EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tiếp đà tăng trưởng lợi nhuận ấn tượng 72% năm qua, EVNFinance đặt mục tiêu tăng thêm 36% lợi nhuận năm 2025, mở rộng tệp khách hàng, thúc đẩy tài chính xanh, tài chính số.
aa

Công ty Tài chính Cổ phần Điện Lực (EVNFinance - Mã ck: EVF) dự kiến tổ chức họp Đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2025 ngày 5/4 tại TP. Đà Nẵng.

Bức tranh kinh doanh khởi sắc

Công ty Tài chính Cổ phần Điện lực (EVNFinance/Công ty) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/09/2008, với sứ mệnh và mục tiêu thu xếp vốn và quản lý nguồn vốn chuyên nghiệp cho Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN). Năm 2018, theo quy định của Chính phủ, EVN đã thoái vốn tại EVNFinance. Những năm gần đây, EVNFinance có những bước tiến mạnh mẽ trong việc mở rộng hệ sinh thái thúc đẩy tăng trưởng tài chính xanh và tài chính số.

Mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 36%, mở rộng khách hàng

Tại báo cáo thường niên vừa công bố, năm 2025, EVNFinance đặt mục tiêu tăng trưởng lợi nhuận 36% so với năm 2024; đồng thời, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu dưới 2%, đảm bảo chất lượng tín dụng và an toàn hoạt động. Công ty cũng nỗ lực đa dạng hóa thu nhập, tăng cường nguồn thu ngoài tín dụng truyền thống, phấn đấu mở rộng tập khách hàng bán buôn và bán lẻ 15% - 35% so với năm 2024, tùy theo nhóm sản phẩm.

Năm 2025, công ty sẽ giữ lại lợi nhuận còn lại sau khi trích lập các quỹ khoảng 459 tỷ đồng để phục vụ hoạt động kinh doanh, không chia cổ tức.

Về cơ cấu cổ đông, cổ đông trong nước nắm giữ đa số 99,3% cổ phần. Đầu năm 2025, EVNFinance công bố danh sách cổ đông sở hữu từ 1% vốn điều lệ trở lên, với sự góp mặt của Công ty cổ phần Chứng khoán VIX khi nắm giữ hơn 31,61 triệu cổ phiếu EVF, tương đương tỷ lệ sở hữu 4,16%.

Cùng với đó, ông Nguyễn Văn Cảnh hiện sở hữu 16,23 triệu cổ phiếu EVF, chiếm tỷ lệ 4,62%.

EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng
Nguồn: EVNFinance.

Năm 2025, công ty cũng sẽ phát triển quan hệ với các nhà đầu tư chiến lược, tăng năng lực nguồn vốn, kiến thức chuyên môn, mạng lưới đối tác và chuyển giao công nghệ; đầy mạnh số hóa trên phạm vi toàn diện các hoạt động quản trị, điều hành, kinh doanh.

Chú trọng kiểm soát nợ xấu

Nhìn lại toàn cảnh bức tranh kinh doanh của EVNFinance, cuối năm 2024, tổng tài sản của công ty đạt 59.598 tỷ đồng, tăng 21% so với năm 2023, mức tăng trưởng này chủ yếu đến từ tăng trưởng danh mục cho vay và danh mục đầu tư.

Tổng dư nợ cấp tín dụng của EVNFinance đạt 46.802,9 tỷ đồng, hoàn thành kế hoạch tăng trưởng tín dụng. Công ty triển khai đồng bộ các giải pháp để tối ưu hiệu quả cấp tín dụng, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân tiếp cận được nguồn vốn tín dụng với lãi suất phù hợp với thực tế huy động vốn.

Năm 2024, EVNFinance ghi nhận kết quả kinh doanh ấn tượng với nhiều điểm sáng và tiếp tục đẩy mạnh cho vay các dự án tín dụng xanh. Theo đó, dư nợ cho vay khách hàng vượt 46.800 tỷ đồng, tăng 39,5% so với đầu năm, trong khi tỷ lệ nợ xấu giảm mạnh xuống dưới 0,8% từ mức 1,29%.

Tiền gửi khách hàng cũng tăng đột biến, đạt hơn 10.210 tỷ đồng, gấp 3,4 lần. Từ năm 2022 đến nay, EVNFinance cũng đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá như: kỳ phiếu, trái phiếu (dư nợ cuối năm 2024 là 1.725 tỷ đồng) và chứng chỉ tiền gửi (16.831 tỷ đồng).

EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng
EVNFinance đặt mục tiêu lợi nhuận tăng vọt 36%, kiểm soát rủi ro tín dụng. Ảnh tư liệu.

Cũng trong năm 2024, thu nhập lãi thuần của EVNFinance đạt 1.444,3 tỷ đồng, gấp đôi cùng kỳ. Các mảng kinh doanh khác cũng ghi nhận thu nhập khả quan. Cụ thể, lãi thuần từ hoạt động dịch vụ đạt hơn 40 tỷ đồng, tăng gấp 12 lần cùng kỳ.

Bên cạnh đó, EVNFinance báo lãi hơn 15 tỷ đồng từ kinh doanh chứng khoán trong khi các năm trước không ghi nhận khoản này, với tổng giá trị chứng khoán đầu tư sẵn sàng để bán đạt 2.082 tỷ đồng, tăng 25%. Tuy nhiên, công ty lỗ gần 50 tỷ đồng vì mua bán chứng khoán đầu tư, trái ngược với khoản lãi đậm 316 tỷ đồng cùng kỳ.

Sau khi trừ đi các khoản chi phí, lợi nhuận trước thuế năm 2024 của EVNFinance đạt 703,7 tỷ đồng, vượt 20% kế hoạch năm và tăng 72% so với năm 2023.

Về chất lượng tài sản, quy mô nợ xấu (nợ nhóm 3-5) năm 2024 của EVNFinance đạt 368 tỷ đồng, giảm 15% cùng kỳ. Trong đó, nợ nhóm 5 suy giảm gần 70% cùng kỳ, song nợ dưới tiêu chuẩn nhóm 3 và nợ nghi ngờ nhóm 4 tăng 13% và 33% cùng kỳ. Hơn nữa, nợ quá hạn, bao gồm nợ nhóm 2 và nợ xấu lại tăng 68% cùng kỳ, lên 1.186 tỷ đồng.

Dù dư nợ cho vay tăng mạnh nhưng quy mô nợ xấu sụt giảm nên tỷ lệ nợ xấu của EVNFinance cuối năm 2024 giảm còn là 0,72%, từ mức 1,08% năm 2023, hoàn thành mục tiêu kế hoạch đã đề ra; đồng thời thấp hơn rất mức dưới 3% theo định hướng chung của Ngân hàng Nhà nước những năm gần đây./.

Nợ xấu giảm nhưng vẫn tiềm ẩn rủi ro tín dụng

Liên quan đến chất lượng các khoản cho vay, báo cáo tài chính soát xét bán niên 2024 của EVNFinance đã được các kiểm toán viên của EY Việt Nam đưa ra một số lưu ý đối với người đọc về các yếu tố dẫn tới sự không chắc chắn về lợi ích kinh tế trong tương lai của các khoản mục này đã được chỉ ra. Đây là các vấn đề mà công ty cần lưu ý khi tiếp tục hoạt động và phát triển.

Đáng chú ý, chỉ vài ngày trước khi năm 2024 khép lại, EVNFinance bất ngờ thông báo chấm dứt hợp đồng kiểm toán năm 2024 với EY Việt Nam. Thay vào đó, công ty đã chọn Công ty TNHH Kiểm toán và Tư vấn A&C thực hiện kiểm toán năm tài chính 2024 và 2025. Đến cuối năm 2024, dư nợ cho vay khách hàng tăng thêm 5 nghìn tỷ đồng, song những điểm lưu ý trên không còn được đề cập tới.

Theo báo cáo bán niên, tổng dư nợ cho vay khách hàng của EVNFinance tính đến hết quý II/2024 là gần 38 nghìn tỷ đồng, tăng gần 4,4 nghìn tỷ đồng so với đầu năm. Trong đó, một số khoản cho vay ngắn hạn góp vốn vào các hợp đồng hợp tác kinh doanh để triển khai các dự án bất động sản dài hạn, với tài sản bảo đảm là quyền tài sản và tài sản hình thành trong tương lai, có giá trị trên 11 nghìn tỷ đồng (chiếm 30% tổng dư nợ).

Cùng với đó, các khoản cho vay được định giá độc lập bởi một công ty thẩm định giá trong nhiều năm, suốt trong thời gian dài gần 30 nghìn tỷ đồng (chiếm 73%).

