Giảm lãi suất hỗ trợ khó khăn do Covid-19: Chưa thể ảnh hưởng rộng lên mặt bằng lãi suất

Chí Tín
(TBTCVN) - Trong nội dung văn bản của Ngân hàng Nhà nước về việc tháo gỡ khó khăn do Covid-19 gần đây có nội dung đề nghị các ngân hàng giảm lãi vay, nhưng việc này có thể chưa đủ gây ảnh hưởng giảm lãi suất trên diện rộng.
aa

nh

Xu hướng lãi suất giai đoạn đầu năm có chiều hướng giảm đôi chút, nhưng không nhiều

Lãi suất khó tiếp tục giảm them

Theo văn bản của Ngân hàng Nhà nước, từng tổ chức tín dụng căn cứ năng lực, khả năng tài chính của mình để tính toán thực hiện giảm lãi suất cho vay và các biện pháp hỗ trợ khác.

Tuy nhiên, theo một số nhà quan sát, việc giảm lãi suất sẽ có sự chọn lọc nên ảnh hưởng chỉ giới hạn trong một số đối tượng nhất định được hưởng chính sách ưu đãi. Theo đó, sức ép tạo giảm lãi suất trong thời gian tới có thể sẽ không lớn.

Trao đổi với phóng viên TBTCVN mới đây, ông Lê Thành Hòa - Chuyên viên phân tích thuộc Công ty cổ phần Chứng khoán Bảo Việt (BVSC) cho biết, nhìn lại xu hướng lãi suất giai đoạn đầu năm có thể thấy có chiều hướng giảm đôi chút, nhưng không nhiều.

Liên quan đến lãi suất đầu vào, hiện nay chưa có bất cứ yếu tố gì khiến các ngân hàng phải giảm lãi suất đầu vào. Ông Hòa cho biết, với quy mô trong phạm vi một số đối tượng chọn lọc, các ngân hàng thương mại hoàn toàn có thể tự điều phối chi phí để vẫn giữ mặt bằng lãi suất đầu vào không giảm thêm nữa.

Quan sát động thái lãi suất huy động thời gian gần đây có thể thấy nhóm Big4 (4 ngân hàng thương mại lớn gồm VietinBank, Vietcombank, BIDV và Agribank) đều vẫn “im hơi lặng tiếng” chưa hề có sự nhúc nhích gì về lãi suất huy động. Trong khi đó, một số ngân hàng thương mại nhỏ thậm chí có còn có động thái nhúc nhích tăng lãi suất huy động, nhưng cũng chỉ mang tính đơn lẻ, chưa thành một trào lưu trên diện rộng.

Việc tăng nhẹ lãi suất đầu vào lác đác ở một số ngân hàng nhỏ do nhu cầu của từng ngân hàng để thu hút lại dòng tiền khi lượng tiền đổ vào thị trường thị trường chứng khoán thời gian gần đây vẫn khá lớn. Giá trị giao dịch cổ phiếu bình quân tại Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh trong vòng 1 tuần qua vẫn duy trì mở mức khoảng 24 đến 28 nghìn tỷ đồng.

Áp lực “ngược” về trung hạn

Bối cảnh lãi suất ngắn hạn là vậy, trong khi đó, sức ép lãi suất về trung hạn thậm chí có thể còn tăng do nhiều lý do khác nhau. TS. Châu Đình Linh thuộc Học viện Ngân hàng TP. Hồ Chí Minh cho biết, những áp lực khiến lãi suất gia tăng cũng đang manh nha xuất hiện (có thể hiểu là đốm lửa nhỏ) và những tác động bên ngoài cũng dần trở thành tác nhân (lạm phát, tăng trưởng tín dụng cuối năm, cạnh tranh dòng tiền với thị trường chứng khoán...).

Ngoài ra, theo dự đoán của ông Hòa, khi dịch bệnh đẩy lùi, các hoạt động kinh doanh phục hồi trở lại dẫn đến nhu cầu vay vốn tăng cùng có thể là yếu tố khiến lãi suất có thể tăng trở lại vào cuối năm.

Bản thân các ngân hàng cũng mong mỏi thời cơ nhu cầu vay tăng trở lại để đẩy mạnh tín dụng nhằm tối ưu mục tiêu tăng trưởng tín dụng của toàn ngành Ngân hàng trong năm 2021.

Năm 2021, Ngân hàng Nhà nước đưa ra 3 kịch bản tăng trưởng tín dụng, trong đó kịch bản lạc quan nhất lên tới 14% và kịch bản bi quan nhất là 7%. Ngoài ra, theo kế hoạch của từng ngân hàng, đơn lẻ có một số ngân hàng đưa kịch bản tăng trưởng rất giàu tham vọng và đương nhiện họ rất kỳ vọng vào những tín hiệu thuận lợi từ thị trường sẽ sớm xuất hiện.

