Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/10:

Ngân hàng nhà nước “để ngỏ” câu chuyện lãi suất, giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới

Mai Tấn
(TBTCO) - Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ cởi mở, nhằm hỗ trợ được nhiều vốn hơn, hỗ trợ lãi suất tốt hơn cho doanh nghiệp, người dân, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế. Trong khi đó, diễn biến thị trường ghi nhận giá vàng trong nước tăng mạnh cùng pha với giá vàng thế giới, giá vàng nhẫn lại thiết lập kỷ lục mới.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ cởi mở

Tại cuộc họp báo, thông tin về tình hình hoạt động ngân hàng quý III được tổ chức vào ngày 17/10 tại Hà Nội, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho hay thời gian qua, diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ thế giới có nhiều thuận lợi, qua đó giảm bớt áp lực chính sách tiền tệ của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh, tín dụng trong thời gian tới tiếp tục được tập trung vào các lĩnh vực kinh tế trọng điểm, các dự án lớn, dự án giao thông BT, BOT, các dự án liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, phát triển lúa gạo, xuất khẩu thủy hải sản... Đối với người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng do bão lũ, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục có các chính sách, chương trình hỗ trợ theo chỉ đạo chung của Chính phủ.

Đối với điều hành lãi suất, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất tiếp tục xu hướng giảm so với cuối năm 2023.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng như gói 120.000 tỷ đồng nay là 140.000 tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư; chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm, thủy sản…

Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, quan điểm của NHNN là điều hành chính sách tiền tệ cởi mở để hỗ trợ được nhiều vốn hơn cho nền kinh tế. NHNN liên tục hỗ trợ vốn, đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô đảm bảo lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, đảm bảo quan hệ tỷ giá, NHNN sẽ để ngỏ quan điểm điều hành lãi suất trong thời gian tới. Tín dụng vẫn sẽ tập trung cho các dự án trọng điểm, các dự án BOT, các chương trình tín dụng ngành, tín dụng chính sách.

Ngân hàng nhà nước “để ngỏ” câu chuyện lãi suất, giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng. Ảnh: T.L

Cùng với đó, tình hình tỷ giá, ngoại tệ quý III cũng có nhiều điểm tích cực, xu hướng tỷ giá dịu và giảm dần. Trước đây có lúc mức mất giá cao nhất khoảng 5 - 6%, giờ chỉ còn 1 - 2%, tạo niềm tin cho thị trường, nhà đầu tư nước ngoài, không còn tâm lý găm giữ ngoại tệ. Hầu hết các nhu cầu ngoại tệ được đáp ứng đầy đủ.

Đối với tình hình tăng trưởng tín dụng, theo NHNN, đến nay tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 9% so với cuối năm 2023. Với thanh khoản tốt và còn nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng, các tổ chức tín dụng hiện có điều kiện thuận lợi để cung ứng vốn cho vay đối với nền kinh tế. Đặc biệt vào thời điểm quý cuối năm, nhiều dự án có tiến độ giải ngân tăng nhanh hơn.

Giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới

Trong tuần giá vàng SJC cũng có những phiên biến động mạnh, giá vàng miếng SJC trong nước ngày 15/10 lại tăng thêm 500 nghìn đồng/lượng, lên mức 85 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 83 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào. Sau đó, ngày 17/10 giá vàng miếng tiếp tục tăng thêm 1 triệu đồng/ lượng và giữ giá đi ngang trong phiên giao dịch cuối tuần.

Chốt tuần, vàng miếng SJC tăng 1,5 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 18/10 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 86 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 84 triệu đồng/lượng. Với mốc giá trên, vàng miếng SJC đang cao hơn thế giới 2,9 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng nhà nước “để ngỏ” câu chuyện lãi suất, giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới
Giá vàng nhẫn tăng mạnh, thiếp lập kỷ lục mới. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn lại có một tuần “nổi sóng” vượt mốc 85 triệu đồng/lượng - cao nhất trong lịch sử. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 18/10 tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 84,60 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 85,69 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 84,60 - 85,60 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 84,58 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 85,58 triệu đồng/lượng. Như vậy so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã tăng mạnh hơn 2 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước tăng mạnh đồng pha với sự tăng giá của giá vàng thế giới. Trong phiên giao dịch ngày 17/10, trên thị trường quốc tế, giá vàng thế giới giao ngay đã vượt mốc 2.710 USD/ounce.

Đây là mức giá cao nhất từ trước đến nay của kim loại quý này. Từ đầu năm đến nay, giá vàng thế giới đã tăng hơn 30% và liên tục thiết lập nhiều đỉnh mới. Giới phân tích đánh giá, nguyên nhân của đà tăng này đến từ những bất ổn địa chính trị và khả năng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong thời gian tới.

