Lợi nhuận ngân hàng kỳ vọng “ăn theo” nền kinh tế, nhưng vẫn cảnh báo rủi ro

Chí Tín
(TBTCO) - Các tín hiệu phục hồi của nền kinh tế mở ra cơ hội đẩy mạnh hoạt động cho vay của ngân hàng và mở ra kỳ vọng duy trì lợi nhuận tốt cho nhóm này trong giai đoạn còn lại năm 2024. Tuy nhiên, rủi ro nợ xấu vẫn là yếu tố cảnh báo, đặc biệt các số liệu kinh doanh cũng có thể bị ảnh hưởng khi các ngân hàng phải thực hiện quy định trích lập dự phòng.
aa
Lợi nhuận ngân hàng kỳ vọng “ăn theo” nền kinh tế, nhưng vẫn cảnh báo rủi ro
Trong năm 2024, 86,2% tổ chức tín dụng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng trưởng dương so với năm 2023. Ảnh tư liệu.

Kỳ vọng từ sức bật nền kinh tế

Sau nhịp tăng trưởng mạnh trong tháng 6, tăng trưởng tín dụng có phần sụt giảm trong tháng 7, nhưng diễn biến chung của nền kinh tế vẫn mở ra kỳ vọng cho các ngân hàng đẩy mạnh cho vay trong những tháng còn lại cuối năm.

Bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng thuộc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cho biết, tín dụng đã đáp ứng các yêu cầu chung của nền kinh tế. Riêng tín dụng thuộc các lĩnh vực ưu tiên đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với mặt bằng chung, đặc biệt, tín dụng nông nghiệp nông thôn có tỷ trọng lớn nhất trong các lĩnh vực ưu tiên.

Đại diện NHNN cho biết, các yếu tố khách quan từ nền kinh tế cũng đang phát đi những tín hiệu tích cực, khi kinh tế tăng trưởng tốt thì nhu cầu vay vốn cũng sẽ tăng cao hơn. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý II/2024 tăng khá, thể hiện rõ xu hướng phục hồi của nền kinh tế với tốc độ tăng ước đạt 6,93% so với cùng kỳ năm trước, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 7,99% của quý II/2022 trong giai đoạn 2020-2024. Tính chung GDP 6 tháng đầu năm 2024 tăng 6,42%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 6,58% của 6 tháng đầu năm 2022 trong giai đoạn 2020-2024. Nhiều tổ chức quốc tế gần đây đã đưa những dự báo lạc quan về tăng trưởng GDP cả năm 2024, với khả năng có thể đạt khoảng 6,5% - 6,9%.

Ở góc độ ngân hàng thương mại, ông Phạm Như Ánh - Tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) cho biết, khi đặt ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng, điều mà MB và các ngân hàng kỳ vọng nhất là sức hấp thụ của nền kinh tế. Ngoài sức hấp thụ của nền kinh tế, hiện nay các ngân hàng đều có các giải pháp tổng hợp, không có giải pháp duy nhất nào để đảm bảo tăng trưởng tín dụng và hấp thụ thị trường. Riêng với MB, mục tiêu tăng trưởng tín dụng của ngân hàng này năm nay khoảng 15,5% và ngân hàng dự kiến sẽ hoàn thành mục tiêu vào khoảng giữa quý IV.

Vẫn cảnh báo các yếu tố rủi ro

Kết quả điều tra xu hướng kinh doanh ngân hàng quý III/2024 do Vụ Dự báo thống kê thuộc NHNN thực hiện cho thấy, các tổ chức tín dụng dự báo nhu cầu sử dụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng có thể cải thiện tốt hơn trong quý III/2024 so với quý II/2024 và trong năm 2024 so với năm 2023 khi nền kinh tế có nhiều diễn biến tích cực và phục hồi.

Trong đó, nhu cầu vay vốn được kỳ vọng cải thiện nhiều hơn nhu cầu gửi tiền và thanh toán. Theo nhận định của các tổ chức tín dụng, thanh khoản của hệ thống ngân hàng trong quý II/2024 vẫn duy trì trạng thái tốt. Các ngân hàng dự báo tình hình thanh khoản sẽ tiếp tục cải thiện trong quý III/2024 và cả năm 2024 so với năm 2023.

Về kỳ vọng lợi nhuận, tình hình kinh doanh tổng thể và lợi nhuận trước thuế của hệ thống ngân hàng trong quý II/2024 có cải thiện, nhưng chưa thực sự rõ nét so với quý I/2024 và chưa đạt được như kỳ vọng của các ngân hàng. 70 - 75,5% tổ chức tín dụng kỳ vọng tình hình kinh doanh sẽ khả quan hơn trong quý III/2024 và cả năm 2024. Trong năm 2024, 86,2% tổ chức tín dụng kỳ vọng lợi nhuận trước thuế tăng trưởng dương so với năm 2023, bên cạnh đó, vẫn có 11% tổ chức tín dụng lo ngại lợi nhuận tăng trưởng âm trong năm 2024 và 2,8% ước tính lợi nhuận không thay đổi.