Chẳng hạn, Ngân hàng Tiên Phong đặt kế hoạch dư nợ cho vay lên tới 165,4 nghìn tỷ đồng, tăng trưởng 25%; Ngân hàng Phát triển Nhà TP. Hồ Chí Minh đưa ra mục tiêu tín dụng 2021 lên tới 236,8 nghìn tỷ, tăng trưởng tới 26% so với năm 2020. Tương tự, Ngân hàng Hàng hải cũng gây ấn ượng với kế hoạch tín dụng 2021 lên tới 106,2 nghìn tỷ, tăng trưởng 25%...

3 kịch bản tăng trưởng tín dụng năm 2021

Năm 2021, Ngân hàng Nhà nước đưa ra 3 kịch bản tăng trưởng tín dụng ứng với tình hình diễn biến Covid-19.
Kịch bản 1, tăng trưởng tín dụng 12 - 13%, tối đa có thể lên 14% nếu dịch Covid-19 dừng trong quý I và tiêm chủng vắc-xin đại trà. Kịch bản 2, mức tăng trưởng tín dụng là 10 - 12% trong trường hợp Covid-19 kéo dài đến tháng 6/2021 và Việt Nam vẫn tiếp tục phải thực hiện giãn cách xã hội, phải chờ tiêm vắc-xin. Kịch bản 3 là Covid-19 kéo dài đến hết năm, tín dụng tăng 7 - 8%.


Chí Tín

Chí Tín

Đọc thêm

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

VietinBank đồng hành cùng khách hàng qua các thế hệ

(TBTCO) - Mới đây, tại TP. Hồ Chí Minh, VietinBank tổ chức Tọa đàm chuyên sâu “Kiến tạo nền móng - Khởi dựng tương lai” dành cho khách hàng ưu tiên, mở đầu chuỗi hoạt động về quản trị, gìn giữ, phát triển và chuyển giao giá trị cho thế hệ kế cận.
Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

Công đoàn Vietcombank: Vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm 2026

(TBTCO) - Sáng 19/9/2026, tại Đền thờ danh sư Chu Văn An, Khu di tích quốc gia Phượng Hoàng, TP. Hải Phòng, Công đoàn Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) trang trọng tổ chức Lễ vinh danh học sinh, sinh viên xuất sắc, tiêu biểu năm học 2025 - 2026.
KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

KienlongBank ra mắt Visa Signature: Đặc quyền độc bản, trải nghiệm tinh hoa

(TBTCO) - KienlongBank vừa ra mắt thẻ tín dụng cao cấp Visa Signature dành riêng cho giới tinh hoa. Với nhiều đặc quyền, phí chuyển đổi ngoại tệ thấp nhất thị trường và hoàn tiền không giới hạn, chiếc thẻ không chỉ giúp chủ thẻ quản lý chi tiêu mà còn khẳng định vị thế độc bản qua hệ sinh thái tiện ích đẳng cấp toàn cầu.
Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

Giá vàng hôm nay ngày 21/9: Vàng thế giới giữ mốc 4.300 USD, trong nước đứng giá

(TBTCO) - Giá vàng thế giới duy trì trên mốc 4.300 USD/ounce, trong khi giá vàng miếng tiếp tục giao dịch ở vùng giá 144,6 - 147,6 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

Giá vàng hôm nay ngày 20/9: Vàng thế giới phục hồi, trong nước đi ngang

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tiếp tục tăng lên 4.378 USD/ounce sau một tuần biến động, trong khi giá vàng trong nước đi ngang, với vàng miếng bán ra ở mức 147,6 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

Bảo hiểm xây dựng cần được thiết kế cả vòng đời dự án

(TBTCO) - Các dự án hạ tầng ngày càng phức tạp, quy mô lớn, với nhiều hạng mục, gói thầu đan xen, đặt ra yêu cầu quản trị rủi ro từ sớm. Bảo hiểm không chỉ giúp chuyển giao rủi ro, tạo nguồn lực khắc phục sự cố, mà cần được thiết kế tổng thể, xuyên suốt vòng đời dự án, thay vì chỉ tập trung ở giai đoạn xây dựng.
Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/9: Hút ròng mạnh hơn 62.500 tỷ đồng, tỷ giá USD vẫn đi lên khi Fed và BoJ tăng lãi suất

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần qua từ ngày 14 - 18/9 cho thấy, Ngân hàng Nhà nước hút ròng hơn 62.543 tỷ đồng qua OMO giữa lúc thanh khoản có dấu hiệu cải thiện, lãi suất qua đêm hạ còn 3,2%/năm. Dù vậy, tỷ giá USD/VND lại đồng loạt đi lên, trong bối cảnh hai ngân hàng trung ương lớn Fed và BoJ cùng tăng lãi suất.
Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