Ngân hàng thương mại tăng mạnh giá bán USD

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 14/10 ghi nhận ở mức 24.175 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm trong ngày thứ Ba, sau đó tăng liên tục trong các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.199 đồng/USD, tăng 24 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng từ đầu tháng 10 đến nay.

Hôm 1/10 tỷ giá ghi nhận là 24.081 đồng/USD, nhưng liên tục được điều chỉnh tăng từng ngày từ thời điểm đó đến nay và đến ngày 18/10 đã tăng lên mức 24.199 đồng/USD.

Cùng chung quỹ đạo này, tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại cũng luôn được điều chỉnh tăng từ đầu tháng. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 25.000 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng mạnh tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.370 đồng/USD, tăng 370 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Như vậy tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm 1/10 ghi nhận mức 24.770 đồng/USD và đến nay đã vượt lên trên mốc 25.370 đồng/USD.

Diễn biến tỷ giá tăng từ đầu tháng 10/2024 đến nay bị tác động từ việc sức mạnh đồng USD được củng cố. Tuy nhiên, giới phân tích đánh giá những “cú giật” đó chỉ mang tính cục bộ, xu hướng chính của tỷ giá trong quý IV/2024 vẫn là ổn định./.

Chỉ số DXY tiếp tục tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu tăng mạnh tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 18/10 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 103,62 điểm, tiếp tục tăng mạnh so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

VDB: Giữ ổn định và thu hút nguồn lực tài chính quốc gia cho đầu tư phát triển

(TBTCO) - Trong hai thập kỷ hoạt động, Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) đã góp phần cung ứng nguồn vốn trung và dài hạn cho các dự án trọng điểm, hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, nông thôn, bảo đảm an sinh xã hội và thu hút nguồn lực tài chính cho đầu tư phát triển.
Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

Thu phí bảo hiểm không dùng tiền mặt: Thêm “lớp bảo vệ” cho khách hàng

(TBTCO) - Việc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ chuyển sang thu phí không dùng tiền mặt đang tạo ra thay đổi đáng kể trong hoạt động phục vụ khách hàng. Không chỉ giúp giao dịch thuận tiện và dễ kiểm soát hơn, phương thức này còn góp phần minh bạch hóa dòng tiền, hạn chế rủi ro trong khâu thu phí. Tuy nhiên, để quá trình chuyển đổi thực sự hiệu quả, các doanh nghiệp cần bảo đảm đa dạng kênh thanh toán và hỗ trợ kịp thời những khách hàng chưa quen với giao dịch điện tử.
Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Khởi kiện dân sự công ích, thêm giải pháp bảo vệ quyền lợi bảo hiểm xã hội cho người lao động

Việc áp dụng cơ chế khởi kiện dân sự công ích đối với các trường hợp vi phạm kéo dài, cùng với đẩy mạnh thanh tra, thu hồi nợ, đang góp phần tăng hiệu quả xử lý chậm đóng, trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp.
Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

Shinhan Bank lãi gần 2.600 tỷ đồng nửa đầu năm 2026, nợ xấu duy trì ở mức 0,55%

(TBTCO) - Nửa đầu năm 2026, Shinhan Bank lãi trước thuế 2.589,8 tỷ đồng, với nhiều nguồn thu cốt lõi tăng trưởng; dư nợ cho vay khách hàng tăng 6,2%, đạt 167.638 tỷ đồng. Các chỉ tiêu an toàn được duy trì tích cực với CAR ở mức 20,7% và tỷ lệ nợ xấu được kiểm soát ở mức thấp 0,55%.
Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

Thanh khoản còn căng, nguồn vốn ngày càng dịch chuyển kỳ hạn

VDSC nhận định, thanh khoản VND vẫn tương đối căng thẳng khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Trong bối cảnh nguồn vốn ngày càng dịch chuyển sang kỳ hạn dài, tiền gửi ngắn hạn trở nên quan trọng, nhưng lại phụ thuộc đáng kể vào dòng tiền Kho bạc Nhà nước, hiện vượt 700 nghìn tỷ đồng.
Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

Hơn 22 triệu người trên cả nước tham gia bảo hiểm xã hội

(TBTCO) - Đến hết tháng 8/2026, số người tham gia bảo hiểm xã hội trên cả nước đạt khoảng 22,59 triệu người. Đáng chú ý, số người hưởng bảo hiểm xã hội một lần tiếp tục giảm so với cùng kỳ.
Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

Thông báo về việc được phê duyệt thay đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh Thành phố Hà Nội

