Thị trường tiền tệ tuần 14 - 18/10:

Ngân hàng nhà nước “để ngỏ” câu chuyện lãi suất, giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới

Mai Tấn
(TBTCO) - Tuần qua, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết sẽ tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ cởi mở, nhằm hỗ trợ được nhiều vốn hơn, hỗ trợ lãi suất tốt hơn cho doanh nghiệp, người dân, đảm bảo mục tiêu tăng trưởng của nền kinh tế. Trong khi đó, diễn biến thị trường ghi nhận giá vàng trong nước tăng mạnh cùng pha với giá vàng thế giới, giá vàng nhẫn lại thiết lập kỷ lục mới.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 7-11/10: Ngân hàng Nhà nước hút ròng trên thị trường mở, tỷ giá nhích tăng, giá vàng nhẫn giảm sức “nóng”

Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ cởi mở

Tại cuộc họp báo, thông tin về tình hình hoạt động ngân hàng quý III được tổ chức vào ngày 17/10 tại Hà Nội, Phó Thống đốc NHNN Đào Minh Tú cho hay thời gian qua, diễn biến thị trường tài chính, tiền tệ thế giới có nhiều thuận lợi, qua đó giảm bớt áp lực chính sách tiền tệ của các quốc gia, trong đó có Việt Nam.

Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước nhấn mạnh, tín dụng trong thời gian tới tiếp tục được tập trung vào các lĩnh vực kinh tế trọng điểm, các dự án lớn, dự án giao thông BT, BOT, các dự án liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội, phát triển lúa gạo, xuất khẩu thủy hải sản... Đối với người dân và doanh nghiệp bị ảnh hưởng do bão lũ, ngành Ngân hàng sẽ tiếp tục có các chính sách, chương trình hỗ trợ theo chỉ đạo chung của Chính phủ.

Đối với điều hành lãi suất, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp, góp phần hỗ trợ nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất tiếp tục xu hướng giảm so với cuối năm 2023.

NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng như gói 120.000 tỷ đồng nay là 140.000 tỷ đồng cho vay nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, dự án cải tạo, xây dựng lại chung cư; chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm, thủy sản…

Phó Thống đốc Đào Minh Tú cho biết, quan điểm của NHNN là điều hành chính sách tiền tệ cởi mở để hỗ trợ được nhiều vốn hơn cho nền kinh tế. NHNN liên tục hỗ trợ vốn, đảm bảo thanh khoản cho các ngân hàng. Trong điều kiện kinh tế vĩ mô đảm bảo lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng, đảm bảo quan hệ tỷ giá, NHNN sẽ để ngỏ quan điểm điều hành lãi suất trong thời gian tới. Tín dụng vẫn sẽ tập trung cho các dự án trọng điểm, các dự án BOT, các chương trình tín dụng ngành, tín dụng chính sách.

Ngân hàng nhà nước “để ngỏ” câu chuyện lãi suất, giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới
Ngân hàng Nhà nước tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng đẩy mạnh triển khai chương trình tín dụng. Ảnh: T.L

Cùng với đó, tình hình tỷ giá, ngoại tệ quý III cũng có nhiều điểm tích cực, xu hướng tỷ giá dịu và giảm dần. Trước đây có lúc mức mất giá cao nhất khoảng 5 - 6%, giờ chỉ còn 1 - 2%, tạo niềm tin cho thị trường, nhà đầu tư nước ngoài, không còn tâm lý găm giữ ngoại tệ. Hầu hết các nhu cầu ngoại tệ được đáp ứng đầy đủ.

Đối với tình hình tăng trưởng tín dụng, theo NHNN, đến nay tín dụng toàn hệ thống tăng khoảng 9% so với cuối năm 2023. Với thanh khoản tốt và còn nhiều dư địa tăng trưởng tín dụng, các tổ chức tín dụng hiện có điều kiện thuận lợi để cung ứng vốn cho vay đối với nền kinh tế. Đặc biệt vào thời điểm quý cuối năm, nhiều dự án có tiến độ giải ngân tăng nhanh hơn.

Giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới

Trong tuần giá vàng SJC cũng có những phiên biến động mạnh, giá vàng miếng SJC trong nước ngày 15/10 lại tăng thêm 500 nghìn đồng/lượng, lên mức 85 triệu đồng/lượng ở chiều bán ra và 83 triệu đồng/lượng ở chiều mua vào. Sau đó, ngày 17/10 giá vàng miếng tiếp tục tăng thêm 1 triệu đồng/ lượng và giữ giá đi ngang trong phiên giao dịch cuối tuần.

