Lãi suất tín phiếu kỳ vọng tiếp tục giảm, tạo thuận lợi cho dòng tiền cuối năm

Chí Tín
(TBTCO) - Lợi suất trái phiếu chính phủ đang tiếp tục chu kỳ đi xuống và các chuyên gia dự báo, trong xu hướng giảm lãi suất toàn cầu thì dư địa cho mặt bằng lãi suất đấu thầu tín phiếu trên thị trường mở (OMO) của Việt Nam có thể còn tiếp tục giảm thêm. Đây là yếu tố thuận lợi về dòng tiền từ hệ thống ngân hàng có thể lan tỏa ra nền kinh tế giai đoạn cuối năm.
aa
Lãi suất tín phiếu kỳ vọng tiếp tục giảm, tạo thuận lợi cho dòng tiền cuối năm
Chính sách và dịch vụ chăm sóc khách hàng là 2 nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng hoạt động các ngân hàng. Ảnh tư liệu

Kỳ vọng lãi suất OMO giảm thêm

Vừa qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã chính thức ban hành Thông tư 44/2024/TT-NHNN sửa đổi khoản 2 Điều 2 Thông tư 16/2019/TT-NHNN quy định về phát hành tín phiếu NHNN.

Theo đó, tại Thông tư 44/2024/TT-NHNN đã có thay đổi quan trọng là bổ sung thêm đối tượng áp dụng là các công ty tài chính tổng hợp, công ty tài chính chuyên ngành so với các đối tượng được quy định tại Thông tư 16 trước đây. Theo lý giải của NHNN, việc thay đổi này là để đảm bảo sự đồng bộ với Luật Các tổ chức tín dụng 2024, khi Luật này đã bổ sung quy định về công ty tài chính tổng hợp và công ty tài chính chuyên ngành tại khoản 12, 13 Điều 4.

Như vậy, từ ngày 23/10 này, Thông tư 44/2024/TT-NHNN sẽ chính thức có hiệu lực, tạo sự đồng bộ, ổn định hơn về mặt pháp lý, hỗ trợ cho hoạt động đấu thầu tín phiếu của NHNN, cũng như các đối tượng tham gia.

Cũng trong câu chuyện liên quan đến các hoạt động trên thị trường mở, lãi suất OMO trong năm 2024 có thời điểm leo lên mức 4,5%, nhưng sau đó đã đi vào chu kỳ giảm dần và trong các phiên đấu thầu gần đây đã về mức chỉ còn 4%.

Trong khi đó, theo dõi diễn biến lợi suất trái phiếu chính phủ đang trong xu hướng giảm trung hạn, một số chuyên gia cho rằng, hiện có cơ sở để kỳ vọng lãi suất trên thị trường mở có thể còn giảm thấp hơn nữa. Ông Trần Hoàng Sơn - Giám đốc Chiến lược thị trường thuộc Công ty chứng khoán VPBank cho biết, quan sát quá khứ có thể thấy khi lợi suất trái phiếu chính phủ đi xuống cũng thường đồng pha với xu hướng giảm của lãi suất tái cấp vốn. Với bối cảnh này, ông Sơn dự đoán lãi suất tái cấp vốn cuối năm có thể sẽ giảm thêm 25 điểm cơ bản.

Yếu tố thuận lợi để thúc đẩy tín dụng

Lướt qua diễn biến lãi suất thị trường liên ngân hàng thời gian gần đây cũng cho thấy xu hướng hạ thấp dần. Cụ thể, lãi suất cho vay qua đêm trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng thời điểm cuối tháng 9/2024 vẫn còn ở mức khoảng 4,44% thì đến nay đã giảm về mức 3,21%.

Một trong những yếu tố thuận lợi giúp lãi suất tái cấp vốn và lãi suất liên ngân hàng đi xuống là ảnh hưởng từ xu hướng giảm lãi suất của nhiều ngân hàng trung ương lớn trên thế giới. Theo đó, ngoài động thái giảm 50 điểm cơ bản của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED), thì trước đó, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) cũng đã giảm 25 điểm cơ bản lãi suất trong tháng 9. Trong tháng 6/2024, ECB cũng đã có 1 đợt giảm lãi suất.

Bình luận về điều này, ông Trần Hoàng Sơn cho biết, khi lãi suất của Mỹ giảm xuống thì áp lực chênh lệch lãi suất của VND-USD đã được thu hẹp và đây là điều kiện thuận lợi để Việt Nam giảm lãi suất tái cấp vốn.

Với bối cảnh hiện tại, NHNN đang có điều kiện thuận lợi để thực hiện các mục tiêu đẩy mạnh dòng vốn ra nền kinh tế trong giai đoạn cuối năm. Tại thời điểm đầu tháng 10/2024, Thống đốc NHNN Nguyễn Thị Hồng cho biết, các động lực tăng trưởng kinh tế từ phía cung và phía cầu đều cải thiện và có sự phục hồi. Lạm phát được kiểm soát khá ổn định, khả năng đạt được mục tiêu của năm 2024 và các yếu tố này đảm bảo bình quân lãi suất cho vay tiếp tục giảm. Trong khi đó về tỷ giá, VND mất giá khoảng 1,66% - đây là mức mất giá phù hợp và cũng tạo điều kiện ổn định thị trường tiền tệ và ngoại hối.

