Làm mới các động lực tăng trưởng cũ, khai thác hiệu quả các động lực mới

Hà My
(TBTCO) - Tại Diễn đàn Kịch bản kinh tế Việt Nam 2024 do Bộ Ngoại giao và Tạp chí Kinh tế Việt Nam phối hợp với tổ chức ngày 11/1, các chuyên gia cho rằng, để tạo đà tăng trưởng cho năm 2024, Việt Nam củng cố, làm mới các động lực tăng trưởng hiện hữu. Đồng thời, khai thác, tận dụng hiệu quả các động lực tăng trưởng mới.
aa
Làm mới các động lực tăng trưởng cũ, khai thác hiệu quả các động lực mới
Việt Nam còn nhiều cơ hội rất mới về trí tuệ nhân tạo để là động lực tăng trưởng của những năm tiếp theo. Ảnh: TL

Nhiều cơ hội cho Việt Nam

Theo TS. Cấn Văn Lực - Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia, năm 2024 được đánh giá tiếp tục là một năm khó khăn của kinh tế thế giới với mức tăng trưởng được dự báo 2,4%, thấp hơn 0,2 - 0,5% so với năm ngoái, nhưng có ưu điểm là lạm phát và giá cả tiếp tục giảm.

Trong khi đó, năm 2023, Việt Nam tăng trưởng ở mức khá trong khu vực, đặc biệt là tín hiệu phục hồi rất rõ ràng, bắt đầu từ cuối quý II/2023 cho đến hiện nay ở các lĩnh vực là động lực tăng trưởng, các khu vực kinh tế khác nhau đều có dấu hiệu phục hồi. Kinh tế vĩ mô của Việt Nam rất ổn định, lạm phát thấp, nợ công, nợ nước ngoài, nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ so với GDP tương đối ổn, triển vọng tăng trưởng khả quan. Đối ngoại, ngoại giao kinh tế, hội nhập kinh tế của Việt Nam năm vừa qua cũng rất thành công. Điều này tạo đà cho tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2024.

Tăng sức chống chịu của nền kinh tế

Theo TS. Cấn Văn Lực, Việt Nam cần xây dựng chiến lược, giải pháp cụ thể nhằm tăng tính độc lập, tự chủ, tự cường và sức chống chịu của nền kinh tế. Trong đó bao gồm các giải pháp nâng cao vị thế và vai trò của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, chú trọng hơn phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ, tận dụng tốt hơn các FTA...

Bên cạnh các động lực tăng trưởng truyền thống, năm 2024, có nhiều động lực tăng trưởng mới được cho là sẽ thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng của Việt Nam. Theo ông Ahmed Yeganeh- Giám đốc toàn quốc Khối Dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp (Ngân hàng HSBC), những nỗ lực số hóa của Việt Nam đã thổi một luồng gió mới vào các doanh nghiệp startup, kiến tạo cơ hội và nhu cầu cho những doanh nghiệp khởi nghiệp có thể cung cấp giải pháp trên nền tảng công nghệ nhằm cải thiện hệ thống hiện tại trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ tài chính, logistics…

Bên cạnh đó, chuyển dịch năng lượng cũng là một lĩnh vực tiềm năng cho tăng trưởng và cơ hội. Việt Nam công bố cam kết mạnh mẽ tại COP26 sẽ chuyển dịch sang cân bằng phát thải vào năm 2050 và điều này đòi hỏi lượng đầu tư không hề nhỏ. Vì vậy, chuyển dịch năng lượng giờ đây trở thành trọng tâm trong các ưu tiên của Chính phủ và sẽ là một động lực tăng trưởng quan trọng.

Thêm nhận định về những luồng gió mới, bà Minh Đặng - Giám đốc Khối nghiên cứu của Dragon Capital cho rằng, Việt Nam đang đứng trước những cơ hội lớn là động lực cho tăng trưởng không phải chỉ riêng về năng lượng xanh. Theo bà, Việt Nam còn nhiều cơ hội rất mới về trí tuệ nhân tạo, ngành bán dẫn, xe điện và công nghệ sinh học làm động lực tăng trưởng của những năm tiếp theo…

Đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện thể chế

Làm mới các động lực tăng trưởng cũ, khai thác hiệu quả các động lực mới

Để tạo đà tăng trưởng cho năm 2024, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh, cần củng cố, làm mới các động lực tăng trưởng hiện hữu, chú trọng cơ cấu lại nền kinh tế sau giai đoạn dài chùng xuống vì đại dịch, chậm trễ xử lý doanh nghiệp, dự án yếu kém.

