Hết biên độ điều chỉnh, tỷ giá có giữ được cam kết đến cuối năm?

Hoàng Yến
Động thái điều chỉnh tỷ giá 1% của Ngân hàng Nhà nước được đánh giá là cần thiết, hợp lý, nhằm giảm thâm hụt thương mại, giảm sức ép với thị trường ngoại hối. Sau điều chỉnh, vấn đề đang được quan tâm là liệu tỷ giá có giữ được mức ổn định này trong 8 tháng cuối năm?
aa

tygia

Mức điều chỉnh hợp lý

Đây là lần điều chỉnh tỷ giá thứ 2 của NHNN trong hơn 4 tháng qua, và cũng là vừa hết biên độ điều chỉnh tỷ giá 2% trong năm 2015 như NHNN đã tuyên bố hồi đầu năm.

Quyết định này của NHNN mặc dù sớm hơn dự báo nhưng không gây ngạc nhiên khi tình hình tỷ giá VND/USD đã tăng liên tục trong một vài tuần vừa qua, đặc biệt những ngày đầu tháng 5. Việc tỷ giá tăng đụng trần cho thấy nhu cầu USD trên thị trường rất lớn.

Theo ông Cao Sĩ Kiêm, cựu Thống đốc NHNN, việc điều chỉnh tỷ giá thời điểm này là hợp lý bởi tình hình cung cầu ngoại tệ đang căng thẳng, nếu để tiếp tục sẽ ảnh hưởng xấu đến sản xuất kinh doanh. Có thể thấy rằng, biến động tỷ giá các tháng đầu năm vừa qua đã gây thiệt hại cho hoạt động xuất khẩu, trong khi làm tăng nhập siêu.

Bên cạnh đó, sức ép tỷ giá thời gian qua cũng do yếu tố tâm lý khiến người dân có xu hướng găm giữ, làm thị trường thêm nóng. Vì vậy việc điều chỉnh tỷ giá là cần thiết để ổn định tâm lý, tạo niềm tin cho thị trường.

“Hơn nữa, mức điều chỉnh này là phù hợp, không quá cao hay quá thấp, vừa đủ để tạo sự hỗ trợ cho xuất khẩu mà vẫn nằm trong dư địa đã định”, ông Cao Sĩ Kiêm nói.

Bình luận về tác động của quyết định này, ngân hàng HSBC cho rằng đây là một biện pháp chủ động nhằm giúp thu hẹp thâm hụt thương mại và kìm hãm suy thoái nhẹ trong cán cân thanh toán của Việt Nam. Từ đầu năm nay đến nay, thâm hụt thương mại đã lên đến 3,3 tỷ USD, cao nhất kể từ năm 2011. Gần đây, NHNN đã phải dùng dự trữ ngoại tệ để đáp ứng nhu cầu USD tăng cao trong nước bắt nguồn từ việc nhập khẩu hàng hoá tăng và sự chảy vốn ra ngoài không rõ ràng.

Cùng quan điểm này, ngân hàng ANZ cũng cho rằng việc điều chỉnh tỷ giá sẽ giúp thu hẹp thâm hụt thương mại. Sức ép đối với tiền đồng gần đây bắt nguồn từ mức thâm hụt thương mại tăng mạnh, cho dù dòng vốn FDI vẫn cao.

Mặc dù việc giảm giá tiền đồng thường được coi sẽ hỗ trợ chính cho xuất khẩu nhưng HSBC lại có quan điểm khác. “Chúng tôi tin rằng những lo ngại về việc mất năng lực cạnh tranh xuất khẩu đang bị phóng đại quá mức”, báo cáo của ngân hàng này viết.

Theo HSBC, đồng Việt Nam yếu sẽ giúp Việt Nam tăng trưởng, làm nhẹ bớt một số gánh nặng nợ trong nước, nhất là khi gánh nặng nợ trong nước đang tăng.

ANZ dự báo tỷ giá có thể đạt 22.050 VND/USD vào cuối năm

Khi tỷ giá đã được điều chỉnh đến 2% trong 4 tháng đầu năm, vấn đề đặt ra trong những tháng còn lại, tỷ giá liệu có biến động?

Theo ông Cao Sĩ Kiêm, thông thường tỷ giá sẽ nóng vào thời điểm cuối năm, khi nhu cầu thanh toán, giao dịch tăng cao. Khi đó, nếu cần thiết có thể “hãm” lại và thực hiện điều chỉnh vào đầu năm tới, như đã thực hiện đầu tháng 1/2015.

“Nếu tăng đến 3% trong năm nay thì có thể ảnh hưởng đến niềm tin của thị trường đối với tuyên bố của NHNN, làm DN kém chủ động trong sản xuất kinh doanh”.

