,064 ▼834K 70,964 ▼834K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,685 ▼20K 1,715 ▼20K
Cập nhật: 26/03/2026 15:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17759 18032 18608
CAD 18520 18797 19414
CHF 32574 32958 33606
CNY 0 3470 3830
EUR 29812 30085 31113
GBP 34375 34766 35700
HKD 0 3240 3442
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14937 15524
SGD 19997 20279 20797
THB 718 781 836
USD (1,2) 26080 0 0
USD (5,10,20) 26121 0 0
USD (50,100) 26149 26169 26357
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,137 26,137 26,357
USD(1-2-5) 25,092 - -
USD(10-20) 25,092 - -
EUR 29,921 29,945 31,186
JPY 160.54 160.83 169.53
GBP 34,535 34,628 35,609
AUD 17,934 17,999 18,566
CAD 18,694 18,754 19,327
CHF 32,838 32,940 33,708
SGD 20,114 20,177 20,847
CNY - 3,780 3,897
HKD 3,300 3,310 3,428
KRW 16.12 16.81 18.18
THB 765.32 774.77 825.43
NZD 14,937 15,076 15,430
SEK - 2,766 2,847
DKK - 4,004 4,120
NOK - 2,670 2,748
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,189.53 - 6,948.24
TWD 743.56 - 894.69
SAR - 6,897.55 7,220.87
KWD - 83,576 88,380
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,107 26,137 26,357
EUR 29,877 29,997 31,173
GBP 34,551 34,690 35,694
HKD 3,300 3,313 3,428
CHF 32,676 32,807 33,723
JPY 161.21 161.86 169.12
AUD 17,923 17,995 18,581
SGD 20,190 20,271 20,850
THB 783 786 821
CAD 18,705 18,780 19,347
NZD 15,025 15,555
KRW 16.77 18.40
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26357
AUD 17917 18017 18943
CAD 18692 18792 19809
CHF 32837 32867 34454
CNY 3753.6 3778.6 3914.1
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29990 30020 31748
GBP 34660 34710 36473
HKD 0 3355 0
JPY 161.6 162.1 172.64
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15065 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20154 20284 21006
THB 0 748.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17050000 17050000 17350000
SBJ 15000000 15000000 17350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,167 26,217 26,357
USD20 26,167 26,217 26,357
USD1 23,847 26,217 26,357
AUD 17,973 18,073 19,192
EUR 30,143 30,143 31,577
CAD 18,652 18,752 20,073
SGD 20,242 20,392 20,971
JPY 162.11 163.61 168.28
GBP 34,570 34,920 36,015
XAU 17,048,000 0 17,352,000
CNY 0 3,666 0
THB 0 783 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/03/2026 15:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80