"Mở khóa” tín dụng, nhiều lực đẩy mới với gói cho vay nhà ở xã hội

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tại Hà Nội, nhiều dự án nhà ở xã hội mới được cấp phép, với hàng nghìn căn hộ sắp độ bộ giúp giải toả cho cơn khát nhà giá rẻ trên địa bàn Thủ đô. Ngành Ngân hàng cũng cam kết đồng hành mạnh mẽ hơn khi được tạo điều kiện giải ngân gói tín dụng nhà ở xã hội mà không phải tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025.
aa
"Mở khóa” tín dụng, nhiều lực đẩy mới với gói cho vay nhà ở xã hội
Lãi suất cần xem xét ở mức hợp lý để đẩy nhanh giải ngân gói tín dụng ưu đãi. Ảnh tư liệu

Không còn nằm "đắp chiếu" để cỏ dại mọc um tùm như những năm trước đây, cuối năm 2024, chung cư cao tầng CT1 thuộc dự án khu nhà ở xã hội Thượng Thanh trên địa bàn quận Long Biên, TP. Hà Nội chính thức được Sở Xây dựng Hà Nội cấp giấy phép xây dựng. Toà chung cư cao 22 tầng nổi và 3 tầng hầm, dự kiến ra Tết thi công móng và quý III/2025 mở bán, cung ứng khoảng 700 căn hộ dự kiến với mức giá khoảng 19,5 triệu đồng/m2.

Đẩy mạnh gói tín dụng nhà ở xã hội

Để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng và 9 ngân hàng đã đăng ký gói 145.000 tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản ngày 3/1 cho phép các ngân hàng thương mại cho vay những đối tượng thuộc chương trình không phải tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Điều này có nghĩa là dư nợ cho vay nhà ở xã hội sẽ căn cứ theo nhu cầu của thị trường và điều kiện các ngân hàng thương mại có thể cho vay. Từ đó, đẩy mạnh tín dụng nhà ở xã hội và góp phần thực hiện mục tiêu 1 triệu nhà ở xã hội đến năm 2030.

Dự kiến đến năm 2025, TP. Hà Nội phải xây dựng 18.700 căn nhà ở xã hội nhưng tới cuối năm 2024 mới hoàn thành 37% số lượng, với 3 dự án được khởi công và 5 dự án xây dựng xong. Vì vậy, cùng với dự án khu nhà ở xã hội Thượng Thanh, dự án nhà ở xã hội Hạ Đình cao 25 tầng, Vĩnh Hưng cao 31 tầng hay dự án nhà ở xã hội thuộc Khu đô thị Kim Hoa huyện Mê Linh... cũng được cấp phép xây dựng và mở bán sắp tới được kỳ vọng cải thiện nguồn cung nhà ở xã hội đang khan hiếm tại Thủ đô.

Lực đẩy từ hai phía cung - cầu

Về nguồn vốn hỗ trợ nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng cho biết, các bộ, ngành nghiên cứu có các nguồn vốn hỗ trợ, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 do các ngân hàng thương mại chủ động cân đối.

Hiện tổng nguồn vốn đã lên tới 145 nghìn tỷ đồng, số tiền này tương đương khoảng 12% nhu cầu vốn để thúc đẩy thực hiện mục tiêu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân giai đoạn 2021 - 2030, giúp chủ đầu tư và người mua nhà các dự án với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung dài hạn VND bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước trong từng thời kỳ.

"Đến nay, mới có 37/63 UBND tỉnh gửi văn bản hoặc công bố trên cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia chương trình với tổng số 90 dự án. Doanh số giải ngân của chương trình đạt 2.360 tỷ đồng gồm: 2.162 tỷ đồng cho chủ đầu tư tại 17 dự án; 198 tỷ đồng cho người mua nhà tại 15 dự án" - Bộ Xây dựng thông tin.

Cuối năm 2024, Bộ Xây dựng đã báo cáo Thủ tướng về nguồn vốn tín dụng ưu đãi để Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay mua, thuê mua, xây dựng cải tạo, sửa chữa nhà ở để thực hiện chính sách nhà ở xã hội với giá trị khoảng 30.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, nhiều ưu đãi dành cho chủ đầu tư nhà ở xã hội có hiệu lực thi hành từ năm 2025 sẽ góp phần khuyến khích, đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, đảm bảo giá nhà ở mức vừa phải để cán bộ, công nhân, người lao động có thu nhập thấp có điều kiện mua nhà ở, ổn định cuộc sống. Một số ưu đãi có thể kể đến như: miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, ưu đãi về thuế theo pháp luật về thuế, chủ đầu tư được hưởng lợi nhuận 10%, được bố trí diện tích đất hoặc diện tích sàn kinh doanh thương mại và không phải hạch toán vào giá nhà ở xã hội.

