"Mở khóa” tín dụng, nhiều lực đẩy mới với gói cho vay nhà ở xã hội

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Tại Hà Nội, nhiều dự án nhà ở xã hội mới được cấp phép, với hàng nghìn căn hộ sắp độ bộ giúp giải toả cho cơn khát nhà giá rẻ trên địa bàn Thủ đô. Ngành Ngân hàng cũng cam kết đồng hành mạnh mẽ hơn khi được tạo điều kiện giải ngân gói tín dụng nhà ở xã hội mà không phải tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025.
aa
"Mở khóa” tín dụng, nhiều lực đẩy mới với gói cho vay nhà ở xã hội
Lãi suất cần xem xét ở mức hợp lý để đẩy nhanh giải ngân gói tín dụng ưu đãi. Ảnh tư liệu

Không còn nằm "đắp chiếu" để cỏ dại mọc um tùm như những năm trước đây, cuối năm 2024, chung cư cao tầng CT1 thuộc dự án khu nhà ở xã hội Thượng Thanh trên địa bàn quận Long Biên, TP. Hà Nội chính thức được Sở Xây dựng Hà Nội cấp giấy phép xây dựng. Toà chung cư cao 22 tầng nổi và 3 tầng hầm, dự kiến ra Tết thi công móng và quý III/2025 mở bán, cung ứng khoảng 700 căn hộ dự kiến với mức giá khoảng 19,5 triệu đồng/m2.

Đẩy mạnh gói tín dụng nhà ở xã hội

Để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng và 9 ngân hàng đã đăng ký gói 145.000 tỷ đồng, Ngân hàng Nhà nước ban hành văn bản ngày 3/1 cho phép các ngân hàng thương mại cho vay những đối tượng thuộc chương trình không phải tính vào chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng. Điều này có nghĩa là dư nợ cho vay nhà ở xã hội sẽ căn cứ theo nhu cầu của thị trường và điều kiện các ngân hàng thương mại có thể cho vay. Từ đó, đẩy mạnh tín dụng nhà ở xã hội và góp phần thực hiện mục tiêu 1 triệu nhà ở xã hội đến năm 2030.

Dự kiến đến năm 2025, TP. Hà Nội phải xây dựng 18.700 căn nhà ở xã hội nhưng tới cuối năm 2024 mới hoàn thành 37% số lượng, với 3 dự án được khởi công và 5 dự án xây dựng xong. Vì vậy, cùng với dự án khu nhà ở xã hội Thượng Thanh, dự án nhà ở xã hội Hạ Đình cao 25 tầng, Vĩnh Hưng cao 31 tầng hay dự án nhà ở xã hội thuộc Khu đô thị Kim Hoa huyện Mê Linh... cũng được cấp phép xây dựng và mở bán sắp tới được kỳ vọng cải thiện nguồn cung nhà ở xã hội đang khan hiếm tại Thủ đô.

Lực đẩy từ hai phía cung - cầu

Về nguồn vốn hỗ trợ nhà ở xã hội, Bộ Xây dựng cho biết, các bộ, ngành nghiên cứu có các nguồn vốn hỗ trợ, thúc đẩy phát triển nhà ở xã hội theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 do các ngân hàng thương mại chủ động cân đối.

Hiện tổng nguồn vốn đã lên tới 145 nghìn tỷ đồng, số tiền này tương đương khoảng 12% nhu cầu vốn để thúc đẩy thực hiện mục tiêu hoàn thành ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội, nhà ở công nhân giai đoạn 2021 - 2030, giúp chủ đầu tư và người mua nhà các dự án với lãi suất thấp hơn khoảng từ 1,5 - 2% so với lãi suất cho vay trung dài hạn VND bình quân của các ngân hàng thương mại nhà nước trong từng thời kỳ.

"Đến nay, mới có 37/63 UBND tỉnh gửi văn bản hoặc công bố trên cổng thông tin điện tử về danh mục dự án tham gia chương trình với tổng số 90 dự án. Doanh số giải ngân của chương trình đạt 2.360 tỷ đồng gồm: 2.162 tỷ đồng cho chủ đầu tư tại 17 dự án; 198 tỷ đồng cho người mua nhà tại 15 dự án" - Bộ Xây dựng thông tin.

Cuối năm 2024, Bộ Xây dựng đã báo cáo Thủ tướng về nguồn vốn tín dụng ưu đãi để Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay mua, thuê mua, xây dựng cải tạo, sửa chữa nhà ở để thực hiện chính sách nhà ở xã hội với giá trị khoảng 30.000 tỷ đồng.

Bên cạnh đó, nhiều ưu đãi dành cho chủ đầu tư nhà ở xã hội có hiệu lực thi hành từ năm 2025 sẽ góp phần khuyến khích, đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội, đảm bảo giá nhà ở mức vừa phải để cán bộ, công nhân, người lao động có thu nhập thấp có điều kiện mua nhà ở, ổn định cuộc sống. Một số ưu đãi có thể kể đến như: miễn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, ưu đãi về thuế theo pháp luật về thuế, chủ đầu tư được hưởng lợi nhuận 10%, được bố trí diện tích đất hoặc diện tích sàn kinh doanh thương mại và không phải hạch toán vào giá nhà ở xã hội.