Đưa ra nhóm giải pháp củng cố các động lực tăng trưởng hiện hữu, ông nhấn mạnh tới việc đẩy mạnh giải ngân đầu tư công; kích cầu đầu tư tư nhân và tiêu dùng nội địa; hỗ trợ doanh nghiệp chịu tác động tiêu cực từ suy giảm xuất khẩu, đầu tư. Đồng thời, quan tâm thúc đẩy phục hồi và tăng trưởng của các đầu tàu kinh tế, nhất là Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh và Đà Nẵng…

Bên cạnh đó, cần nâng cao hiệu quả phối hợp chính sách (đặc biệt giữa chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác) nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô; chú trọng cơ cấu lại nền kinh tế (nhất là các doanh nghiệp nhà nước, dự án yếu kém…) nhằm thu hút và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn; lành mạnh hóa hệ thống doanh nghiệp, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế.

Nhằm phát huy, khai thác các động lực tăng trưởng mới, TS. Cấn Văn Lực nhấn mạnh tới việc đẩy nhanh tiến trình hoàn thiện thể chế (nhất là hướng dẫn thực hiện các luật đất đai, nhà ở, kinh doanh bất động sản, tổ chức tín dụng, các luật sửa đổi khác, cơ chế hỗ trợ trong bối cảnh áp dụng thuế tối thiểu toàn cầu); quan tâm xây dựng thể chế cho phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, đổi mới sáng tạo...

“Cần sớm có khung pháp lý cho các mô hình kinh tế mới, kinh doanh mới nhanh hơn, cơ chế thí điểm sandbox được chuẩn bị lâu quá. Muốn phát triển khoa học công nghệ, muốn thử cái mới, phát triển mô hình mới phải có cơ chế thử nghiệm để làm” - ông Cấn Văn Lực lưu ý.

Ở một góc nhìn khác, bà Minh Đặng cho rằng, để Việt Nam trở thành cường quốc về sản xuất cần xây dựng được hệ sinh thái đầy đủ cho các doanh nghiệp FDI lớn. Do đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ cần nhiều hỗ trợ về dòng vốn và nhân lực. Bà kỳ vọng Chính phủ tiếp tục thể hiện vai trò dẫn dắt nền kinh tế để tạo niềm tin. Với doanh nghiệp, cần phải tinh gọn để sống sót qua giai đoạn khó khăn này, với những ngành nghề đã có sự phục hồi thì phải nắm bắt được thời cơ vì Việt Nam đang đứng ở giai đoạn đầu của chu kỳ kinh tế phục hồi.

ĐẠI SỨ PHẠM QUANG VINH - NGUYÊN THỨ TRƯỞNG BỘ NGOẠI GIAO: Tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa hoạt động ngoại giao kinh tế

Làm mới các động lực tăng trưởng cũ, khai thác hiệu quả các động lực mới

Thế giới trong năm 2023 và hướng tới 2024 tiếp tục chuyển đổi trong bối cảnh bất ổn, khó lường nhưng cũng có những chuyển dịch và những tín hiệu mới mà theo đó có thể tạo ra những cơ hội, động lực mới từ những chính những thách thức và chuyển dịch phức tạp đó.

Trong đó, câu chuyện chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, hướng tới bền vững, tin cậy hơn được nhấn mạnh. Điều này không chỉ đòi hỏi Việt Nam phải tập trung vào chính sách, khung chính sách mà còn phải có kế hoạch triển khai bằng hành động cụ thể. Đồng thời Việt Nam cần phải tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa hoạt động đối ngoại, nhất là ngoại giao kinh tế, để làm sao có được quan hệ chính trị tốt, quan hệ kinh tế tốt, quan hệ nhiều mặt tốt đẹp với tất cả các trung tâm kinh tế lớn của thế giới như chúng ta đã làm trong thời gian qua. Cuối cùng, Việt Nam phải làm sao nâng cao được năng lực của quốc gia để có thể đón được, hấp thụ được những cơ hội đó.

TS. DORSATI MADANI - CHUYEN GIA KINH TẾ CAO CẤP CỦA NGÂN HÀNG THẾ GIỚI TẠI VIỆT NAM: Tương lai của Việt Nam là số, là xanh

Làm mới các động lực tăng trưởng cũ, khai thác hiệu quả các động lực mới

Có thể nhìn thấy, tương lai của Việt Nam là số, là xanh. Việt Nam có nhiều cơ hội huy động nguồn lực từ kinh tế xanh như trái phiếu xanh, thu thuế carbon, thuế bảo vệ môi trường, …

Để có được tương lai này thì cần phải có những chính sách kinh tế, tài chính vĩ mô phù hợp. Tất nhiên yếu tố quan trọng hơn là người dân, lớp trẻ cần phải có những kiến thức hiểu biết cần thiết và đòi hỏi cần tiếp tục thu hút được vốn FDI trong các dự án công nghệ cao. Qua đó, giúp Việt Nam xây dựng được năng lực, hướng tới mục tiêu là một quốc gia phát triển, có thu nhập cao.

