"Mở khóa” tín dụng, nhiều lực đẩy mới với gói cho vay nhà ở xã hội

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tại Hà Nội, nhiều dự án nhà ở xã hội mới được cấp phép, với hàng nghìn căn hộ sắp độ bộ giúp giải toả cho cơn khát nhà giá rẻ trên địa bàn Thủ đô. Ngành Ngân hàng cũng cam kết đồng hành mạnh mẽ hơn khi được tạo điều kiện giải ngân gói tín dụng nhà ở xã hội mà không phải tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025.
aa
"Mở khóa” tín dụng, nhiều lực đẩy mới với gói cho vay nhà ở xã hội
Lãi suất cần xem xét ở mức hợp lý để đẩy nhanh giải ngân gói tín dụng ưu đãi. Ảnh tư liệu

Không còn nằm "đắp chiếu" để cỏ dại mọc um tùm như những năm trước đây, cuối năm 2024, chung cư cao tầng CT1 thuộc dự án khu nhà ở xã hội Thượng Thanh trên địa bàn quận Long Biên, TP. Hà Nội chính thức được Sở Xây dựng Hà Nội cấp giấy phép xây dựng. Toà chung cư cao 22 tầng nổi và 3 tầng hầm, dự kiến ra Tết thi công móng và quý III/2025 mở bán, cung ứng khoảng 700 căn hộ dự kiến với mức giá khoảng 19,5 triệu đồng/m2.

Đẩy mạnh gói tín dụng nhà ở xã hội

Để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng và 9 ngân hàng đã đăng ký gói 145.000 tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản ngày 3/1 cho phép các ngân hàng thương mại cho vay những đối tượng thuộc chương trình không phải tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Điều này có nghĩa là dư nợ cho vay nhà ở xã hội sẽ căn cứ theo nhu cầu của thị trường và điều kiện các ngân hàng thương mại có thể cho vay. Từ đó, đẩy mạnh tín dụng nhà ở xã hội và góp phần thực hiện mục tiêu 1 triệu nhà ở xã hội đến năm 2030.

Dự kiến đến năm 2025, TP. Hà Nội phải xây dựng 18.700 căn nhà ở xã hội nhưng tới cuối năm 2024 mới hoàn thành 37% số lượng, với 3 dự án được khởi công và 5 dự án xây dựng xong. Vì vậy, cùng với dự án khu nhà ở xã hội Thượng Thanh, dự án nhà ở xã hội Hạ Đình cao 25 tầng, Vĩnh Hưng cao 31 tầng hay dự án nhà ở xã hội thuộc Khu đô thị Kim Hoa huyện Mê Linh... cũng được cấp phép xây dựng và mở bán sắp tới được kỳ vọng cải thiện nguồn cung nhà ở xã hội đang khan hiếm tại Thủ đô.

Lực đẩy từ hai phía cung - cầu

Về nguồn vốn hỗ trợ nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng cho biết, các bộ, ngành nghiên cứu có các nguồn vốn hỗ trợ, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 do các ngân hàng thương mại chủ động cân đối.

Hiện tổng nguồn vốn đã lên tới 145 nghìn tỷ đồng, số tiền này tương đương khoảng 12% nhu cầu vốn để thúc đẩy thực hiện mục tiêu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân giai đoạn 2021 - 2030, giúp chủ đầu tư và người mua nhà các dự án với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung dài hạn VND bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước trong từng thời kỳ.

"Đến nay, mới có 37/63 UBND tỉnh gửi văn bản hoặc công bố trên cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia chương trình với tổng số 90 dự án. Doanh số giải ngân của chương trình đạt 2.360 tỷ đồng gồm: 2.162 tỷ đồng cho chủ đầu tư tại 17 dự án; 198 tỷ đồng cho người mua nhà tại 15 dự án" - Bộ Xây dựng thông tin.

Cuối năm 2024, Bộ Xây dựng đã báo cáo Thủ tướng về nguồn vốn tín dụng ưu đãi để Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay mua, thuê mua, xây dựng cải tạo, sửa chữa nhà ở để thực hiện chính sách nhà ở xã hội với giá trị khoảng 30.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, nhiều ưu đãi dành cho chủ đầu tư nhà ở xã hội có hiệu lực thi hành từ năm 2025 sẽ góp phần khuyến khích, đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, đảm bảo giá nhà ở mức vừa phải để cán bộ, công nhân, người lao động có thu nhập thấp có điều kiện mua nhà ở, ổn định cuộc sống. Một số ưu đãi có thể kể đến như: miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, ưu đãi về thuế theo pháp luật về thuế, chủ đầu tư được hưởng lợi nhuận 10%, được bố trí diện tích đất hoặc diện tích sàn kinh doanh thương mại và không phải hạch toán vào giá nhà ở xã hội.