Đáng chú ý, rủi ro tập trung tín dụng cũng được nhắc đến khi dư nợ các nhóm khách hàng cho vay hoặc có cùng người đại diện hoặc cùng tòa nhà làm việc lên tới 25 nghìn tỷ đồng (chiếm 66% tổng dư nợ cho vay). Ngoài ra, khoản cho vay liên quan đến các dự án bất động sản chưa triển khai xây dựng hơn 11,6 nghìn tỷ đồng./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

Hòa Phát sản xuất 7 triệu tấn thép trong nửa đầu năm 2026, tăng 36% so với cùng kỳ 2025

(TBTCO) - Quý 2/2026, Tập đoàn Hòa Phát sản xuất hơn 3,6 triệu tấn thép thô (phôi thép), tăng 48% so với quý 2/2025 và tăng 9% so với quý 1/2026. Sản lượng bán hàng các sản phẩm thép xây dựng, thép cuộn chất lượng cao, thép cuộn cán nóng và phôi thép đạt 3,5 triệu tấn, tăng 35% so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

Tỷ giá USD hôm nay (9/7): Tỷ giá trung tâm tăng, DXY giữ trên 101 điểm nhờ kỳ vọng Fed tăng lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Sáng 9/7, Ngân hàng Nhà nước công bố tỷ giá trung tâm ở mức 25.211 đồng, tăng 5 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY giảm 0,07% nhưng vẫn duy trì trên 101 điểm. Dù kỳ vọng Fed tiếp tục tăng lãi suất đã giảm, thị trường vẫn dự báo Fed sẽ tăng thêm ít nhất 25 điểm cơ bản trong 6 tháng tới, đặc biệt khi căng thẳng địa chính trị tại Trung Đông lại gia tăng.
Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

Mở thêm thẻ, thêm ưu đãi cho chủ thẻ tín dụng BAC A BANK Mastercard

(TBTCO) - Nhằm khuyến khích chủ thẻ tín dụng quốc tế BAC A BANK gia tăng trải nghiệm, khai thác tối đa ưu đãi chi tiêu và lan tỏa lợi ích thiết thực khi thường xuyên sử dụng thẻ, BAC A BANK triển khai ưu đãi phí thường niên dành cho chủ thẻ tín dụng khi phát hành thẻ chính thứ hai và thẻ phụ.
Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới hỗ trợ 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân tai nạn giao thông tại Thanh Hóa

(TBTCO) - Tại UBND phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa, Quỹ Bảo hiểm xe cơ giới - Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam vừa phối hợp với các đơn vị liên quan trao hỗ trợ nhân đạo số tiền 45 triệu đồng cho gia đình nạn nhân Cao Xuân Lực, trú tại TDP Sơn Hải, phường Hải Lĩnh, tỉnh Thanh Hóa.
Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

Doanh nghiệp không thiếu công cụ tài chính để giải "bài toán xanh"

(TBTCO) - Tín dụng xanh còn nhiều dư địa phát triển khi mới chiếm 4,3% tổng dư nợ nền kinh tế. Theo đại diện HSBC Việt Nam, trước bài toán xanh, doanh nghiệp có thể tiếp cận đa dạng công cụ tài chính để "xanh hóa" hoạt động thường nhật, thay vì phải chờ một dự án lớn hoặc một khoản vay dài hạn mới có thể tiếp cận nguồn vốn.
Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Thông tư số 96/2026/TT-BTC sửa nhiều quy định về hoa hồng đại lý, cơ sở tính phí nhiều loại bảo hiểm

Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 96/2026/TT-BTC, sửa đổi nhiều quy định về kinh doanh bảo hiểm. Điểm đáng chú ý là quy định mới về hoa hồng đại lý với bảo hiểm liên kết đầu tư và bảo hiểm hưu trí; cơ chế thưởng, hỗ trợ đại lý từ năm 2027; bổ sung nguyên tắc xác định phí bảo hiểm với xe điện, xe sử dụng năng lượng sạch...
Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 8/7: Vàng thế giới giảm còn 4.102 USD/ounce, vàng trong nước lùi về 150 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm về 4.102 USD/ounce, mất gần 50 USD/ounce. Trong nước, nhiều doanh nghiệp tiếp tục điều chỉnh giảm giá vàng, đưa giá bán vàng miếng về 150 triệu đồng/lượng.
BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

BIDV sắp chốt ngày trả cổ tức tiền mặt tỷ lệ 4,5%, còn hơn 51.000 tỷ đồng "của để dành"

