Kinh tế Mỹ tăng trưởng 4,9% trong quý III, cao nhất kể từ năm 2021

(TBTCO) - Nền kinh tế Mỹ tăng trưởng nhanh hơn dự kiến ​​trong quý III/2023, tốc độ nhanh nhất trong gần 2 năm qua trong dấu hiệu mới nhất về khả năng phục hồi kinh tế của nước này trước bối cảnh lãi suất tăng cao.
aa
Kinh tế Mỹ tăng trưởng 4,9% trong quý III, cao nhất kể từ năm 2021
Nền kinh tế Mỹ tiếp tục cho thấy khả năng phục hồi trước lãi suất cao nhờ chi tiêu tiêu dùng mạnh mẽ. Ảnh: AP

Tăng chi tiêu dùng thúc đẩy kinh tế tăng trưởng cao

Theo số liệu sơ bộ từ Cục Phân tích kinh tế của Bộ Thương mại Mỹ ngày 26/10, chi tiêu tiêu dùng mạnh mẽ đã thúc đẩy tổng sản phẩm quốc nội của nước này tăng 4,9%. Đó là một bước nhảy vọt so với tỷ lệ 2,1% trong quý II và là con số mạnh nhất kể từ quý IV/2021. Các nhà kinh tế trước đó đã dự đoán tỷ lệ này là 4,3%.

Tuy nhiên, khả năng phục hồi kinh tế năm nay có thể sớm phải đối mặt với các thử thách. Lãi suất dài hạn tăng, xung đột ở Ukraine và Trung Đông, khả năng chính phủ đóng cửa một phần vào cuối tháng này và các cuộc đình công lao động kéo dài là tất cả các yếu tố có thể khiến các vết nứt kinh tế xuất hiện.

Dữ liệu GDP quý III được đưa ra khi FED chuẩn bị cho cuộc họp vào tuần tới để quyết định lãi suất. Ngân hàng trung ương đã cố gắng sử dụng lãi suất cao hơn để đưa lạm phát trở lại mục tiêu 2% mà không gây ra sự suy thoái nghiêm trọng trong nền kinh tế. Tuy vậy, các số liệu GDP khó có thể ảnh hưởng mạnh đến quyết định của tuần tới, vì FED sẽ quan tâm hơn đến dữ liệu lạm phát và bảng lương. Số liệu tháng 9 về lạm phát, chi tiêu tiêu dùng và thu nhập sẽ được công bố vào ngày 27/10.

FED được cho là sẽ giữ lãi suất ổn định ở mức cao nhất trong 22 năm, giúp các nhà hoạch định chính sách có thêm thời gian để đánh giá tác động của việc tăng lãi suất trước đó và các sự kiện gần đây như đợt bán tháo mạnh trên thị trường trái phiếu.

Lý do lớn cho sự tăng trưởng bùng nổ của mùa hè là do người Mỹ tăng cường chi tiêu, bất chấp một loạt các đợt tăng lãi suất từ Cục Dự trữ Liên bang (FED) nhằm làm dịu lạm phát bằng cách làm chậm nền kinh tế. Sự tăng tốc kinh tế, được báo trước bởi dữ liệu tuyển dụng lao động và bán lẻ mạnh mẽ, sẽ không thay đổi kế hoạch của FED để giữ lãi suất ổn định tại cuộc họp của họ vào tuần tới.

Chi tiêu tiêu dùng tăng với tốc độ 4,0% trong quý thứ ba, từ mức tăng 0,8% trong quý trước và cũng là mức tăng lớn nhất kể từ quý IV/2021.

Trong suốt mùa hè, người Mỹ đã háo hức chi tiêu cho những thứ như các buổi hoà nhạc và phim ảnh cao cấp. Nói rộng hơn, chi tiêu bền vững của họ đã được hỗ trợ bởi một thị trường lao động mạnh mẽ và tiết kiệm tích lũy trong đại dịch Covid-19 do chính phủ cứu trợ và lãi suất thế chấp thấp.