Bên cạnh những lực đẩy cải thiện nguồn cung, về phía cầu, điều kiện được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở xã hội mang tính mở hơn, không yêu cầu điều kiện cư trú mà chỉ nêu một số điều kiện về nhà ở và thu nhập. Đây là tín hiệu tốt giúp chạm tới giấc mơ an cư trong bối cảnh giá nhà ở đang vượt quá tầm với so với thu nhập của đại bộ phận người dân.

Nỗ lực gỡ khó, mở khóa tín dụng

Sở dĩ chương trình cho vay ưu đãi vẫn "ế" dài, đại diện NHNN từng chia sẻ lý do bởi nguồn cung nhà ở xã hội còn hạn chế, một số dự án còn gặp vướng mắc về mặt pháp lý, thủ tục đầu tư, đất đai, khiến dự án giải ngân chậm. Bên cạnh đó, đa số người dân trên địa bàn thuộc khu vực nông thôn, có thu nhập thấp hoặc đối với công nhân trong các khu công nghiệp không có nhu cầu ở dài hạn nên không có nhu cầu mua nhà ở xã hội, chỉ có nhu cầu thuê nhà ở xã hội...

Bên cạnh đó, nhiều ý kiến cho rằng lãi suất ưu đãi, giảm 1,5 - 2% nhưng vẫn ở mức cao, đặc biệt là khi so sánh với gói 30 nghìn tỷ được thực hiện từ năm 2013 đến nay. Gói lãi suất này ban đầu áp dụng là 6%/năm, sau đó lãi suất giảm dần và còn mức 4,7%/năm áp dụng trong năm 2025. Vì vậy, lãi suất cần xem xét ở mức hợp lý hơn, thời gian kéo dài để đẩy nhanh giải ngân gói tín dụng ưu đãi.

Để tháo gỡ vướng mắc này và đẩy nhanh gói 145 nghìn tỷ đồng, chia sẻ với báo giới, ông Đào Minh Tú - Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), cho biết, NHNN đã và đang chỉ đạo các ngân hàng thương mại coi trọng gói tín dụng này, đây là một trong những giải pháp hỗ trợ rất tích cực cho Đề án đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội.

"Đây là một giải pháp rất căn cơ và quan trọng để giải quyết vấn đề nhà ở cho những người nghèo, người có thu thấp" - ông Tú nói.

NHNN cũng vừa ban hành văn bản yêu cầu những ngân hàng đã đăng ký phải thực hiện tốt những cam kết về lãi suất ưu đãi, thời hạn cho vay trung và dài hạn, phù hợp với đối tượng và nhu cầu vay.

Là một trong chín ngân hàng cam kết đồng hành cùng chương trình - bà Phùng Thị Bình, Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, thực hiện Nghị quyết 33/NQ-CP ngày 11/3/2023, Agribank đăng ký gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng và sẽ triển khai trong vòng 10 năm.

"Tính đến ngày 31/12/2024, Agribank cấp tín dụng cho 13 chủ đầu tư dự án và 252 khách hàng cá nhân mua nhà tại các dự án, với tổng mức tín dụng gần 4.000 tỷ và dư nợ hiện tại còn 1.000 tỷ đồng" - bà Bình cho biết.

Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cách xa mục tiêu đề ra

Mặc dù đạt được một số kết quả quan trọng, tuy nhiên, theo Bộ Xây dựng, việc triển khai, thực hiện Đề án 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội trong giai đoạn 2021 - 2025 tại một số địa phương chưa đạt mục tiêu đề ra. Tổng số các dự án đã hoàn thành tính đến tháng 12/2024, đã khởi công xây dựng mới đạt khoảng 40% mục tiêu giai đoạn 2021-2025. Vì vậy, những thách thức ngày càng nặng nề cho giai đoạn 5 năm sắp tới để đạt mục tiêu đề ra.

Để đẩy nhanh phát triển các dự án nhà ở xã hội - bà Phùng Thị Bình, Phó Tổng giám đốc Agribank cho biết, ngân hàng sẵn sàng đáp ứng đầy đủ vốn cho các nhu cầu phát triển các dự án, đặc biệt tại những tỉnh thành có nhu cầu thực, phục vụ người dân.

Cũng theo bà Bình, việc NHNN ban hành văn bản không tính tăng trưởng cho vay nhà ở xã hội vào tăng trưởng tín dụng chung tạo thuận lợi giúp các ngân hàng có điều kiện dành nguồn lực cho các lĩnh vực khác. Một tín hiệu tích cực nữa là trong quý IV/2024, vấn đề pháp lý được các tỉnh, thành tháo gỡ. Nhiều chủ đầu tư phản ánh nhiều hồ sơ pháp lý trước đây có thể mất nửa năm mới giải quyết được, còn hiện chỉ cần 2 tháng là xử lý xong.