(TBTCO) - Căn cứ Quyết định số 115/QĐ-QLGS3 ngày 24/8/2026 của Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng – Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về việc sửa đổi mức vốn được cấp của Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội, Cục trưởng Cục Quản lý, giám sát tổ chức tín dụng quyết định sửa đổi Điều 2 tại Giấy phép thành lập chi nhánh ngân hàng nước ngoài số 39/GP-NHNN ngày 18/3/2019 do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cấp cho Ngân hàng Mizuho Bank, Ltd. – Chi nhánh thành phố Hà Nội thành:
Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

Vietcombank triển khai trao 7.350 suất học bổng "Cùng em tiến bước” nhân dịp năm học mới 2026 - 2027

(TBTCO) - Những bước chân vì sức khỏe và môi trường được chuyển hóa thành nguồn lực hỗ trợ cho học sinh có hoàn cảnh khó khăn, giàu nghị lực vươn lên trong học tập.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Hà Nội - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Đà Nẵng - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Miền Tây - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Tây Nguyên - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
Đông Nam Bộ - PNJ 142,000 ▼1200K 145,400 ▼1200K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Nghệ An 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
Miếng SJC Thái Bình 14,240 ▼120K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,200 ▼110K 14,540 ▼120K
NL 99.99 13,650
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,550
Trang sức 99.9 13,850 ▼120K 14,450 ▼120K
Trang sức 99.99 13,860 ▼120K 14,460 ▼120K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,424 ▼12K 14,542 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,424 ▼12K 14,543 ▼120K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,419 ▼12K 1,449 ▼12K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,419 ▼12K 145 ▼1317K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,394 ▼12K 1,439 ▼12K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 135,475 ▼1188K 142,475 ▼1188K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 98,286 ▼900K 108,086 ▼900K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 88,212 ▼816K 98,012 ▼816K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 78,138 ▲70251K 87,938 ▲79071K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 74,252 ▼700K 84,052 ▼700K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 50,362 ▼501K 60,162 ▼501K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,424 ▼12K 1,454 ▼12K
Cập nhật: 09/09/2026 11:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18223 18499 19079
CAD 18323 18599 19212
CHF 31455 31834 32476
CNY 0 3830 3925
EUR 29576 29797 30875
GBP 34379 34771 35705
HKD 0 3181 3383
JPY 162 166 173
KRW 0 18 20
NZD 0 14901 15483
SGD 19998 20281 20857
THB 706 769 822
USD (1,2) 25708 0 0
USD (5,10,20) 25747 0 0
USD (50,100) 25775 25789 26157
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,780 25,780 26,160
USD(1-2-5) 24,749 - -
USD(10-20) 24,749 - -
EUR 29,602 29,626 31,033
JPY 164.36 164.66 174.63
GBP 34,530 34,623 35,832
AUD 18,404 18,470 19,181
CAD 18,492 18,551 19,237
CHF 31,688 31,787 32,728
SGD 20,109 20,172 20,963
CNY - 3,795 3,941
HKD 3,244 3,254 3,391
KRW 17.85 18.62 20.27
THB 752.57 761.86 815.77
NZD 14,881 15,019 15,465
SEK - 2,662 2,757
DKK - 3,971 4,111
NOK - 2,769 2,868
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,962.56 - 6,746.76
TWD 744.29 - 901.77
SAR - 6,795.37 7,162.51
KWD - 82,408 87,691
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,750 25,780 26,160
EUR 29,641 29,760 30,953
GBP 34,549 34,688 35,720
HKD 3,244 3,257 3,373
CHF 31,546 31,673 32,605
JPY 164.90 165.56 173.54
AUD 18,410 18,484 19,081
SGD 20,182 20,263 20,860
THB 769 772 809
CAD 18,505 18,579 19,175
NZD 14,970 15,513
KRW 18.52 20.47
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25780 25780 26140
AUD 18399 18499 19421
CAD 18489 18589 19605
CHF 31682 31712 33294
CNY 3810.1 3835.1 3970.5
CZK 0 1190 0
DKK 0 4030 0
EUR 29746 29776 31501
GBP 34658 34708 36476
HKD 0 3330 0
JPY 165.55 166.05 176.56
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6660 0
NOK 0 2790 0
NZD 0 15012 0
PHP 0 385 0
SEK 0 2705 0
SGD 20153 20283 21005
THB 0 734.4 0
TWD 0 800 0
SJC 9999 14240000 14240000 14540000
SBJ 13000000 13000000 14540000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,765 25,795 26,180
USD20 25,745 25,795 26,180
USD1 25,695 25,795 26,180
AUD 18,449 18,549 19,671
EUR 29,540 29,640 31,312
CAD 18,438 18,538 19,852
SGD 20,234 20,384 20,947
JPY 165.81 167.31 172.93
GBP 34,557 34,707 35,795
XAU 14,358,000 0 14,662,000
CNY 0 3,719 0
THB 0 770 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 09/09/2026 11:00
Ngân hàng