Bên cạnh những lực đẩy cải thiện nguồn cung, về phía cầu, điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội mang tính mở hơn, không yêu cầu điều kiện cư trú mà chỉ nêu một số điều kiện về nhà ở và thu nhập. Đây là tín hiệu tốt giúp chạm tới giấc mơ an cư trong bối cảnh giá nhà ở đang vượt quá tầm với so với thu nhập của đại bộ phận người dân.

Nỗ lực gỡ khó, mở khóa tín dụng

Sở dĩ chương trình cho vay ưu đãi vẫn "ế" dài, đại diện NHNN từng chia sẻ lý do bởi nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế, một số dự án còn gặp vướng mắc về mặt pháp lý, thủ tục đầu tư, đất đai, khiến dự án giải ngân chậm. Bên cạnh đó, đa số người dân trên địa bàn thuộc khu vực nông thôn, có thu nhập thấp hoặc đối với công nhân trong các khu công nghiệp không có nhu cầu ở dài hạn nên không có nhu cầu mua nhà ở xã hội, chỉ có nhu cầu thuê nhà ở xã hội...

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng lãi suất ưu đãi, giảm 1,5 - 2% nhưng vẫn ở mức cao, đặc biệt là khi so sánh với gói 30 nghìn tỷ được thực hiện từ năm 2013 đến nay. Gói lãi suất này ban đầu áp dụng là 6%/năm, sau đó lãi suất giảm dần và còn mức 4,7%/năm áp dụng trong năm 2025. Vì vậy, lãi suất cần xem xét ở mức hợp lý hơn, thời gian kéo dài để đẩy nhanh giải ngân gói tín dụng ưu đãi.

Để tháo gỡ vướng mắc này và đẩy nhanh gói 145 nghìn tỷ đồng, chia sẻ với báo giới, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cho biết, NHNN đã và đang chỉ đạo các ngân hàng thương mại coi trọng gói tín dụng này, đây là một trong những giải pháp hỗ trợ rất tích cực cho Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội.

"Đây là một giải pháp rất căn cơ và quan trọng để giải quyết vấn đề nhà ở cho những người nghèo, người có thu thấp" - ông Tú nói.

NHNN cũng vừa ban hành văn bản yêu cầu những ngân hàng đã đăng ký phải thực hiện tốt những cam kết về lãi suất ưu đãi, thời hạn cho vay trung và dài hạn, phù hợp với đối tượng và nhu cầu vay.

Là một trong chín ngân hàng cam kết đồng hành cùng chương trình - bà Phùng Thị Bình, Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, thực hiện Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023, Agribank đăng ký gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng và sẽ triển khai trong vòng 10 năm.

"Tính đến ngày 31/12/2024, Agribank cấp tín dụng cho 13 chủ đầu tư dự án và 252 khách hàng cá nhân mua nhà tại các dự án, với tổng mức tín dụng gần 4.000 tỷ và dư nợ hiện tại còn 1.000 tỷ đồng" - bà Bình cho biết.

Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cách xa mục tiêu đề ra

Mặc dù đạt được một số kết quả quan trọng, tuy nhiên, theo Bộ Xây dựng, việc triển khai, thực hiện Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn 2021 - 2025 tại một số địa phương chưa đạt mục tiêu đề ra. Tổng số các dự án đã hoàn thành tính đến tháng 12/2024, đã khởi công xây dựng mới đạt khoảng 40% mục tiêu giai đoạn 2021-2025. Vì vậy, những thách thức ngày càng nặng nề cho giai đoạn 5 năm sắp tới để đạt mục tiêu đề ra.

Để đẩy nhanh phát triển các dự án nhà ở xã hội - bà Phùng Thị Bình, Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, ngân hàng sẵn sàng đáp ứng đầy đủ vốn cho các nhu cầu phát triển các dự án, đặc biệt tại những tỉnh thành có nhu cầu thực, phục vụ người dân.

Cũng theo bà Bình, việc NHNN ban hành văn bản không tính tăng trưởng cho vay nhà ở xã hội vào tăng trưởng tín dụng chung tạo thuận lợi giúp các ngân hàng có điều kiện dành nguồn lực cho các lĩnh vực khác. Một tín hiệu tích cực nữa là trong quý IV/2024, vấn đề pháp lý được các tỉnh, thành tháo gỡ. Nhiều chủ đầu tư phản ánh nhiều hồ sơ pháp lý trước đây có thể mất nửa năm mới giải quyết được, còn hiện chỉ cần 2 tháng là xử lý xong.