Mặc dù vậy, một số chuyên gia kinh tế cũng cảnh báo về rủi ro cho vay, PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên cao cấp thuộc Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho biết, nợ xấu tăng cũng có thể sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng.

Trong khi đó, trong kết quả điều tra xu hướng kinh doanh ngân hàng quý III/2024 cũng đưa ra thông tin cho biết, mặt bằng rủi ro tổng thể của các nhóm khách hàng được các tổ chức tín dụng nhận định tiếp tục tăng trong quý II/2024 và được dự báo tiếp tục xu hướng tăng nhẹ trong quý III/2024. Đánh giá tổng thể năm 2024, các tổ chức tín dụng dự báo mặt bằng rủi ro tổng thể của các nhóm khách hàng tiếp tục tăng nhẹ, nhưng tốc độ tăng mặt bằng rủi ro đã chậm lại so với năm 2023.

Về mặt cơ chế, các ngân hàng cũng đã được thực hiện kéo dài thời gian giãn, hoãn nợ cho khách hàng gặp khó khăn đến hết năm 2024. Việc này được thực hiện theo Thông tư 06/2024/TT-NHNN sửa đổi bổ sung Thông tư 02/2023/TT-NHNN. Việc được thực hiện kéo dài thời gian hoãn, giãn nợ giúp các ngân hàng không phải chuyển nhóm nợ với một số khoản nợ mà thực chất khách hàng vẫn khó khăn chưa trả được nợ, giúp phần nào không làm cho số liệu nợ xấu bị tăng lên trên sổ sách.

Tuy nhiên, theo quy định tại Thông tư 02 và Thông tư 06, các ngân hàng vẫn phải thực hiện trích lập dự phòng rủi ro đối với các khoản nợ đang thực hiện giãn, hoãn nợ cho khách hàng thuộc đối tượng này. Theo đó, việc này cũng vẫn sẽ làm giảm lợi nhuận tương ứng với số tiền phải thực hiện trích lập dự phòng.

Tăng trưởng tín dụng quý III/2024 có thể đạt 3,7%

Vụ Dự báo thống kê của Ngân hàng Nhà nước đưa ra dự báo, dư nợ tín dụng toàn hệ thống được kỳ vọng tăng bình quân 3,7% trong quý III/2024 và tăng 14,1% trong năm 2024. Dự báo này đã được điều chỉnh tăng 0,47% so với mức dự báo 13,6% tại kỳ điều tra trước. Huy động vốn toàn hệ thống được kỳ vọng tăng bình quân 3,3% trong quý III/2024 và tăng 10,1% trong năm 2024.

Chí Tín

Đọc thêm

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

VDB vinh dự nhận Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững tại Đức

(TBTCO) - Ngày 27–28/8/2026 vừa qua, Đoàn công tác của Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) do Phó Tổng Giám đốc Bùi Văn Thông dẫn đầu đã tham dự Hội nghị Tài chính Bền vững Toàn cầu lần thứ 16 tại thành phố Karlsruhe, Đức. Đặc biệt, trong khuôn khổ hội nghị, VDB đã vinh dự được trao Giải thưởng Đổi mới sáng tạo xuất sắc trong Sản phẩm và Dịch vụ Tài chính Bền vững (Best Innovation in Sustainable Financial Products & Services) cho Dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng.
VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

VPBank tung game mới, khách hàng nhận ưu đãi kép khi tham gia Hoàn tiền Thịnh Vượng

(TBTCO) - Từ nay, khách hàng có thêm cơ hội nhận e-voucher từ VPBank thông qua chương trình ưu đãi “Hoàn tiền Thịnh Vượng ngay – Mở quà liền tay”. Cơ chế ưu đãi chồng ưu đãi này đang tạo thêm sức hút cho chương trình Hoàn tiền Thịnh Vượng, giúp mỗi lần mua sắm của khách hàng trở nên thú vị hơn.
BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

BAC A BANK tặng loa và miễn phí SIM 4G cho hộ kinh doanh

(TBTCO) - Đồng hành cùng hộ kinh doanh, BAC A BANK tiếp tục mang đến ưu đãi thiết thực cho khách hàng đăng ký tham gia chương trình “Ting Ting thảnh thơi – Săn hời ưu đãi” từ 03/09/2026 đến hết 28/02/2027.
Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

Cân đối vốn thời dư địa hẹp, ngân hàng tìm đường khơi dòng

(TBTCO) - Tín dụng tăng nhanh hơn huy động, nới khoảng cách lên 2,8 triệu tỷ đồng, gia tăng nhiều sức ép. Trong khi nợ xấu gây “kẹt” dòng tiền quay vòng, các ngân hàng tìm cách đa dạng nguồn vốn, còn nhà điều hành dùng nhiều công cụ “nới” không gian thanh khoản, đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng cao cuối năm.
Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