Chốt tuần, vàng miếng SJC tăng 1,5 triệu đồng/ lượng so với tuần trước đó. Giá vàng ngày 18/10 tại các ngân hàng Agribank, BIDV, Vietcombank, VietinBank và các công ty vàng bạc đá quý bán ra ở mức 86 triệu đồng/lượng. Ở chiều mua, giá vàng các thương hiệu được niêm yết ở mức 84 triệu đồng/lượng. Với mốc giá trên, vàng miếng SJC đang cao hơn thế giới 2,9 triệu đồng/lượng.

Ngân hàng nhà nước “để ngỏ” câu chuyện lãi suất, giá vàng nhẫn lại lập đỉnh mới
Giá vàng nhẫn tăng mạnh, thiếp lập kỷ lục mới. Ảnh: T.L

Trong khi đó, giá vàng nhẫn tròn trơn lại có một tuần “nổi sóng” vượt mốc 85 triệu đồng/lượng - cao nhất trong lịch sử. Tại thời điểm đầu giờ chiều ngày 18/10 tại DOIJ giá vàng nhẫn niêm yết ở mức 84,60 triệu đồng/lượng trong khi bán ra tại 85,69 triệu đồng/lượng. Tại Công ty Phú Quý niêm yết giá vàng nhẫn lên mức 84,60 - 85,60 triệu đồng/lượng mua vào - bán ra. Bảo Tín Minh Châu giá vàng nhẫn ở mức 84,58 triệu đồng/lượng mua vào trong khi giá bán ra là 85,58 triệu đồng/lượng. Như vậy so với cuối tuần trước giá vàng nhẫn đã tăng mạnh hơn 2 triệu đồng/lượng.

Giá vàng trong nước tăng mạnh đồng pha với sự tăng giá của giá vàng thế giới. Trong phiên giao dịch ngày 17/10, trên thị trường quốc tế, giá vàng thế giới giao ngay đã vượt mốc 2.710 USD/ounce.

Đây là mức giá cao nhất từ trước đến nay của kim loại quý này. Từ đầu năm đến nay, giá vàng thế giới đã tăng hơn 30% và liên tục thiết lập nhiều đỉnh mới. Giới phân tích đánh giá, nguyên nhân của đà tăng này đến từ những bất ổn địa chính trị và khả năng Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục cắt giảm lãi suất trong thời gian tới.

Ngân hàng thương mại tăng mạnh giá bán USD

Tỷ giá trung tâm hôm đầu tuần ngày 14/10 ghi nhận ở mức 24.175 đồng/USD, không đổi so với cuối tuần trước. Tuy nhiên, NHNN đã điều chỉnh giảm tỷ giá trung tâm trong ngày thứ Ba, sau đó tăng liên tục trong các ngày còn lại của tuần. Chốt hôm cuối tuần, tỷ giá trung tâm được NHNN công bố ghi nhận ở mức 24.199 đồng/USD, tăng 24 đồng/USD so với hôm đầu tuần. Như vậy, tỷ giá trung tâm theo công bố của NHNN đã liên tục tăng từ đầu tháng 10 đến nay.

Hôm 1/10 tỷ giá ghi nhận là 24.081 đồng/USD, nhưng liên tục được điều chỉnh tăng từng ngày từ thời điểm đó đến nay và đến ngày 18/10 đã tăng lên mức 24.199 đồng/USD.

Cùng chung quỹ đạo này, tỷ giá niêm yết của các ngân hàng thương mại cũng luôn được điều chỉnh tăng từ đầu tháng. Tuần qua, tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm thứ hai đầu tuần là 25.000 đồng/USD không đổi so với cuối tuần trước. Sau đó, Vietcombank tiếp tục tăng mạnh tỷ giá bán ra trong những ngày còn lại của tuần. Tại thời điểm cuối tuần, tỷ giá bán ra tại Vietcombank là 25.370 đồng/USD, tăng 370 đồng/USD so với hôm đầu tuần.

Như vậy tỷ giá bán ra tại Vietcombank hôm 1/10 ghi nhận mức 24.770 đồng/USD và đến nay đã vượt lên trên mốc 25.370 đồng/USD.

Diễn biến tỷ giá tăng từ đầu tháng 10/2024 đến nay bị tác động từ việc sức mạnh đồng USD được củng cố. Tuy nhiên, giới phân tích đánh giá những “cú giật” đó chỉ mang tính cục bộ, xu hướng chính của tỷ giá trong quý IV/2024 vẫn là ổn định./.