Sal Guatieri - chuyên gia kinh tế cấp cao tại BMO Capital Markets ở Toronto, cho biết: “Chúng ta đang chứng kiến ​​điều hoàn toàn ngược lại về một cuộc suy thoái. Người tiêu dùng Mỹ, động lực lớn nhất của nền kinh tế, dường như đã hồi sinh vào giữa năm, phần lớn là do niềm tin được cải thiện trong suốt mùa hè do thị trường chứng khoán phục hồi và giá xăng ổn định hơn”.

Kịch bản hạ cánh mềm

Người sử dụng lao động tiếp tục bổ sung việc làm và tăng lương nhanh chóng, tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp lịch sử.

Trong khi đó, lạm phát đã giảm mạnh từ mức cao nhất gần đây là 9,1% vào tháng 6 năm 2022. Để chống lại lạm phát cao, FED đã nâng lãi suất quỹ liên bang chuẩn lên phạm vi từ 5,25% đến 5,5% vào tháng 7/2023 - mức cao nhất trong 22 năm.

Kinh tế Mỹ tăng trưởng 4,9% trong quý III, cao nhất kể từ năm 2021
Chi tiêu của người tiêu dùng, vốn chiếm hơn 2/3 hoạt động kinh tế của Mỹ, có thể là động lực chính của tăng trưởng. Ảnh: Reuters

Các quan chức FED giữ lãi suất ổn định tại cuộc họp của họ vào tháng 9 và đã báo hiệu rằng họ có thể làm như vậy một lần nữa tại cuộc họp vào tuần tới. FED đã trích dẫn những tiến bộ trong việc giảm lạm phát và tăng lợi suất dài hạn, về cơ bản thực hiện một số biện pháp thắt chặt các điều kiện tài chính, là những lý do tiềm năng để kéo dài thời gian tạm dừng tăng lãi suất.

Sự kết hợp giữa việc giá cả tăng chậm lại và một nền kinh tế kiên cường đã làm dấy lên hy vọng nền kinh tế sẽ chứng kiến cuộc hạ cánh mềm, nơi lạm phát giảm xuống xung quanh mục tiêu 2% của FED mà không có suy thoái.

Bill Adams - kinh tế trưởng tại Ngân hàng Comerica cho biết: "Theo ý kiến của tôi, nền kinh tế Mỹ có thể đã vượt qua được thời điểm khó khăn nhất của quá trình bình thường hóa sau đại dịch".

Tăng trưởng có nguy cơ chậm lại

Trong khi một số nhà dự báo hạ thấp khả năng nền kinh tế Mỹ sẽ rơi vào suy thoái, một số khác lại dự đoán nền kinh tế sẽ chậm lại khi người Mỹ phải đối mặt với các rào cản kinh tế.

Dữ liệu tăng trưởng cung cấp một lời nhắc nhở khác về sức mạnh bền bỉ của nền kinh tế và củng cố kỳ vọng lãi suất sẽ duy trì ở mức cao trong thời gian dài.

Trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn 10 và 30 năm đã được bán tháo mạnh trong những tuần gần đây, đặc biệt nhạy cảm với kỳ vọng tăng trưởng. Số liệu GDP mạnh cũng có thể ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng và doanh nghiệp, điều này có thể có tác động dây chuyền đến hành vi và kỳ vọng lạm phát.

Lãi suất cao hơn trong thời gian dài hơn có thể gây ra sự hạ nhiệt ở một số bộ phận của nền kinh tế. Đầu tư nhà ở, vốn đã giảm trong phần lớn năm nay, có thể suy yếu hơn nữa, khi lãi suất thế chấp tăng lên gần 8% - mức cao nhất kể từ giữa năm 2000 - ảnh hưởng đến nhu cầu về nhà ở.

Số lượng các công ty nhỏ báo cáo việc tiếp cận tín dụng khó khăn hơn đã tăng cao trong một cuộc khảo sát vào tháng 9 từ Liên đoàn Doanh nghiệp độc lập Quốc gia. Điều đó có thể báo hiệu sự sụt giảm trong đầu tư kinh doanh và tuyển dụng.