Cần làm sao không chỉ phối hợp chính sách mà ở khu vực công và khu vực tư cũng phải có những hành động để hấp thụ những cơ hội liên quan đến tài chính xanh. Đồng thời cũng cần phải tập trung phát triển khối tư nhân, các doanh nghiệp địa phương thực sự mạnh mẽ hơn nữa. Tôi tin rằng Việt Nam đang có một tương lai rất đẹp.

Hà My

Đọc thêm

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Thủ tướng Phạm Minh Chính dự Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Nga

Phát biểu tại Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - Liên bang Nga, Thủ tướng Phạm Minh Chính mong muốn doanh nghiệp hai nước tăng cường trao đổi, tìm kiếm cơ hội hợp tác đầu tư, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

Chuỗi cung ứng đảo chiều, luật chơi thay đổi: Doanh nghiệp Việt còn bao nhiêu thời gian?

(TBTCO) - Theo các chuyên gia, doanh nghiệp Việt đang bước vào một cuộc cạnh tranh mới, khi chuỗi cung ứng đảo chiều và “luật chơi” thị trường thay đổi nhanh chóng. Lợi thế giá rẻ không còn mang tính quyết định, trong khi áp lực từ địa chính trị, tiêu chuẩn xanh và yêu cầu chuỗi cung ứng buộc doanh nghiệp phải tái cấu trúc nhanh hơn, sâu hơn và thực chất hơn.
EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

EuroCham ra mắt Sách Trắng 2026: Định vị Việt Nam cho làn sóng đầu tư châu Âu tiếp theo

(TBTCO) - Trong bối cảnh các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ EUR đang là tâm điểm tại Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam - Chiến lược Cửa ngõ toàn cầu tổ chức ngày 24/3 tại Hà Nội, Hiệp hội Doanh nghiệp châu Âu tại Việt Nam (EuroCham) đã chính thức ra mắt ấn bản thứ 17 của Sách Trắng. Ấn phẩm thường niên này đóng vai trò là công cụ chiến lược nhằm hỗ trợ việc triển khai hiệu quả và bền vững các dòng vốn đầu tư quy mô lớn từ châu Âu vào Việt Nam.
Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

Việt Nam - EU mở rộng hợp tác chiến lược, đón dòng vốn 560 triệu EUR cho hạ tầng và tăng trưởng xanh

(TBTCO) - Sáng 24/3 tại Hà Nội, Diễn đàn Kinh doanh và Đầu tư EU - Việt Nam quy tụ khoảng 500 đại biểu cấp cao hai bên, diễn ra trong bối cảnh quan hệ vừa nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sự kiện ghi nhận gói đầu tư hơn 560 triệu EUR, mở rộng hợp tác trong giao thông hiện đại, năng lượng sạch và các động lực tăng trưởng mới.
Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

Các quốc gia chủ động ứng phó nguy cơ gián đoạn nguồn cung năng lượng toàn cầu

(TBTCO) - Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước (Bộ Công thương) cho biết, gián đoạn tại eo biển Hormuz đang gây biến động mạnh thị trường năng lượng toàn cầu, vượt cả các cú sốc dầu mỏ thập niên 1970, buộc nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, khẩn trương ứng phó để bảo đảm nguồn cung và ổn định kinh tế.
“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

“Nắn” dòng vốn PPP vào khu vực phía Nam TP. Đà Nẵng

(TBTCO) - Gần 300 nghìn tỷ đồng là số vốn đầu tư mà Đà Nẵng dự kiến thu hút đầu tư theo phương thức đối tác công - tư (PPP) vào khu vực phía Nam thành phố nhằm khai thác dư địa cho phát triển công nghiệp, du lịch, hệ sinh thái đô thị sân bay, cảng biển, hạ tầng, hướng đến xây dựng khu vực này trở thành cực tăng trưởng tích cực.
Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

Thúc đẩy phát triển ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, năng lượng mới

(TBTCO) - Phó Thủ tướng Bùi Thanh Sơn vừa ký Quyết định số 458/QĐ-TTg phê duyệt Đề án cập nhật triển khai Tuyên bố chính trị thiết lập quan hệ đối tác chuyển đổi năng lượng công bằng.
Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