Bên cạnh những lực đẩy cải thiện nguồn cung, về phía cầu, điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội mang tính mở hơn, không yêu cầu điều kiện cư trú mà chỉ nêu một số điều kiện về nhà ở và thu nhập. Đây là tín hiệu tốt giúp chạm tới giấc mơ an cư trong bối cảnh giá nhà ở đang vượt quá tầm với so với thu nhập của đại bộ phận người dân.

Nỗ lực gỡ khó, mở khóa tín dụng

Sở dĩ chương trình cho vay ưu đãi vẫn "ế" dài, đại diện NHNN từng chia sẻ lý do bởi nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế, một số dự án còn gặp vướng mắc về mặt pháp lý, thủ tục đầu tư, đất đai, khiến dự án giải ngân chậm. Bên cạnh đó, đa số người dân trên địa bàn thuộc khu vực nông thôn, có thu nhập thấp hoặc đối với công nhân trong các khu công nghiệp không có nhu cầu ở dài hạn nên không có nhu cầu mua nhà ở xã hội, chỉ có nhu cầu thuê nhà ở xã hội...

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng lãi suất ưu đãi, giảm 1,5 - 2% nhưng vẫn ở mức cao, đặc biệt là khi so sánh với gói 30 nghìn tỷ được thực hiện từ năm 2013 đến nay. Gói lãi suất này ban đầu áp dụng là 6%/năm, sau đó lãi suất giảm dần và còn mức 4,7%/năm áp dụng trong năm 2025. Vì vậy, lãi suất cần xem xét ở mức hợp lý hơn, thời gian kéo dài để đẩy nhanh giải ngân gói tín dụng ưu đãi.

Để tháo gỡ vướng mắc này và đẩy nhanh gói 145 nghìn tỷ đồng, chia sẻ với báo giới, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cho biết, NHNN đã và đang chỉ đạo các ngân hàng thương mại coi trọng gói tín dụng này, đây là một trong những giải pháp hỗ trợ rất tích cực cho Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội.

"Đây là một giải pháp rất căn cơ và quan trọng để giải quyết vấn đề nhà ở cho những người nghèo, người có thu thấp" - ông Tú nói.

NHNN cũng vừa ban hành văn bản yêu cầu những ngân hàng đã đăng ký phải thực hiện tốt những cam kết về lãi suất ưu đãi, thời hạn cho vay trung và dài hạn, phù hợp với đối tượng và nhu cầu vay.

Là một trong chín ngân hàng cam kết đồng hành cùng chương trình - bà Phùng Thị Bình, Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, thực hiện Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023, Agribank đăng ký gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng và sẽ triển khai trong vòng 10 năm.

"Tính đến ngày 31/12/2024, Agribank cấp tín dụng cho 13 chủ đầu tư dự án và 252 khách hàng cá nhân mua nhà tại các dự án, với tổng mức tín dụng gần 4.000 tỷ và dư nợ hiện tại còn 1.000 tỷ đồng" - bà Bình cho biết.

Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cách xa mục tiêu đề ra

Mặc dù đạt được một số kết quả quan trọng, tuy nhiên, theo Bộ Xây dựng, việc triển khai, thực hiện Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn 2021 - 2025 tại một số địa phương chưa đạt mục tiêu đề ra. Tổng số các dự án đã hoàn thành tính đến tháng 12/2024, đã khởi công xây dựng mới đạt khoảng 40% mục tiêu giai đoạn 2021-2025. Vì vậy, những thách thức ngày càng nặng nề cho giai đoạn 5 năm sắp tới để đạt mục tiêu đề ra.

Để đẩy nhanh phát triển các dự án nhà ở xã hội - bà Phùng Thị Bình, Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, ngân hàng sẵn sàng đáp ứng đầy đủ vốn cho các nhu cầu phát triển các dự án, đặc biệt tại những tỉnh thành có nhu cầu thực, phục vụ người dân.

Cũng theo bà Bình, việc NHNN ban hành văn bản không tính tăng trưởng cho vay nhà ở xã hội vào tăng trưởng tín dụng chung tạo thuận lợi giúp các ngân hàng có điều kiện dành nguồn lực cho các lĩnh vực khác. Một tín hiệu tích cực nữa là trong quý IV/2024, vấn đề pháp lý được các tỉnh, thành tháo gỡ. Nhiều chủ đầu tư phản ánh nhiều hồ sơ pháp lý trước đây có thể mất nửa năm mới giải quyết được, còn hiện chỉ cần 2 tháng là xử lý xong.