Lãi suất cao hơn khiến người Mỹ sử dụng thẻ tín dụng và các hình thức vay mượn khác trở nên đắt đỏ hơn, điều này có thể khuyến khích người tiêu dùng hạn chế chi tiêu. Người tiêu dùng sẽ ít có nhu cầu mua hàng nếu họ tiếp tục rút tiền tiết kiệm và tiếp tục thanh toán các khoản vay sinh viên liên bang. Xung đột kéo dài ở Trung Đông và các cuộc đình công lao động ở Mỹ có thể gây áp lực tăng lên lạm phát thông qua giá năng lượng và ô tô cao hơn, điều này sẽ ăn vào sức mua của người Mỹ.

Sự chậm lại trong chi tiêu tiêu dùng cũng sẽ đè nặng lên tăng trưởng chung vì nó chiếm phần lớn sản lượng kinh tế của nước Mỹ. Nhưng nếu nhu cầu vẫn mạnh, điều này có nguy cơ khiến lạm phát cao hơn mục tiêu 2% của ngân hàng trung ương và có thể đảm bảo chính sách tiền tệ thắt chặt hơn.

Andrew Hunter - Phó giám đốc kinh tế Mỹ tại Capital Economics cho biết: "Sẽ rất ngạc nhiên nếu tăng trưởng tiêu dùng vẫn mạnh mẽ như vậy trong quý IV, khi ngày càng có nhiều cơn gió ngược khác để bắt đầu gây thiệt hại cho nền kinh tế"./.

Hoàng Lê (theo The Wall Street Journal/FT)

Đọc thêm

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

LPBank kết nối doanh nghiệp Đồng bằng sông Cửu Long, thúc đẩy phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 10/4, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) phối hợp với Sở Công thương Cần Thơ tổ chức chương trình “LPBank Connect - Kết nối địa phương, đồng hành cùng doanh nghiệp”, hướng tới tăng cường liên kết, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

Giá vàng đồng loạt tăng lên ngưỡng 172,7 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước sáng 11/4 đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn, với mức điều chỉnh phổ biến trên 1 triệu đồng/lượng, đưa mặt bằng giao dịch lên quanh 169,7 - 172,7 triệu đồng/lượng.
Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

Doanh nghiệp bảo hiểm "thiết kế" chiến lược để nâng vị thế

(TBTCO) - Trong bối cảnh ngành bảo hiểm phi nhân thọ năm 2026 được dự báo tăng trưởng 2 con số, nhưng đi kèm xu hướng "sàng lọc" mạnh, các doanh nghiệp bảo hiểm đồng loạt "thiết kế" lại chiến lược nhằm củng cố năng lực cạnh tranh và giữ vững vị thế trên thị trường.
Nam A Bank có tổng giám đốc mới

Nam A Bank có tổng giám đốc mới

(TBTCO) - Được sự chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Hội đồng quản trị (HĐQT) Ngân hàng TMCP Nam A (Nam A Bank, mã ck: NAB) đã bổ nhiệm ông Trần Khải Hoàn giữ chức vụ Tổng giám đốc Nam A Bank kể từ ngày 10/4/2026.
Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

Bảo hiểm BIC hé lộ kế hoạch trước thềm đại hội, mục tiêu vượt 6.000 tỷ đồng doanh thu phí

(TBTCO) - Hội đồng quản trị Bảo hiểm BIC vừa phê duyệt kế hoạch kinh doanh năm 2026 trình Đại hội đồng cổ đông, với mục tiêu doanh thu phí bảo hiểm 6.230 tỷ đồng và lợi nhuận hợp nhất 780 tỷ đồng.
Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 xử phạt Huy Thanh Jewelry, lộ vi phạm về thuế

(TBTCO) - Thanh tra Ngân hàng Nhà nước Khu vực 1 đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng với Công ty TNHH Vàng bạc đá quý Huy Thành. Đồng thời, chuyển hồ sơ vi phạm hành chính đến Thuế Thành phố Hà Nội khi phát hiện công ty khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp.
VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

VietABank giảm lãi suất huy động, chủ động thực hiện định hướng điều hành của Ngân hàng Nhà nước

(TBTCO) - Sáng ngày 10/4, VietABank áp dụng điều chỉnh giảm lãi suất, đồng hành cùng Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước ổn định mặt bằng lãi suất, hỗ trợ tăng trưởng.
Hàng loạt quỹ đầu tư lớn ký hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ SHB

Hàng loạt quỹ đầu tư lớn ký hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ SHB