Tín dụng trung và dài hạn tăng tốc, NIM thêm lực đỡ nhưng đi kèm áp lực phía sau

(TBTCO) - Dư nợ nhóm ngân hàng niêm yết tăng 8,9% nửa đầu năm, trong đó, cho vay trung, dài hạn tăng cao hơn, đẩy tỷ trọng chiếm 47,3% tổng dư nợ. Xu hướng kéo dài kỳ hạn cho vay được kỳ vọng hỗ trợ NIM, khi tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung, dài hạn được nới lên 40%, song lợi ích trước mắt cũng đặt áp lực lớn hơn lên cân đối nguồn vốn.
Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

Giá vàng hôm nay ngày 2/9: Vàng thế giới và trong nước tiếp tục giảm

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giảm khoảng 100 USD/ounce, xuống 4.329 USD/ounce. Trong nước, vàng miếng và vàng nhẫn cũng đồng loạt điều chỉnh, có nơi giảm tới 700.000 đồng/lượng.
Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

Tỷ giá USD hôm nay (1/9): DXY lùi nhẹ, thị trường chờ tín hiệu lạm phát trước quyết định lãi suất của ECB

(TBTCO) - Phiên đầu tháng 1/9, trong kỳ nghỉ lễ Quốc khánh 2/9, tỷ giá trung tâm giữ ở mức 25.610 đồng. Trong khi đó, chỉ số DXY lùi về 99,41 điểm, thị trường định giá 64% khả năng Fed tăng lãi suất ngày 16/9. Tại châu Âu, giới đầu tư chờ Chỉ số giá tiêu dùng hài hòa (HICP) tháng 8, khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) được dự báo tiếp tục tăng lãi suất.
Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

Giá vàng hôm nay ngày 1/9: Vàng thế giới nhích tăng, vàng nhẫn diễn biến trái chiều

(TBTCO) - Giá vàng thế giới giao dịch ở mức 4.456 USD/ounce, tăng nhẹ so với sáng qua. Trong nước, giá vàng nhẫn biến động trái chiều, với mức điều chỉnh từ 300.000 - 600.000 đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 145,100 148,500
Hà Nội - PNJ 145,100 148,500
Đà Nẵng - PNJ 145,100 148,500
Miền Tây - PNJ 145,100 148,500
Tây Nguyên - PNJ 145,100 148,500
Đông Nam Bộ - PNJ 145,100 148,500
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,560 14,860
Miếng SJC Nghệ An 14,560 14,860
Miếng SJC Thái Bình 14,560 14,860
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,560 14,910
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,560 14,910
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,560 14,910
NL 99.99 13,700
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,600
Trang sức 99.9 14,220 14,820
Trang sức 99.99 14,230 14,830
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,456 14,862
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,456 14,863
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,451 1,481
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,451 1,482
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,426 1,471
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 138,644 145,644
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 100,686 110,486
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 90,388 100,188
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 8,009 8,989
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 76,118 85,918
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,697 61,497
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,456 1,486
Cập nhật: 05/09/2026 08:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18226 18501 19078
CAD 18339 18615 19235
CHF 31549 31929 32585
CNY 0 3840 3936
EUR 29649 29870 30951
GBP 34447 34839 35790
HKD 0 3193 3395
JPY 159 163 170
KRW 0 18 20
NZD 0 15004 15595
SGD 20023 20306 20876
THB 707 770 823
USD (1,2) 25793 0 0
USD (5,10,20) 25833 0 0
USD (50,100) 25861 25875 26245
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,880 25,880 26,260
USD(1-2-5) 24,845 - -
USD(10-20) 24,845 - -
EUR 29,704 29,728 31,135
JPY 162.17 162.46 172.31
GBP 34,625 34,719 35,932
AUD 18,418 18,485 19,190
CAD 18,535 18,595 19,281
CHF 31,831 31,930 32,878
SGD 20,139 20,202 21,003
CNY - 3,810 3,956
HKD 3,257 3,267 3,404
KRW 17.77 18.53 20.16
THB 754.8 764.12 818.14
NZD 14,990 15,129 15,582
SEK - 2,684 2,778
DKK - 3,984 4,125
NOK - 2,755 2,852
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,022.66 - 6,799.36
TWD 742.75 - 899.84
SAR - 6,823.72 7,187.59
KWD - 82,620 87,911
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,875 25,905 26,285
EUR 29,785 29,905 31,100
GBP 34,683 34,822 35,855
HKD 3,260 3,273 3,390
CHF 31,753 31,881 32,810
JPY 163.36 164.02 172
AUD 18,453 18,527 19,125
SGD 20,234 20,315 20,912
THB 772 775 812
CAD 18,578 18,653 19,250
NZD 15,125 15,670
KRW 18.36 20.35
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25848 25848 26260
AUD 18409 18509 19431
CAD 18523 18623 19637
CHF 31777 31807 33389
CNY 3821.7 3846.7 3981.8
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29817 29847 31572
GBP 34733 34783 36535
HKD 0 3330 0
JPY 162.99 163.49 174.04
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.5 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15115 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20172 20302 21024
THB 0 735.5 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14560000 14560000 14860000
SBJ 13000000 13000000 14860000
Cập nhật: 05/09/2026 08:00
Ngân hàng