Một chuyên gia kinh tế khác nhận định, trong bối cảnh sức ép trên thị trường ngoại hối vẫn lớn, thị trường tài chính thế giới còn biến động khó lường, việc giữ tỷ giá ổn định ở mức hiện nay mà không cần điều chỉnh trong gần 8 tháng còn lại của năm là rất khó khăn.

Dự báo về biến động tỷ giá từ nay đến cuối năm, HSBC cho rằng tiền đồng ít có khả năng suy yếu mạnh. Với chu kỳ tín dụng tốt, lạm phát thấp và lãi suất thực cao hơn, chính sách ngoại hối sẽ trở nên linh động hơn trong khả năng quản lý các thời điểm có nhu cầu USD cao. Vì vậy, tỷ giá cuối năm được dự báo ở mức 21.750 VND/USD, cao hơn 0,35% so với tỷ giá bình quân mới và không cao hơn nhiều so với mức giá hiện tại ở các ngân hàng thương mại.

Theo HSBC, mặc dù NHNN đã sử dụng một phần dự trữ ngoại tệ nhưng vẫn còn tốt hơn so với một số thời điểm trước đây. Vì vậy, tỷ giá VND/USD khó có khả năng lên cao trong một vài tháng tới.

Trong khi đó, ANZ vẫn dự báo rằng tỷ giá có thể đạt mức 22.050 VND/USD vào cuối năm nay, và như vậy là tiền đồng suy giảm 3,1% so với mức 1,4% trong năm 2014. Mặc dù dự trữ ngoại hối của VN đang tăng (35 tỷ USD), nhưng vẫn chỉ đạt tỷ lệ tương đối thấp là khoảng 2,5 tháng nhập khẩu, dưới mức khuyến cáo bình quân là 3 – 4 tháng, ANZ cho biết./.

Hoàng Yến

Hoàng Yến

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

Giá vàng hôm nay ngày 4/10: Vàng miếng, vàng nhẫn đồng loạt giảm

(TBTCO) - Giá vàng trong nước đồng loạt giảm từ 200.000 đến 600.000 đồng/lượng, đưa giá bán vàng miếng về mức 143,5 triệu đồng/lượng.
Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

Bảo hiểm “nhúng” vào app ngân hàng, băn khoăn sau một cú chạm

(TBTCO) - Bảo hiểm nhúng đang trở thành một “lá chắn” mới trên app ngân hàng, với mức phí chỉ từ vài nghìn đồng mỗi tháng nhưng có thể bồi thường gần toàn bộ thiệt hại. Đưa bảo hiểm đến đúng điểm rủi ro là giá trị của mô hình này, song cách thiết kế quyền lựa chọn sẽ quyết định sự tiện lợi mang lại lợi ích, hay trở thành nỗi băn khoăn của khách hàng.
Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

Nới dư địa tín dụng để tạo thêm nguồn lực cho tăng trưởng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đã hướng dẫn các ngân hàng thương mại không tính vào dư nợ tín dụng tăng thêm cho các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

Daiichi Life Việt Nam chính thức ra mắt nhận diện thương hiệu mới

(TBTCO) - Trong khuôn khổ chiến lược đồng bộ thương hiệu toàn cầu của Tập đoàn Daiichi Life, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Daiichi Việt Nam (Daiichi Life Việt Nam) chính thức giới thiệu nhận diện thương hiệu mới từ ngày 01/10/2026. Đây là cột mốc quan trọng, đánh dấu bước chuyển mình mới của công ty trên hành trình hơn 19 năm phát triển tại Việt Nam.
Thị trường tiền tệ tuần  28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

Thị trường tiền tệ tuần 28/9 - 2/10: Lãi suất trồi sụt mạnh giữa nhịp hút ròng hơn 53.000 tỷ đồng, tỷ giá vẫn “êm”

(TBTCO) - Diễn biến nổi bật thị trường tiền tệ tuần từ 28/9 - 2/10 ghi nhận Ngân hàng Nhà nước hút ròng 53.475,2 tỷ đồng qua kênh OMO, lãi suất qua đêm trồi sụt mạnh những phiên cuối tháng. Dù thanh khoản bị rút bớt, tỷ giá trong nước vẫn biến động hẹp, khi áp lực từ USD quốc tế hạ nhiệt vào cuối tuần sau dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu.
Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 3/10: Vàng thế giới giảm, vàng trong nước trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 32 USD/ounce, xuống 4.140,8 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng bán ra đồng loạt giảm 200.000 đồng/lượng, trong khi vàng nhẫn tăng tại DOJI, Bảo Tín Minh Châu nhưng giảm tại PNJ và SJC.
Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

Dồn dập huy động qua trái phiếu, SACOMBANK tính chào bán thêm 15.000 tỷ đồng sau loạt lô lãi suất cao