Chỉ số DXY tiếp tục tăng mạnh

Trên thị trường quốc tế, chỉ số DXY đo lường sức mạnh của đồng Đô la Mỹ có xu tăng mạnh tuần qua. Tại thời điểm chiều ngày 18/10 theo giờ Việt Nam, chỉ số DXY ghi nhận ở mức khoảng 103,62 điểm, tiếp tục tăng mạnh so mức điểm của chỉ số này trước đó 1 tuần.

Mai Tấn

Đọc thêm

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

Thị trường vàng trước nhiều lực kéo trái chiều, khó sinh lời đột biến

(TBTCO) - Sau khi giảm hơn 28% so với đỉnh đầu năm 2026, giá vàng thế giới vẫn chịu sức ép từ kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) duy trì lãi suất cao, đồng USD mạnh và áp lực chốt lời của nhà đầu tư. Trong khi đó, giá vàng trong nước vẫn neo cao do các chính sách mới chưa tạo chuyển biến rõ rệt, giới chuyên gia cho rằng vàng khó còn mang lại mức sinh lời đột biến như trước.
Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

Tỷ giá USD hôm nay (15/7): Ngân hàng bán USD cách xa tỷ giá trần, CPI Mỹ giảm mạnh nhất 6 năm

(TBTCO) - Sáng 15/7, tỷ giá trung tâm tăng 8 đồng, lên 25.233 đồng, trong khi tỷ giá USD bán ra tại các ngân hàng diễn biến trái chiều, lùi xa so với tỷ giá trần. Chỉ số DXY giảm còn 100,79 điểm khi CPI Mỹ tháng 6 giảm 0,4%, mức giảm theo tháng mạnh nhất kể từ tháng 4/2020.
Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

Giá vàng hôm nay ngày 15/7: Giá vàng trong nước quay đầu tăng trở lại

(TBTCO) - Giá vàng thế giới tăng trở lại lên trên 4.000 USD/ounce. Giá vàng miếng và giá vàng nhẫn trong nước cũng quay đầu tăng trở lại.
VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

VietABank điều chỉnh phương án chia cổ phiếu, tăng vốn điều lệ đợt 1 lên hơn 9.000 tỷ đồng

(TBTCO) - VietABank vừa điều chỉnh phương án chia cổ phiếu để tăng vốn điều lệ từ nguồn vốn chủ sở hữu, giảm tỷ lệ phát hành từ 15% xuống 10,5%, tương ứng phát hành hơn 85,7 triệu cổ phiếu. Sau phát hành, vốn điều lệ VietABank dự kiến tăng lên hơn 9.020 tỷ đồng.
Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

Đưa dịch vụ tài sản mã hóa vào nhóm báo cáo về phòng, chống rửa tiền

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước đề xuất bổ sung đối tượng báo cáo là dịch vụ tài sản mã hóa và các dấu hiệu đáng ngờ trong lĩnh vực tài sản mã hóa vào Luật Phòng, chống rửa tiền nhằm bảo đảm cơ quan quản lý có công cụ rà soát, phòng ngừa đối với hoạt động có tiềm ẩn rủi ro cao về rửa tiền xuyên biên giới.
Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

Vietjet và Ngân hàng số Vikki trở thành đơn vị đồng hành cùng ASEAN United FC

(TBTCO) - Ngày 13/7/2026, Hãng hàng không Vietjet và Ngân hàng số Vikki chính thức được công bố lần lượt là Nhà bảo trợ vận chuyển hàng không và Ngân hàng chính thức tại Việt Nam của bốn giải đấu thuộc ASEAN United FC, gồm ASEAN Hyundai Cup™, ASEAN Club Championship Shopee Cup™, ASEAN Women's MSIG Cup™ và ASEAN U-23 Championship™. Thỏa thuận hợp tác được xúc tiến bởi SPORTFIVE, đối tác thương mại độc quyền của Liên đoàn Bóng đá Đông Nam Á (AFF).
MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

MBV thông báo về việc thay đổi địa điểm các phòng giao dịch MBV tại Quảng Ngãi

(TBTCO) - Ngân hàng TNHH MTV Việt Nam Hiện Đại (MBV) trân trọng thông báo về việc thay đổi địa điểm đặt trụ sở các phòng giao dịch trực thuộc Chi nhánh Quảng Ngãi.
Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

Fitch Ratings lần đầu xếp hạng HDBank, ghi nhận nền tảng tài chính vững mạnh top đầu Việt Nam

