Thị trường tiền tệ tuần từ 29.1 - 2.2:

Lãi suất liên ngân hàng bất ngờ tăng, giá vàng vào nhịp leo dốc

Chí Tín
(TBTCO) - Diễn biến tuần qua cho thấy, lãi suất thị trường tiền tệ liên ngân hàng sau khi giảm xuống mức đáy, thấp nhất trong vòng 3 năm qua đã bất ngờ vọt tăng. Trong khi đó, thị trường vàng lại thu hút sự chú ý trở lại khi giá vàng trong nước liên tục leo dốc.
aa

Lãi suất liên ngân hàng bật tăng

Lãi suất thị trường tiền tệ liên ngân hàng cuối tháng 1 có thời điểm giảm xuống chỉ còn 0,12%/năm với kỳ hạn qua đêm, đây là mức thấp nhất trong vòng 3 năm qua. Tuy nhiên, lãi suất qua đêm sau đó bất ngờ vọt tăng trở lại, lên mức 0,97%/năm. Với các kỳ hạn khác, lãi suất liên ngân hàng ghi nhận mức 1,01% với kỳ hạn 1 tuần; 1,59% với kỳ hạn 2 tuần; 1,6% với kỳ hạn 1 tháng…

Lãi suất liên ngân hàng tăng mạnh, nhưng dù vậy vẫn thấp hơn khá xa so với trần lãi suất quy định hiện hành. Hiện nay, trần lãi suất qua đêm được quy định là 5%, theo Quyết định số 1123/QĐ-NHNN ngày 16/6/2023 về lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất cho vay qua đêm trong thanh toán điện tử liên ngân hàng và cho vay bù đắp thiếu hụt vốn trong thanh toán bù trừ.

Đối với tiền gửi, lãi suất huy động tại quầy bình quân của 3 ngân hàng gồm Vietcombank, VietinBank, BIDV kỳ hạn 6 tháng là 3,16%, kỳ hạn 12 tháng là 4,8%.

Lãi suất liên ngân hàng bất ngờ tăng, giá vàng vào nhịp leo dốc
Diễn biến lãi suất liên ngân hàng qua đêm trong 3 năm qua

Nhất quán cách hiểu về cho vay mua nhà

Vừa qua HoREA đã có văn bản gửi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam kiến nghị sửa đổi, bổ sung Thông tư số 22/2023/TT-NHNN để bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất với Thông tư số 26/2015/TT-NHNN và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Tại văn bản này, ông Lê Hoàng Châu - Chủ tịch HoREA cho biết, việc sửa này rất cần thiết để tạo điều kiện cho cá nhân vay tín dụng mua nhà ở thương mại hình thành trong tương lai được bảo đảm (thế chấp) bằng chính căn nhà đó.

Về phía Ngân hàng Nhà nước, cơ quan này trong tuần qua đã có ý kiến về việc này khi cho biết Thông tư 22 sửa đổi, bổ sung một số nội dung tại Thông tư 41/2016/TT-NHNN. Tuy nhiên, một số nội dung của Thông tư 41 vẫn giữ nguyên, trong đó có quy định: “Khoản cho vay bảo đảm bằng bất động sản là khoản cho vay đối với cá nhân, pháp nhân để mua bất động sản, thực hiện dự án bất động sản và được bảo đảm bằng chính bất động sản, dự án bất động sản hình thanh từ khoản cho vay theo các quy định của pháp luật về giao dịch đảm bảo”.

Lãi suất liên ngân hàng bất ngờ tăng, giá vàng vào nhịp leo dốc
Ngân hàng Nhà nước đã phải có sự giải thích để thống nhất cách hiểu liên quan đến các khoản cho vay mua nhà. Ảnh: T.L
FED để ngỏ khả năng tăng lãi suất thêm một lần nữa Lãi suất liên ngân hàng giảm sâu chỉ còn 0,13%

Cập nhật các quy định lĩnh vực ngân hàng đã hết hiệu lực

Để các bên có cơ sở thực hiện các quy định pháp luật hiện hành, tuần qua, Ngân hàng Nhà nước cũng đã công bố danh mục văn bản quy phạm pháp luật hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ, hoặc một phần thuộc lĩnh vực quản lý thuộc Ngân hàng Nhà nước.