(TBTCO) - SACOMBANK dự kiến chào bán ra công chúng tối đa 15.000 tỷ đồng trái phiếu kỳ hạn 7 - 10 năm, với lãi suất thả nổi, biên độ tối đa 4,2%/năm. Kế hoạch diễn ra khi ngân hàng đẩy mạnh huy động qua trái phiếu, số dư kỳ phiếu, trái phiếu cuối tháng 6/2026 lên 18.300 tỷ đồng, cao nhất nhiều năm; một số lô gần đây có lãi suất lên tới 12,5%/năm.
VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái  xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

VietinBank “bắt tay” GreenHouse và Ingrid International: Thúc đẩy hệ sinh thái xanh AI và chuyển đổi số toàn diện

(TBTCO) - VietinBank chính thức triển khai hợp tác chiến lược 3 bên cùng Công ty Cổ phần Văn hóa Ngôi Nhà Xanh (GreenHouse) - đơn vị vận hành nền tảng và Ingrid International Pte. Ltd (Ingrid International) - đơn vị tư vấn chiến lược, phát triển hệ sinh thái, hướng tới xây dựng hệ sinh thái xanh AI & thông minh, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển bền vững tại Việt Nam.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 140,500 143,500
Hà Nội - PNJ 140,500 143,500
Đà Nẵng - PNJ 140,500 143,500
Miền Tây - PNJ 140,500 143,500
Tây Nguyên - PNJ 140,500 143,500
Đông Nam Bộ - PNJ 140,500 143,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,050 14,350
Miếng SJC Nghệ An 14,050 14,350
Miếng SJC Thái Bình 14,050 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 13,950 14,350
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 13,950 14,350
NL 99.99 13,300 ▼50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,200 ▼50K
Trang sức 99.9 13,660 14,260
Trang sức 99.99 13,670 14,270
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,405 14,352
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,405 14,353
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 140 143
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 140 1,431
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,375 142
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 133,594 140,594
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 96,861 106,661
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,692 9,672
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 76,979 86,779
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 73,144 82,944
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 4,957 5,937
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,405 1,435
Cập nhật: 05/10/2026 12:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17502 17775 18350
CAD 17671 17945 18560
CHF 30645 31021 31665
CNY 0 3836 3931
EUR 28442 28659 29736
GBP 33525 33913 34847
HKD 0 3182 3385
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14223 14807
SGD 19746 20028 20599
THB 689 752 805
USD (1,2) 25738 0 0
USD (5,10,20) 25777 0 0
USD (50,100) 25805 25819 26184
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,805 25,805 26,185
USD(1-2-5) 24,773 - -
USD(10-20) 24,773 - -
EUR 28,472 28,495 29,850
JPY 160 160.29 169.97
GBP 33,696 33,787 34,966
AUD 17,704 17,768 18,440
CAD 17,851 17,908 18,571
CHF 30,895 30,991 31,912
SGD 19,859 19,921 20,701
CNY - 3,802 3,948
HKD 3,245 3,255 3,392
KRW 17.81 18.57 20.24
THB 736.73 745.83 798.34
NZD 14,216 14,348 14,774
SEK - 2,531 2,622
DKK - 3,820 3,955
NOK - 2,642 2,737
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,943.52 - 6,708.57
TWD 738.92 - 895.23
SAR - 6,804.67 7,168.4
KWD - 82,113 87,375
AED - 6,821 7,350
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,770 25,800 26,180
EUR 28,696 28,811 30,022
GBP 33,799 33,935 34,967
HKD 3,244 3,257 3,374
CHF 30,835 30,959 31,908
JPY 160.92 161.57 169.55
AUD 17,744 17,815 18,412
SGD 19,963 20,043 20,638
THB 755 758 796
CAD 17,902 17,974 18,571
NZD 14,344 14,900
KRW 18.65 20.64
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25790 25820 26180
AUD 17688 17788 18713
CAD 17851 17951 18965
CHF 30894 30924 32505
CNY 3818.2 3843.2 3978.3
CZK 0 1170 0
DKK 0 3970 0
EUR 28623 28653 30378
GBP 33830 33880 35641
HKD 0 3315 0
JPY 161.12 161.62 172.15
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2745 0
NZD 0 14333 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2590 0
SGD 19909 20039 20760
THB 0 718.2 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14050000 14050000 14350000
SBJ 12500000 12500000 14350000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,680 25,800 26,170
USD20 25,650 25,800 26,170
USD1 25,630 25,800 26,170
AUD 17,760 17,860 18,979
EUR 28,530 28,630 30,305
CAD 17,811 17,911 19,228
SGD 20,002 20,152 20,722
JPY 161.9 163.4 169.05
GBP 33,761 33,911 35,008
XAU 14,048,000 0 14,352,000
CNY 0 3,723 0
THB 0 754 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 05/10/2026 12:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30