Thời gian qua, ngành Ngân hàng cũng đã đưa các giải pháp đẩy mạnh tín dụng và kết quả đến cuối tháng 9/2024, tín dụng tăng 9% so với đầu năm và tăng 16% so với cùng kỳ năm ngoái. “Thông thường, tín dụng sẽ tăng mạnh vào những tháng cuối năm, vì vậy năm nay mục tiêu tăng 15% là hoàn toàn khả thi” - bà Hồng nhận định.

Từ góc nhìn của các ngân hàng, trong bản báo cáo kết quả điều tra xu hướng kinh doanh của các tổ chức tín dụng quý IV/2024 do NHNN thực hiện, các tổ chức tín dụng khi được khảo sát cho biết các nhân tố “Chính sách lãi suất, tín dụng, tỷ giá” cùng với “Chính sách và dịch vụ chăm sóc khách hàng” là 2 nhân tố quan trọng nhất ảnh hưởng hoạt động các ngân hàng trong quý III và dự kiến cho cả năm 2024. Ngoài ra, các tổ chức tín dụng cũng đánh giá “cầu của nền kinh tế đối với sản phẩm dịch vụ của đơn vị” là nhân tố khách quan quan trọng nhất giúp cải thiện hoạt động của tổ chức tín dụng.

Lợi suất trái phiếu 10 năm giảm liên tục trong 5 tháng qua

Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm sau khi đạt đỉnh (có lúc vượt 3%) vào tháng 5/2024 đã đi vào xu hướng giảm liên tục trong 5 tháng qua và hiện đã về mức chỉ còn khoảng 2,7%. Tương tự, lợi suất trái phiếu chính phủ các kỳ hạn 5 năm và 15 năm cũng có xu hướng giảm dần đều từ đầu quý II/2024 đến nay.

Chí Tín

Đọc thêm

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Shinhan Bank lãi trước thuế 2.589,8 tỷ đồng, với nhiều nguồn thu cốt lõi tăng trưởng; dư nợ cho vay khách hàng tăng 6,2%, đạt 167.638 tỷ đồng. Các chỉ tiêu an toàn được duy trì tích cực với CAR ở mức 20,7% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,55%.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Nghệ An 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Thái Bình 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,850 ▼120K 14,450 ▼120K
Trang sức 99.99 13,860 ▼120K 14,460 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,424 ▼12K 14,542 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,424 ▼12K 14,543 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▼12K 1,449 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▼12K 145 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,394 ▼12K 1,439 ▼12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,475 ▼1188K 142,475 ▼1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,286 ▼900K 108,086 ▼900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,212 ▼816K 98,012 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,138 ▲70251K 87,938 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,252 ▼700K 84,052 ▼700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,362 ▼501K 60,162 ▼501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cập nhật: 09/09/2026 12:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18216 18491 19067
CAD 18311 18587 19203
CHF 31442 31821 32463
CNY 0 3828 3923
EUR 29560 29781 30856
GBP 34355 34747 35683
HKD 0 3179 3381
JPY 162 166 173
KRW 0 18 20
NZD 0 14885 15470
SGD 19989 20271 20838
THB 705 768 821
USD (1,2) 25697 0 0
USD (5,10,20) 25736 0 0
USD (50,100) 25764 25778 26143
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,602 29,626 31,033
JPY 164.36 164.66 174.63
GBP 34,530 34,623 35,832
AUD 18,404 18,470 19,181
CAD 18,492 18,551 19,237
CHF 31,688 31,787 32,728
SGD 20,109 20,172 20,963
CNY - 3,795 3,941
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.85 18.62 20.27
THB 752.57 761.86 815.77
NZD 14,881 15,019 15,465
SEK - 2,662 2,757
DKK - 3,971 4,111
NOK - 2,769 2,868
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,962.56 - 6,746.76
TWD 744.29 - 901.77
SAR - 6,795.37 7,162.51
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,641 29,760 30,953
GBP 34,549 34,688 35,720
HKD 3,244 3,257 3,373
CHF 31,546 31,673 32,605
JPY 164.90 165.56 173.54
AUD 18,410 18,484 19,081
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 769 772 809
CAD 18,505 18,579 19,175
NZD 14,970 15,513
KRW 18.52 20.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18399 18499 19421
CAD 18489 18589 19605
CHF 31682 31712 33294
CNY 3810.1 3835.1 3970.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29746 29776 31501
GBP 34658 34708 36476
HKD 0 3330 0
JPY 165.55 166.05 176.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15012 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20153 20283 21005
THB 0 734.4 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,765 25,795 26,180
USD20 25,745 25,795 26,180
USD1 25,695 25,795 26,180
AUD 18,449 18,549 19,671
EUR 29,540 29,640 31,312
CAD 18,438 18,538 19,852
SGD 20,234 20,384 20,947
JPY 165.81 167.31 172.93
GBP 34,557 34,707 35,795
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/09/2026 12:30
Ngân hàng