"Sự vào cuộc quyết liệt của các chính quyền địa phương trong giải quyết vấn đề pháp lý các dự án sẽ tạo thuận lợi hơn cho ngân hàng cho vay các dự án nhà ở xã hội" - bà Bình kỳ vọng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

Hải Phòng phấn đấu tỷ lệ bao phủ Bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên trong năm 2026

(TBTCO) - UBND TP. Hải Phòng vừa ban hành Kế hoạch số 95/KH-UBND về việc triển khai thực hiện chỉ tiêu, nhiệm vụ công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp năm 2026 trên địa bàn thành phố. Kế hoạch đặt mục tiêu tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt 95,5% dân số trở lên.
Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

Cho thuê tài chính “chia tải” vốn trung - dài hạn, gánh bớt áp lực cho ngân hàng

(TBTCO) - Dòng vốn cho thuê tài chính nổi lên như kênh bổ trợ quan trọng trong bối cảnh ngành ngân hàng “lấy ngắn nuôi dài”, với gần 50% dư nợ là trung - dài hạn và tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn nhiều nơi tiến sát 30%. Với dư nợ 45,7 nghìn tỷ đồng cuối năm 2025 và tăng trưởng ổn định, kênh này trở thành “mạch dẫn” vốn cho doanh nghiệp sản xuất thực và san sẻ áp lực cho hệ thống ngân hàng.
Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

Giá vàng thủng mốc 4.500 USD/ounce, chuyên gia lý giải áp lực bán mạnh

(TBTCO) - Giá vàng thế giới thủng 4.500 USD/ounce, trong khi trong nước “neo giá” khiến chênh lệch nới rộng khoảng 25 triệu đồng/lượng; từ đỉnh, giá vàng trong nước mới giảm 10%, thấp hơn mức giảm khoảng 20% của thế giới. Giới phân tích cho rằng kỳ vọng lãi suất đang chi phối mạnh, áp lực bán gia tăng, thậm chí một số ngân hàng trung ương có thể dùng dự trữ vàng để ổn định đồng nội tế trước căng thẳng Trung Đông.
Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

Siết kỷ luật để thị trường bảo hiểm phát triển bền vững

(TBTCO) - Nghị định số 78/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm, có hiệu lực từ ngày 1/5/2026 sẽ nâng trần xử phạt bằng tiền, mở rộng thẩm quyền xử phạt cho nhiều cấp và bổ sung hình thức xử phạt trên môi trường điện tử. Qua đó, chấn chỉnh và xử nghiêm các sai phạm, bảo vệ quyền lợi người tham gia bảo hiểm và củng cố sự phát triển bền vững của thị trường.
21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

21 năm đồng hành, Chubb Life Việt Nam nâng chuẩn phục vụ trên toàn quốc

(TBTCO) - Sau 21 năm hiện diện tại Việt Nam, Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Chubb Việt Nam (Chubb Life Việt Nam) triển khai chuyển đổi toàn diện hệ thống văn phòng kinh doanh và trung tâm phục vụ khách hàng trên toàn quốc trong bối cảnh thị trường bảo hiểm nhân thọ đang chuyển dịch theo hướng lấy chất lượng dịch vụ làm yếu tố khác biệt then chốt thay vì chỉ dựa vào đặc tính sản phẩm. Đây được xem là bước chuyển chiến lược nhằm xây dựng một hành trình dịch vụ liền mạch, chuyên nghiệp và lấy khách hàng làm trọng tâm.
Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

Vietcombank ra mắt thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO

(TBTCO) - Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) vừa phối hợp cùng Visa và Công ty TNHH MTV Đường sắt Hà Nội (Hanoi Metro) chính thức ra mắt dòng thẻ đồng thương hiệu Vietcombank Visa Hanoi Metro - MeGO. Sản phẩm được phát triển theo định hướng kết nối dịch vụ tài chính với hạ tầng giao thông đô thị, mang đến giải pháp thanh toán thuận tiện, đồng thời hướng tới khuyến khích các hành vi tiêu dùng bền vững trong đời sống hàng ngày.
Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Tỷ giá USD hôm nay (26/3): Thế giới tăng, Ngân hàng Nhà nước giảm

Sáng ngày 26/3, tỷ giá trung tâm VND với đồng USD tại Ngân hàng Nhà nước ở mức 25.102 VND, giảm 2 VND so với phiên giao dịch trước. Trên thị trường Mỹ, chỉ số US Dollar Index (DXY) đo lường biến động đồng bạc xanh với 6 đồng tiền chủ chốt (EUR, JPY, GBP, CAD, SEK, CHF) tăng 0,19%, hiện ở mức 99,63 điểm.
Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