"Sự vào cuộc quyết liệt của các chính quyền địa phương trong giải quyết vấn đề pháp lý các dự án sẽ tạo thuận lợi hơn cho ngân hàng cho vay các dự án nhà ở xã hội" - bà Bình kỳ vọng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Sun Life Việt Nam ra mắt Bảo hiểm hưu trí Sun Life, giúp doanh nghiệp kiến tạo phúc lợi dài hạn trong cuộc đua giữ chân nhân tài

Sun Life Việt Nam ra mắt Bảo hiểm hưu trí Sun Life, giúp doanh nghiệp kiến tạo phúc lợi dài hạn trong cuộc đua giữ chân nhân tài

(TBTCO) - Với nhiều năm kinh nghiệm trong việc cung cấp các giải pháp hưu trí trên thị trường, Sun Life Việt Nam tiếp tục cho ra mắt sản phẩm Bảo hiểm hưu trí Sun Life - giải pháp phúc lợi hưu trí mới với nhiều quyền lợi được cải tiến nhằm đáp ứng nhu cầu xây dựng chính sách phúc lợi dài hạn của doanh nghiệp. Sản phẩm còn hỗ trợ người lao động chủ động bảo vệ rủi ro trong thời gian làm việc, đồng thời tích lũy tài chính vững vàng cho giai đoạn nghỉ hưu.
Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

Hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm

(TBTCO) - Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 25/5/2026, với mục tiêu hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm, góp phần nâng cao đời sống của người dân, đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Rox Living “đảo chiều” giao dịch tại MSB, dự chi nghìn tỷ đồng gom thêm 100 triệu cổ phiếu

Rox Living “đảo chiều” giao dịch tại MSB, dự chi nghìn tỷ đồng gom thêm 100 triệu cổ phiếu

(TBTCO) - Công ty cổ phần Rox Living không bán ra cổ phiếu MSB nào trong hơn 31,15 triệu cổ phiếu đã đăng ký trước đó, đồng thời tiếp tục đăng ký mua thêm 100 triệu cổ phiếu MSB nhằm nâng tỷ lệ sở hữu lên hơn 4,2% vốn điều lệ tại Ngân hàng MSB. Hiện MSB có nhiều cổ đông tổ chức lớn nắm giữ từ 2 - 6% vốn điều lệ.
Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

Tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn

(TBTCO) - Nhóm phân tích của VPBankS cho rằng, tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR) sử dụng thay thế cho tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn là chỉ tiêu đánh giá toàn diện và nhạy cảm với rủi ro hơn, đồng thời khuyến khích các ngân hàng từng bước kéo dài kỳ hạn huy động, tăng tỷ trọng vốn ổn định và kiểm soát tăng trưởng tài sản dài hạn.
Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

Room tín dụng siết chặt, ngân hàng giảm tốc cho vay bất động sản

(TBTCO) - Tín dụng kinh doanh bất động sản quý đầu năm đang dần giảm nhiệt khi nhiều ngân hàng chủ động hãm đà cho vay dưới áp lực siết room tín dụng, thậm chí đã có 3 nhà băng ghi nhận dư nợ giảm so với đầu năm. Tuy nhiên, việc giảm phụ thuộc vào lĩnh vực này vẫn không dễ, khi dư nợ bất động sản tại nhiều ngân hàng tiếp tục tăng nhanh hơn dư nợ cho vay khách hàng.
Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

Vinhomes khởi động chương trình chuyển hóa nguồn lực vàng vào nền kinh tế

(TBTCO) - Ngày 25/5/2026, Công ty cổ phần Vinhomes chính thức triển khai chương trình hỗ trợ khách hàng sử dụng vàng để giao dịch bất động sản, góp phần đưa nguồn vàng nhàn rỗi đang tích trữ trong dân trở thành dòng vốn năng động phục vụ tăng trưởng. Chương trình được triển khai trong 5 năm, với sự đồng hành của các công ty vàng bạc đá quý nhằm bảo đảm an toàn tối đa về quyền lợi và giá trị tài sản cho khách hàng.
Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

Ngân hàng lấn sân, doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tính lại “nước cờ” giữ thế

(TBTCO) - Sự nhập cuộc ngày càng mạnh mẽ của các ngân hàng đang khiến thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bước vào một giai đoạn cạnh tranh mới. Khi nhóm doanh nghiệp gắn với ngân hàng đã nắm khoảng 35% thị phần, “ván cờ” thị phần trở nên khó đoán hơn, kéo theo những tính toán chiến lược mới của doanh nghiệp hiện hữu.
Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 25/5: Giá vàng trong nước tăng trở lại