(TBTCO) - BIDV dự kiến chi hơn 3.276 tỷ đồng trả cổ tức tiền mặt năm 2025 với tỷ lệ 4,5%, tương ứng 450 đồng/cổ phiếu. Tính đến cuối quý I/2026, lợi nhuận sau thuế chưa phân phối lũy kế của ngân hàng đạt 51.588 tỷ đồng. Song song với đó, BIDV triển khai các kế hoạch tăng vốn, hướng tới quy mô vốn điều lệ vượt 100.000 tỷ đồng.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Kim TT/AVPL 14,450 ▼100K 14,850
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,450 ▼100K 14,850
Nguyên Liệu 99.99 13,400 ▲100K 13,600 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,350 ▲100K 13,550 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,900 ▲200K 14,400 ▲200K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,850 ▲200K 14,350 ▲200K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,780 ▲200K 14,330 ▲200K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Hà Nội - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Đà Nẵng - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Miền Tây - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Tây Nguyên - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
Đông Nam Bộ - PNJ 145,000 ▼200K 148,500 ▲300K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Miếng SJC Nghệ An 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
Miếng SJC Thái Bình 14,600 ▲50K 14,900 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,550 ▲50K 14,850 ▲50K
NL 99.90 12,950 ▼100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 13,000 ▼100K
Trang sức 99.9 14,040 ▲50K 14,740 ▲50K
Trang sức 99.99 14,050 ▲50K 14,750 ▲50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 146 ▼1309K 14,902 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 146 ▼1309K 14,903 ▲50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,457 ▲5K 1,487 ▲5K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,457 ▲5K 1,488 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,432 ▲5K 1,467 ▲5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,248 ▲496K 145,248 ▲496K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,386 ▲375K 110,186 ▲375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,116 ▲340K 99,916 ▲340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,846 ▲305K 89,646 ▲305K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,885 ▲292K 85,685 ▲292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,153 ▼46168K 6,133 ▼54988K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 146 ▼1309K 149 ▼1336K
Cập nhật: 09/07/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17701 17974 18550
CAD 18004 18279 18896
CHF 31919 32300 32935
CNY 0 3829 3922
EUR 29411 29632 30709
GBP 34459 34850 35795
HKD 0 3224 3426
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14759 15347
SGD 19793 20075 20646
THB 702 765 818
USD (1,2) 26027 0 0
USD (5,10,20) 26068 0 0
USD (50,100) 26097 26111 26471
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,111 26,111 26,471
USD(1-2-5) 25,067 - -
USD(10-20) 25,067 - -
EUR 29,548 29,572 30,956
JPY 157.53 157.81 167.22
GBP 34,646 34,740 35,909
AUD 17,902 17,967 18,628
CAD 18,193 18,251 18,908
CHF 32,196 32,296 33,229
SGD 19,923 19,985 20,748
CNY - 3,797 3,939
HKD 3,288 3,298 3,433
KRW 16.03 16.72 18.17
THB 749.96 759.22 812.4
NZD 14,753 14,890 15,318
SEK - 2,672 2,764
DKK - 3,952 4,089
NOK - 2,646 2,737
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,030.46 - 6,803.75
TWD 737.66 - 892.87
SAR - 6,885.26 7,246.01
KWD - 83,171 88,419
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,091 26,111 26,471
EUR 29,492 29,610 30,802
GBP 34,611 34,750 35,781
HKD 3,287 3,300 3,417
CHF 32,021 32,150 33,083
JPY 157.84 158.47 166.37
AUD 17,888 17,960 18,554
SGD 19,990 20,070 20,658
THB 766 769 805
CAD 18,238 18,311 18,884
NZD 14,814 15,355
KRW 16.76 18.54
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26095 26095 26471
AUD 17893 17993 18919
CAD 18212 18312 19325
CHF 32204 32234 33808
CNY 3809 3834 3969.2
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29616 29646 31371
GBP 34754 34804 36562
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.47
KHR 0 6.097 0
KRW 0 16.9 0
LAK 0 1.167 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 14862 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19964 20094 20821
THB 0 731.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,126 26,176 26,471
USD20 26,126 26,176 26,471
USD1 26,126 26,176 26,471
AUD 17,944 18,044 19,149
EUR 29,419 29,519 31,178
CAD 18,161 18,261 19,568
SGD 20,047 20,197 20,755
JPY 158.96 160.46 166
GBP 34,663 34,813 35,875
XAU 14,548,000 0 14,902,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 767 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/07/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80