(TBTCO) - Tổ chức xếp hạng quốc tế Fitch Ratings vừa công bố kết quả xếp hạng tín nhiệm lần đầu đối với Ngân hàng TMCP Phát triển TP. Hồ Chí Minh (HDBank - HoSE: HDB). Các mức đánh giá dành cho HDBank thuộc nhóm cao nhất, phản ánh nền tảng tài chính vững mạnh, hiệu quả cao và bền vững.
Xem thêm
DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 14,550 14,850
Kim TT/AVPL 14,350 14,750
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 14,350 14,750
Nguyên Liệu 99.99 13,200 13,400
Nguyên Liệu 99.9 13,150 13,350
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 13,700 14,200
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 13,650 14,150
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 13,580 14,130
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Hà Nội - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đà Nẵng - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Miền Tây - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Tây Nguyên - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
Đông Nam Bộ - PNJ 143,500 147,000 ▼500K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Nghệ An 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
Miếng SJC Thái Bình 14,520 ▼30K 14,820 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,370 ▼30K 14,720 ▼30K
NL 99.99 13,000
Nhẫn Tròn Thái Bình 12,950
Trang sức 99.9 13,910 ▼30K 14,610 ▼30K
Trang sức 99.99 13,920 ▼30K 14,620 ▼30K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,452 ▼3K 14,822 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,452 ▼3K 14,823 ▼30K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,442 ▼3K 1,477 ▲1329K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,442 ▼3K 1,478 ▼3K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,417 ▲1275K 1,457 ▲1311K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,257 ▼297K 144,257 ▼297K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,636 ▼225K 109,436 ▼225K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,436 ▲80472K 99,236 ▲89292K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 79,236 ▼183K 89,036 ▼183K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,302 ▼175K 85,102 ▼175K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 51,113 ▼125K 60,913 ▼125K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,452 ▼3K 1,482 ▼3K
Cập nhật: 16/07/2026 10:30
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 17826 18100 18675
CAD 18158 18434 19047
CHF 31921 32302 32945
CNY 0 3838 3930
EUR 29473 29693 30771
GBP 34708 35100 36034
HKD 0 3219 3421
JPY 155 159 165
KRW 0 16 18
NZD 0 15025 15610
SGD 19832 20114 20680
THB 697 760 813
USD (1,2) 25996 0 0
USD (5,10,20) 26037 0 0
USD (50,100) 26066 26080 26440
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,070 26,070 26,450
USD(1-2-5) 25,028 - -
USD(10-20) 25,028 - -
EUR 29,609 29,633 31,047
JPY 157.58 157.86 167.38
GBP 34,901 34,995 36,195
AUD 18,031 18,096 18,779
CAD 18,348 18,407 19,086
CHF 32,212 32,312 33,264
SGD 19,948 20,010 20,797
CNY - 3,805 3,950
HKD 3,282 3,292 3,430
KRW 16.27 16.97 18.46
THB 745.19 754.39 807.86
NZD 15,005 15,144 15,593
SEK - 2,690 2,785
DKK - 3,961 4,100
NOK - 2,671 2,766
LAK - 0.89 1.23
MYR 6,029.63 - 6,804.78
TWD 736.81 - 892.54
SAR - 6,873.64 7,239.79
KWD - 83,064 88,374
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,050 26,070 26,450
EUR 29,568 29,687 30,881
GBP 34,916 35,056 36,093
HKD 3,282 3,295 3,412
CHF 32,074 32,203 33,139
JPY 157.94 158.57 166.49
AUD 18,031 18,103 18,699
SGD 20,027 20,107 20,698
THB 762 765 801
CAD 18,370 18,444 19,023
NZD 15,101 15,646 0
KRW 16.90 18.71
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26080 26080 26440
AUD 18008 18108 19031
CAD 18334 18434 19449
CHF 32160 32190 33773
CNY 3818.2 3843.2 3978.6
CZK 0 1190 0
DKK 0 4025 0
EUR 29649 29679 31404
GBP 35004 35054 36822
HKD 0 3355 0
JPY 158.45 158.95 169.5
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.2 0
LAK 0 1.1677 0
MYR 0 6600 0
NOK 0 2710 0
NZD 0 15131 0
PHP 0 395 0
SEK 0 2735 0
SGD 19988 20118 20842
THB 0 725.9 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 14520000 14520000 14820000
SBJ 13000000 13000000 14820000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,083 26,133 26,505
USD20 26,083 26,133 26,505
USD1 23,981 26,133 26,505
AUD 18,051 18,151 19,263
EUR 29,457 29,557 31,216
CAD 18,291 18,391 19,698
SGD 20,062 20,212 20,771
JPY 158.95 160.45 165.99
GBP 34,907 35,057 36,130
XAU 14,548,000 0 14,852,000
CNY 0 3,728 0
THB 0 761 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 16/07/2026 10:30
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80