(TBTCO) - Mở cửa phiên ngày 25/5, giá vàng trong nước đồng loạt tăng tại nhiều doanh nghiệp lớn. Ở phân khúc vàng miếng, Bảo Tín Mạnh Hải, PNJ, DOJI, Tập đoàn Vàng bạc Đá quý Phú Quý và Bảo Tín Minh Châu đồng loạt tăng 500.000 đồng/lượng ở cả hai chiều mua vào và bán ra, mặt bằng giá giao dịch ở quanh mức 159 - 162 triệu đồng/lượng.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Kim TT/AVPL 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Nguyên Liệu 99.99 14,850 ▼50K 15,050 ▼50K
Nguyên Liệu 99.9 14,800 ▼50K 15,000 ▼50K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 15,600 ▼50K 16,000 ▼50K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,550 ▼50K 15,950 ▼50K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,480 ▼50K 15,930 ▼50K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Hà Nội - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Miền Tây - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 158,500 ▼500K 161,500 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Nghệ An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
Miếng SJC Thái Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 15,850 ▼50K 16,150 ▼50K
NL 99.90 14,450
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 14,500
Trang sức 99.9 15,340 ▼50K 16,040 ▼50K
Trang sức 99.99 15,350 ▼50K 16,050 ▼50K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,585 ▲1426K 16,152 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,585 ▲1426K 16,153 ▼50K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 158 ▼1427K 161 ▼1454K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 158 ▼1427K 1,611 ▼5K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 156 ▼1409K 1,595 ▲1435K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 151,421 ▼495K 157,921 ▼495K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 110,887 ▼375K 119,787 ▼375K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 99,721 ▼340K 108,621 ▼340K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 88,555 ▲79669K 97,455 ▲87679K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 84,248 ▼291K 93,148 ▼291K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 57,768 ▼209K 66,668 ▼209K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,585 ▲1426K 1,615 ▲1453K
Cập nhật: 26/05/2026 22:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18335 18611 19184
CAD 18554 18831 19447
CHF 32936 33321 33961
CNY 0 3842 3934
EUR 30037 30310 31335
GBP 34712 35105 36031
HKD 0 3231 3433
JPY 158 162 169
KRW 0 16 18
NZD 0 15086 15671
SGD 20071 20354 20882
THB 722 785 839
USD (1,2) 26079 0 0
USD (5,10,20) 26120 0 0
USD (50,100) 26148 26163 26394
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,164 26,164 26,394
USD(1-2-5) 25,118 - -
USD(10-20) 25,118 - -
EUR 30,223 30,247 31,506
JPY 161.52 161.81 170.6
GBP 34,965 35,060 36,073
AUD 18,580 18,647 19,241
CAD 18,773 18,833 19,415
CHF 33,263 33,366 34,144
SGD 20,256 20,319 20,998
CNY - 3,821 3,944
HKD 3,304 3,314 3,433
KRW 16.21 16.9 18.27
THB 773.13 782.68 833.14
NZD 15,120 15,260 15,624
SEK - 2,791 2,872
DKK - 4,044 4,163
NOK - 2,798 2,885
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,226.83 - 6,990.8
TWD 757.96 - 912.92
SAR - 6,922.12 7,248.72
KWD - 83,835 88,684
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,144 26,164 26,394
EUR 30,109 30,230 31,409
GBP 34,938 35,078 36,087
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,062 33,195 34,131
JPY 161.90 162.55 169.87
AUD 18,546 18,620 19,210
SGD 20,284 20,365 20,947
THB 790 793 828
CAD 18,747 18,822 19,390
NZD 15,196 15,729
KRW 16.75 18.36
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26190 26190 26394
AUD 18518 18618 19541
CAD 18735 18835 19849
CHF 33185 33215 34794
CNY 3822 3847 3982.3
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30211 30241 31966
GBP 34997 35047 36818
HKD 0 3355 0
JPY 161.96 162.46 173
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15194 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20228 20358 21086
THB 0 751.8 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 15850000 15850000 16150000
SBJ 14000000 14000000 16150000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,178 26,228 26,394
USD20 26,178 26,228 26,394
USD1 26,178 26,228 26,394
AUD 18,565 18,665 19,775
EUR 30,348 30,348 31,754
CAD 18,676 18,776 20,081
SGD 20,312 20,462 21,027
JPY 162.51 164.01 170
GBP 34,885 35,235 36,097
XAU 15,848,000 0 16,152,000
CNY 0 3,735 0
THB 0 791 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 26/05/2026 22:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80