Theo đó, tổng số có 15 văn bản lĩnh vực ngân hàng đã hết hiệu lực, ngưng hiệu lực toàn bộ và 52 văn bản ngưng hiệu lực một phần.

Một số quyết định ngành Ngân hàng đã ngưng hiệu lực

Ngoài các Nghị định và Thông tư, các văn bản cấp quyết định của NHNN là Quyết định 130/2023/QĐ-TTg về bảo vệ tiền Việt Nam, Quyết định 20/2013/QĐ-TTg quy định mức giá trị của giao dịch có giá trị lớn phải báo cáo.

Trong các văn bản ngưng hiệu lực toàn bộ có Nghị định 159/2003/NĐ-CP về cung ứng dịch vụ séc, Nghị định 116/2013/NĐ-CP và Nghị định 87/2019/NĐ-CP (sửa đổi Nghị định 87) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Phòng chống rửa tiền.

Một số văn bản khác cấp thông tư do Ngân hàng Nhà nước ban hành gồm có Thông tư 03/2013/TT-NHNN quy định về hoạt động thông tin tín dụng của NHNN, Thông tư 12/2014/TT-NHNN quy định điều kiện vay nước ngoài của doanh nghiệp không được Chính phủ bảo lãnh…

Tỷ giá giảm

Tỷ giá có xu hướng giảm trong tuần vừa qua. Cụ thể, hôm thứ hai đầu tuần, Vietcombank niêm yết tỷ giá bán ra ở mức 24.715 đồng/USD, sau đó liên tục điều chỉnh trong trong tuần vào đến chiều ngày 2/2 ghi nhận mức bán ra là 24.515 đồng/USD.

Cùng xu hướng diễn biến chung, tỷ giá trên thị trường tự do cũng điều chỉnh giảm trong tuần vừa qua, nhưng với tốc độ giảm giá mạnh hơn so với tỷ giá niêm yết của Vietcombank.

Báo cáo kinh tế xã hội tháng 1/2024 được Tổng cục Thống kê công bố tiếp tục xu hướng xuất siêu.

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 1/2024 đạt 33,57 tỷ USD, tăng 6,7% so với tháng trước và tăng 42% so với cùng kỳ năm trước. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 1/2024 đạt 30,65 tỷ USD, tăng 4,2% so với tháng trước và tăng 33,3% so với cùng kỳ năm trước. Cán cân thương mại hàng hóa tháng 1/2024 xuất siêu 2,92 tỷ USD. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 2,12 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 5,04 tỷ USD.

Tại thị trường quốc tế, giá đồng USD cũng có động thái giảm sau một chu kỳ tăng trước đó. Chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ hiện chỉ ở mức nhỉnh hơn 103 điểm chút ít.

Lãi suất liên ngân hàng bất ngờ tăng, giá vàng vào nhịp leo dốc
Giá vàng trong nước và thế giới đều tăng trong tuần qua. Ảnh: T.L

Giá vàng tăng

Giá vàng trong nước sau một giai đoạn tăng chậm trong phần lớn thời gian tháng 1/2024, thì đã bước vào nhịp tăng khá nhanh trong tuần vừa qua.

Vàng miếng SJC 9999 cuối tuần trước chỉ ở mức khoảng 74.200 đồng/lượng mua vào và 76.700 đồng/lượng bán ra, nhưng đã tăng trong hầu hết các ngày trong tuần này và đến cuối tuần đã leo lên mặt bằng giá mới với mức giá mua vào là 76.200 đồng/lượng và bán ra 78.500 đồng/lượng.

Giá vàng trong nước tuần qua tăng một phần chịu sự ảnh hưởng của giá vàng thế giới, giá vàng giao ngay sau khi chạm đáy 2.017 USD/ounce vào cuối tuần trước cũng đã có một tuần bứt tốc tăng mạnh. Đến chiều ngày 2/2 theo giờ Việt Nam, giá vàng thế giới đã leo lên mốc 2.055 USD/ounce.