Tỷ giá USD hôm nay (19/9): USD đồng loạt đi lên sau tuần lãi suất sôi động, Fed và BoJ đều tăng 0,25 điểm phần trăm

(TBTCO) - Sáng 19/9, tỷ giá trung tâm lên 25.637 đồng, tăng 41 đồng trong tuần; tỷ giá USD tại ngân hàng và thị trường tự do cũng đi lên. Chỉ số DXY tăng 1,1% lên 100,23 điểm sau tuần lễ chính sách tiền tệ đáng chú ý, với Fed và BoJ đều tăng lãi suất thêm 0,25 điểm phần trăm, còn BoE giữ nguyên.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Hà Nội - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Đà Nẵng - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Miền Tây - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Tây Nguyên - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
Đông Nam Bộ - PNJ 141,900 ▼1700K 144,900 ▼1700K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
Miếng SJC Nghệ An 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
Miếng SJC Thái Bình 14,190 ▼170K 14,490 ▼170K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,140 ▼170K 14,540 ▼120K
NL 99.99 13,550 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,450 ▼50K
Trang sức 99.9 13,850 ▼120K 14,450 ▼120K
Trang sức 99.99 13,860 ▼120K 14,460 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,419 ▼17K 14,492 ▼170K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,419 ▼17K 14,493 ▼170K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,414 ▼17K 1,444 ▼17K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,414 ▼17K 1,445 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,389 ▼17K 1,434 ▼17K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 13,498 ▼123165K 14,198 ▼129465K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 97,911 ▼1275K 107,711 ▼1275K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 87,872 ▼1156K 97,672 ▼1156K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 77,833 ▲69946K 87,633 ▲78766K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,961 ▼991K 83,761 ▼991K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,154 ▼709K 59,954 ▼709K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,419 ▼17K 1,449 ▼17K
Cập nhật: 22/09/2026 17:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17961 18235 18810
CAD 17998 18273 18887
CHF 31042 31420 32061
CNY 0 3840 3936
EUR 29168 29388 30466
GBP 33939 34328 35259
HKD 0 3186 3388
JPY 158 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14616 15203
SGD 19848 20130 20700
THB 699 762 815
USD (1,2) 25753 0 0
USD (5,10,20) 25792 0 0
USD (50,100) 25820 25834 26199
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,830 25,830 26,210
USD(1-2-5) 24,797 - -
USD(10-20) 24,797 - -
EUR 29,237 29,260 30,648
JPY 160.54 160.83 170.54
GBP 34,167 34,260 35,442
AUD 18,176 18,242 18,933
CAD 18,202 18,260 18,932
CHF 31,283 31,380 32,308
SGD 19,972 20,034 20,818
CNY - 3,809 3,955
HKD 3,250 3,260 3,397
KRW 17.65 18.41 20.04
THB 745.87 755.08 808.23
NZD 14,606 14,742 15,180
SEK - 2,598 2,691
DKK - 3,921 4,060
NOK - 2,711 2,807
LAK - 0.89 1.23
MYR 5,965.33 - 6,734.76
TWD 740.61 - 897.28
SAR - 6,808.55 7,171.81
KWD - 82,380 87,658
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,800 25,830 26,210
EUR 29,289 29,407 30,608
GBP 34,178 34,315 35,340
HKD 3,248 3,261 3,379
CHF 31,171 31,296 32,242
JPY 161.37 162.02 169.98
AUD 18,181 18,254 18,848
SGD 20,045 20,125 20,715
THB 763 766 804
CAD 18,208 18,281 18,872
NZD 14,603 15,145
KRW 18.30 20.27
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25835 25835 26195
AUD 18139 18239 19169
CAD 18178 18278 19289
CHF 31283 31313 32891
CNY 3821.9 3846.9 3982.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29342 29372 31098
GBP 34235 34285 36056
HKD 0 3305 0
JPY 161.9 162.4 172.96
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14720 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 20005 20135 20866
THB 0 727.9 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14190000 14190000 14660000
SBJ 13000000 13000000 14660000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,723 25,843 26,210
USD20 25,693 25,843 26,210
USD1 25,673 25,843 26,210
AUD 18,211 18,311 19,418
EUR 29,166 29,266 30,925
CAD 18,140 18,240 19,547
SGD 20,088 20,238 20,792
JPY 162.03 163.53 169.08
GBP 34,182 34,332 35,394
XAU 14,308,000 0 14,612,000
CNY 0 3,733 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 22/09/2026 17:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30