"Sự vào cuộc quyết liệt của các chính quyền địa phương trong giải quyết vấn đề pháp lý các dự án sẽ tạo thuận lợi hơn cho ngân hàng cho vay các dự án nhà ở xã hội" - bà Bình kỳ vọng.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Thêm dư địa hỗ trợ tăng trưởng, kỳ vọng loạt giải pháp kéo giảm lãi suất từ quý IV/2026

Theo đánh giá của Công ty cổ phần Chứng khoán VNDIRECT, lạm phát hạ nhiệt, tỷ giá dịu bớt mở ra dư địa để hỗ trợ tăng trưởng. Tuy nhiên, chênh lệch tín dụng - huy động nới rộng hơn khiến thanh khoản tiếp tục chịu sức ép. VNDIRECT kỳ vọng một số giải pháp điều hành sẽ giúp lãi suất hạ nhiệt rõ hơn từ quý IV/2026.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

Giá vàng hôm nay ngày 14/7: Vàng thế giới mất mốc 4.000 USD/ounce, vàng trong nước vẫn giảm sâu tới 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng

(TBTCO) - Sáng 14/7, giá vàng thế giới giảm xuống dưới mốc 4.000 USD/ounce. Mở cửa sáng nay, giá vàng trong nước tiếp tục giảm mạnh, bình quân giá vàng miếng và vàng nhẫn giảm mạnh từ 1,6 - 1,8 triệu đồng/lượng.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Kim TT/AVPL 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 ▲50K 14,750 ▲100K
Nguyên Liệu 99.99 13,200 ▲100K 13,400 ▲100K
Nguyên Liệu 99.9 13,150 ▲100K 13,350 ▲100K
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 ▲100K 14,200 ▲100K
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 ▲100K 14,150 ▲100K
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 ▲100K 14,130 ▲100K
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,500 ▲500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Nghệ An 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
Miếng SJC Thái Bình 14,550 ▲100K 14,850 ▲100K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,400 ▲80K 14,750 ▲80K
NL 99.99 13,000 ▲100K
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,940 ▲80K 14,640 ▲80K
Trang sức 99.99 13,950 ▲80K 14,650 ▲80K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,455 ▲10K 14,852 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,455 ▲10K 14,853 ▲100K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,445 ▲10K 148 ▲1K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,445 ▲10K 1,481 ▲10K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 142 ▲1K 146 ▲1K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,554 ▲990K 144,554 ▲990K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,861 ▲750K 109,661 ▲750K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 8,964 ▲68K 9,944 ▲68K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,419 ▲610K 89,219 ▲610K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,477 ▲584K 85,277 ▲584K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,238 ▲417K 61,038 ▲417K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,455 ▲10K 1,485 ▲10K
Cập nhật: 15/07/2026 20:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17798 18072 18648
CAD 18132 18407 19024
CHF 31728 32109 32754
CNY 0 3834 3927
EUR 29336 29556 30639
GBP 34370 34761 35694
HKD 0 3218 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 14961 15554
SGD 19773 20054 20635
THB 696 759 812
USD (1,2) 25986 0 0
USD (5,10,20) 26027 0 0
USD (50,100) 26056 26070 26435
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,490 29,514 30,923
JPY 157.42 157.7 167.24
GBP 34,588 34,682 35,877
AUD 18,007 18,072 18,752
CAD 18,342 18,401 19,075
CHF 32,049 32,149 33,091
SGD 19,921 19,983 20,768
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,283 3,293 3,430
KRW 16.24 16.94 18.43
THB 745.85 755.06 807.86
NZD 14,943 15,082 15,527
SEK - 2,673 2,767
DKK - 3,946 4,085
NOK - 2,660 2,757
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,023.71 - 6,798.09
TWD 736.29 - 891.9
SAR - 6,870.71 7,236.51
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,470 29,588 30,780
GBP 34,578 34,717 35,748
HKD 3,282 3,295 3,413
CHF 31,940 32,068 32,999
JPY 158.03 158.66 166.58
AUD 17,992 18,064 18,660
SGD 20,006 20,086 20,676
THB 765 768 804
CAD 18,362 18,436 19,016
NZD 15,044 15,588
KRW 16.88 18.69
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26072 26072 26440
AUD 17992 18092 19015
CAD 18324 18424 19438
CHF 31983 32013 33591
CNY 3815.1 3840.1 3975.4
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29532 29562 31287
GBP 34659 34709 36467
HKD 0 3355 0
JPY 158.2 158.7 169.24
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15076 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19940 20070 20798
THB 0 725.7 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14550000 14550000 14850000
SBJ 13000000 13000000 14850000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,091 26,141 26,450
USD20 26,091 26,141 26,450
USD1 26,091 26,141 26,450
AUD 18,038 18,138 19,251
EUR 29,379 29,479 31,138
CAD 18,292 18,392 19,696
SGD 20,049 20,199 20,760
JPY 158.94 160.44 165.98
GBP 34,590 34,740 36,110
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,729 0
THB 0 764 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/07/2026 20:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80