Cách tính hệ số rủi ro khoản cho vay mua nhà hình thành trong tương lai

Ngân hàng Nhà nước cho biết, tổ chức, cá nhân có nhu cầu mua nhà và bảo đảm (thế chấp) chính nhà hình thành trong tương lai này áp dụng hệ số rủi ro từ 30%-120% phụ thuộc vào tỷ lệ bảo đảm (LTV) được tính bằng tỷ lệ số dư khoản cho vay so với giá trị của tài sản bảo đảm, trường hợp không có thông tin về tỷ lệ LTV hệ số rủi ro 150%.

Chí Tín

Đọc thêm

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 17/9: Vàng thế giới và trong nước diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm gần 30 USD/ounce sau quyết định tăng lãi suất của Fed, trong khi vàng miếng và vàng nhẫn trong nước đồng loạt tăng.
Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 16/9: Vàng thế giới lùi về dưới 4.300 USD, vàng trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới lùi dưới mốc 4.300 USD/ounce trước áp lực từ đồng USD và lợi suất trái phiếu Mỹ, trong khi giá vàng trong nước tiếp tục giảm ở cả vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

Giá vàng hôm nay ngày 15/9: Giá vàng trong nước và thế giới cùng giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm hơn 20 USD/ounce, xuống dưới mốc 4.300 USD/ounce. Trong nước, giá vàng miếng và vàng nhẫn đồng loạt giảm, mức cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 14/9: Vàng thế giới lùi về 4.333 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 34 USD/ounce, xuống 4.333 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giao dịch trong khoảng 142,5 - 147 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

Giá vàng hôm nay ngày 13/9: Vàng trong nước đồng loạt tăng

(TBTCO) - Giá vàng trong nước tăng trở lại ở cả vàng miếng và vàng nhẫn, với mức điều chỉnh cao nhất 600.000 đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

Giá vàng hôm nay ngày 12/9: Vàng trong nước giảm tới 1,4 triệu đồng

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng 29 USD, giao dịch quanh mức 4.349 USD/ounce. Trong khi đó, thị trường trong nước ghi nhận mức giảm cao nhất 1,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

Giá vàng hôm nay ngày 11/9: Vàng thế giới đảo chiều giảm mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm 95 USD/ounce, xuống còn 4.320 USD/ounce. Trong nước, giá vàng giữ ổn định ở cả phân khúc vàng miếng và vàng nhẫn.
Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

Giá vàng hôm nay ngày 10/9: Vàng thế giới tăng hơn 50 USD/ounce

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng hơn 50 USD, lên ngưỡng 4.403 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng ổn định, trong khi vàng nhẫn biến động trái chiều.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 147,600
Hà Nội - PNJ 144,600 147,600
Đà Nẵng - PNJ 144,600 147,600
Miền Tây - PNJ 144,600 147,600
Tây Nguyên - PNJ 144,600 147,600
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 147,600
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 14,760
Miếng SJC Nghệ An 14,460 14,760
Miếng SJC Thái Bình 14,460 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 14,760
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 14,760
NL 99.99 13,600
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500
Trang sức 99.9 14,070 14,670
Trang sức 99.99 14,080 14,680
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 14,762
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 14,763
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 1,471
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 1,472
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 1,461
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 144,653
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 109,736
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 99,508
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 8,928
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 85,335
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 6,108
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 1,476
Cập nhật: 21/09/2026 01:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17982 18257 18841
CAD 18064 18339 18961
CHF 30990 31368 32030
CNY 0 3842 3938
EUR 29245 29465 30548
GBP 34044 34434 35374
HKD 0 3185 3388
JPY 159 162 169
KRW 0 18 20
NZD 0 14575 15165
SGD 19843 20125 20706
THB 696 759 813
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Cập nhật: 21/09/2026 01:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30