Bảo đảm nguồn lực để phát triển nền kinh tế số

(TBTCO) - Để bảo đảm nguồn lực phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, Thủ tướng yêu cầu rà soát, tổng hợp, đề xuất bố trí ngân sách tập trung cho các nhiệm vụ trọng điểm ngay trong quý I/2026.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Kim TT/AVPL 17,210 ▲480K 17,510 ▲480K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Nguyên Liệu 99.99 16,500 ▲700K 16,700 ▲700K
Nguyên Liệu 99.9 16,450 ▲700K 16,650 ▲700K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 17,050 ▲650K 17,450 ▲650K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 17,000 ▲650K 17,400 ▲650K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,930 ▲650K 17,380 ▲650K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Hà Nội - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đà Nẵng - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Miền Tây - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Tây Nguyên - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
Đông Nam Bộ - PNJ 171,900 ▲4900K 174,900 ▲4900K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Nghệ An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
Miếng SJC Thái Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 17,200 ▲480K 17,500 ▲480K
NL 99.90 16,270 ▲800K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 16,300 ▲800K
Trang sức 99.9 16,690 ▲480K 17,390 ▲480K
Trang sức 99.99 16,700 ▲480K 17,400 ▲480K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 172 ▼1500K 17,502 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 172 ▼1500K 17,503 ▲480K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,718 ▲1551K 1,748 ▲1578K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,718 ▲1551K 1,749 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,698 ▲1533K 1,733 ▲48K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 165,084 ▲4752K 171,584 ▲4752K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 121,238 ▲3600K 130,138 ▲3600K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 109,106 ▲3265K 118,006 ▲3265K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 96,974 ▲2929K 105,874 ▲2929K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 92,294 ▲2799K 101,194 ▲2799K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 63,523 ▲2001K 72,423 ▲2001K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 172 ▼1500K 175 ▼1527K
Cập nhật: 25/03/2026 13:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17838 18111 18690
CAD 18595 18872 19489
CHF 32708 33093 33746
CNY 0 3470 3830
EUR 29917 30189 31220
GBP 34482 34874 35800
HKD 0 3236 3438
JPY 159 163 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15010 15598
SGD 20053 20335 20861
THB 722 785 838
USD (1,2) 26084 0 0
USD (5,10,20) 26125 0 0
USD (50,100) 26153 26173 26359
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,139 26,139 26,359
USD(1-2-5) 25,094 - -
USD(10-20) 25,094 - -
EUR 30,073 30,097 31,345
JPY 161.38 161.67 170.41
GBP 34,719 34,813 35,798
AUD 18,078 18,143 18,717
CAD 18,779 18,839 19,418
CHF 33,023 33,126 33,886
SGD 20,187 20,250 20,924
CNY - 3,760 3,860
HKD 3,297 3,307 3,425
KRW 16.26 16.96 18.34
THB 773.63 783.18 833.38
NZD 15,041 15,181 15,540
SEK - 2,780 2,862
DKK - 4,025 4,141
NOK - 2,668 2,747
LAK - 0.93 1.29
MYR 6,232.31 - 6,992.8
TWD 745.53 - 897.62
SAR - 6,894.03 7,217.19
KWD - 83,555 88,358
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,109 26,139 26,359
EUR 30,029 30,150 31,328
GBP 34,728 34,867 35,873
HKD 3,297 3,310 3,426
CHF 32,853 32,985 33,909
JPY 162.03 162.68 170
AUD 18,064 18,137 18,725
SGD 20,262 20,343 20,925
THB 791 794 829
CAD 18,792 18,867 19,438
NZD 15,128 15,659
KRW 16.91 18.56
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26160 26160 26359
AUD 18091 18191 19119
CAD 18809 18909 19927
CHF 33067 33097 34689
CNY 3764.6 3789.6 3925.4
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 30184 30214 31937
GBP 34903 34953 36705
HKD 0 3355 0
JPY 162.64 163.14 173.65
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.172 0
MYR 0 6810 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 15196 0
PHP 0 410 0
SEK 0 2830 0
SGD 20256 20386 21121
THB 0 756.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 17100000 17100000 17600000
SBJ 15000000 15000000 17600000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,155 26,205 26,359
USD20 26,155 26,205 26,359
USD1 23,849 26,205 26,359
AUD 18,099 18,199 19,330
EUR 30,290 30,290 31,732
CAD 18,732 18,832 20,158
SGD 20,305 20,455 21,453
JPY 162.88 164.38 169.1
GBP 34,739 35,089 36,003
XAU 16,718,000 0 17,022,000
CNY 0 3,669 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 25/03/2026 13:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80