(TBTCO) - Ngày 9/4, tại Hà Nội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) tổ chức Lễ ký kết hợp đồng đặt mua cổ phần phát hành riêng lẻ với sự tham gia của nhiều tổ chức, quỹ đầu tư uy tín trong nước và quốc tế, đánh dấu bước tiến quan trọng trong chiến lược tăng vốn và mở rộng quy mô hoạt động.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,940 17,240
Kim TT/AVPL 16,950 17,250
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,940 17,240
Nguyên Liệu 99.99 15,800 16,000
Nguyên Liệu 99.9 15,750 15,950
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,600 17,000
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,550 16,950
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,480 16,930
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 169,200 172,200
Hà Nội - PNJ 169,200 172,200
Đà Nẵng - PNJ 169,200 172,200
Miền Tây - PNJ 169,200 172,200
Tây Nguyên - PNJ 169,200 172,200
Đông Nam Bộ - PNJ 169,200 172,200
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,940 17,240
Miếng SJC Nghệ An 16,940 17,240
Miếng SJC Thái Bình 16,940 17,240
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,920 17,220
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,920 17,220
NL 99.90 15,520
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,550
Trang sức 99.9 16,410 17,110
Trang sức 99.99 16,420 17,120
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,694 17,242
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,694 17,243
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,691 1,721
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,691 1,722
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,671 1,706
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 162,411 168,911
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 119,213 128,113
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 10,727 11,617
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 95,326 104,226
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 9,072 9,962
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,397 71,297
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,694 1,724
Cập nhật: 13/04/2026 02:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18056 18331 18915
CAD 18487 18764 19389
CHF 32715 33100 33742
CNY 0 3800 3870
EUR 30224 30498 31532
GBP 34634 35027 35978
HKD 0 3231 3435
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 15050 15648
SGD 20121 20404 20942
THB 736 799 855
USD (1,2) 26066 0 0
USD (5,10,20) 26107 0 0
USD (50,100) 26136 26155 26360
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,130 26,130 26,360
USD(1-2-5) 25,085 - -
USD(10-20) 25,085 - -
EUR 30,313 30,337 31,601
JPY 161.2 161.49 170.27
GBP 34,783 34,877 35,875
AUD 18,286 18,352 18,934
CAD 18,720 18,780 19,359
CHF 32,986 33,089 33,868
SGD 20,269 20,332 21,013
CNY - 3,789 3,912
HKD 3,303 3,313 3,433
KRW 16.37 17.07 18.47
THB 782.26 791.92 842.99
NZD 15,067 15,207 15,566
SEK - 2,783 2,865
DKK - 4,057 4,175
NOK - 2,725 2,809
LAK - 0.91 1.26
MYR 6,213.63 - 6,976.01
TWD 749.69 - 902.95
SAR - 6,916.97 7,243.76
KWD - 83,839 88,688
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,110 26,140 26,360
EUR 30,207 30,328 31,508
GBP 34,719 34,858 35,864
HKD 3,293 3,306 3,421
CHF 32,698 32,829 33,755
JPY 161.50 162.15 169.45
AUD 18,273 18,346 18,938
SGD 20,318 20,400 20,984
THB 799 802 837
CAD 18,700 18,775 19,341
NZD 15,151 15,682
KRW 17.07 18.75
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26220 26220 26360
AUD 18254 18354 19280
CAD 18681 18781 19795
CHF 32941 32971 34550
CNY 3795.5 3820.5 3955.8
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30381 30411 32133
GBP 34881 34931 36702
HKD 0 3355 0
JPY 161.84 162.34 172.88
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15181 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20277 20407 21138
THB 0 763.3 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16970000 16970000 17270000
SBJ 15000000 15000000 17270000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,135 26,185 26,360
USD20 26,135 26,185 26,360
USD1 26,135 26,185 26,360
AUD 18,282 18,382 19,522
EUR 30,482 30,482 31,943
CAD 18,609 18,709 20,050
SGD 20,331 20,481 21,450
JPY 162.15 163.65 168.5
GBP 34,738 35,088 36,011
XAU 16,968,000 0 17,272,000
CNY 0 3,701 0
THB 0 799 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 13/04/2026 02:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80