Lãi suất huy động chạm 9%/năm - áp lực vốn lan rộng

(TBTCO) - Khảo sát gần 50 ngân hàng ngày 24/3 cho thấy, lãi suất huy động tiếp tục tăng, với 10 ngân hàng nâng lãi suất kỳ hạn 6 tháng và 15 ngân hàng tăng ở kỳ hạn 12 tháng chỉ chưa đầy 1 tháng; mức cao nhất đã chạm 9%/năm. Trước diễn biến này, các ngân hàng lớn đều có dự tính riêng về điều hành chính sách lãi suất, khi dự báo chi phí vốn sẽ chịu áp lực.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Kim TT/AVPL 16,870 ▲10K 17,170 ▲10K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Nguyên Liệu 99.99 15,900 ▲100K 16,100 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 15,850 ▲100K 16,050 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,700 ▲150K 17,100 ▲150K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 16,650 ▲150K 17,050 ▲150K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 16,580 ▲150K 17,030 ▲150K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Hà Nội - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đà Nẵng - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Miền Tây - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Tây Nguyên - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
Đông Nam Bộ - PNJ 168,600 ▲100K 171,600 ▲100K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Nghệ An 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
Miếng SJC Thái Bình 16,860 ▲10K 17,160 ▲10K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,860 ▲60K 17,160 ▲60K
NL 99.90 15,770 ▲100K
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,800 ▲100K
Trang sức 99.9 16,350 ▲60K 17,050 ▲60K
Trang sức 99.99 16,360 ▲60K 17,060 ▲60K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,686 ▲1K 17,162 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,686 ▲1K 17,163 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,684 ▲1K 1,714 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,684 ▲1K 1,715 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,664 ▲1K 1,699 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 161,718 ▲99K 168,218 ▲99K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 118,688 ▲75K 127,588 ▲75K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 106,794 ▲68K 115,694 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 94,899 ▲61K 103,799 ▲61K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 90,312 ▲59K 99,212 ▲59K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 62,105 ▲41K 71,005 ▲41K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,686 ▲1K 1,716 ▲1K
Cập nhật: 27/03/2026 17:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17621 17894 18471
CAD 18476 18753 19372
CHF 32405 32788 33434
CNY 0 3470 3830
EUR 29706 29978 31008
GBP 34253 34643 35580
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 168
KRW 0 16 18
NZD 0 14877 15465
SGD 19928 20210 20729
THB 715 779 833
USD (1,2) 26067 0 0
USD (5,10,20) 26108 0 0
USD (50,100) 26136 26156 26355
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,145 26,145 26,355
USD(1-2-5) 25,100 - -
USD(10-20) 25,100 - -
EUR 29,964 29,988 31,219
JPY 160.95 161.24 169.88
GBP 34,608 34,702 35,671
AUD 17,900 17,965 18,523
CAD 18,717 18,777 19,343
CHF 32,794 32,896 33,649
SGD 20,120 20,183 20,846
CNY - 3,788 3,904
HKD 3,306 3,316 3,432
KRW 16.15 16.84 18.2
THB 766.29 775.75 825.63
NZD 14,920 15,059 15,408
SEK - 2,755 2,834
DKK - 4,010 4,124
NOK - 2,683 2,761
LAK - 0.93 1.28
MYR 6,158.3 - 6,906.8
TWD 746.57 - 897.95
SAR - 6,923.15 7,244.71
KWD - 83,859 88,643
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,105 26,135 26,355
EUR 29,794 29,914 31,088
GBP 34,482 34,620 35,622
HKD 3,296 3,309 3,424
CHF 32,542 32,673 33,584
JPY 161.13 161.78 169.02
AUD 17,754 17,825 18,409
SGD 20,118 20,199 20,775
THB 779 782 816
CAD 18,653 18,728 19,293
NZD 14,910 15,438
KRW 16.71 18.33
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26150 26150 26355
AUD 17813 17913 18838
CAD 18658 18758 19774
CHF 32700 32730 34317
CNY 3749.5 3774.5 3909.7
CZK 0 1185 0
DKK 0 4050 0
EUR 29931 29961 31686
GBP 34622 34672 36432
HKD 0 3355 0
JPY 161.53 162.03 172.58
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6840 0
NOK 0 2720 0
NZD 0 14994 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2790 0
SGD 20105 20235 20959
THB 0 745.8 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 16760000 16760000 17060000
SBJ 15000000 15000000 17060000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,168 26,218 26,355
USD20 26,168 26,218 26,355
USD1 26,168 26,218 26,355
AUD 17,871 17,971 19,083
EUR 30,076 30,076 31,492
CAD 18,610 18,710 20,022
SGD 20,179 20,329 21,310
JPY 161.83 163.33 167.92
GBP 34,511 34,861 35,742
XAU 0 16,858,000 0
CNY 0 3,660 0
THB 0 781 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 27/03/2026 17:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80