Ngân hàng UOB dự báo đồng USD suy yếu, tỷ giá hạ nhiệt sau quý III/2025

Ánh Tuyết
(TBTCO) - Nhóm chuyên gia Ngân hàng UOB (Singapore) dự báo đồng USD tiếp tục suy yếu so với các đồng tiền mạnh khác, với kỳ vọng Fed sẽ cắt giảm lãi suất 3 lần từ tháng 9 đến cuối năm. Trái với đà phục hồi mạnh của các đồng tiền khu vực châu Á, đồng VND vẫn chịu sức ép, song tỷ giá USD/VND dự báo hạ nhiệt sau khi đạt đỉnh 26.300 đồng vào quý III/2025.
aa
Thị trường tiền tệ tuần 5-9/5: Tỷ giá tạm lắng giữa các lực kéo - đẩy trái chiều Ứng phó trước sức căng tỷ giá từ đầu năm Ngân hàng UOB dự báo đợt suy yếu của nhiều đồng tiền sau "bão" thuế quan từ Mỹ

Bộ phận Nghiên cứu thị trường và Kinh tế toàn cầu, Ngân hàng UOB (Singapore) vừa công bố báo cáo "Chiến lược tỷ giá và lãi suất tháng 5".

Tại báo cáo này, các chuyên gia của Ngân hàng UOB đánh giá, đồng USD trải qua tháng 4 đầy biến động, khi hàng loạt tin đồn về xu hướng phi USD hóa lan rộng trên thị trường. Tâm điểm là các giả thuyết xoay quanh “Hiệp định Mar-a-Lago”, dựa trên các phương pháp được cho là bao gồm các biện pháp áp thuế thương mại và làm suy yếu đồng USD.

Theo nhóm phân tích, lý do thực sự khiến đồng USD bị bán tháo sau “Ngày Giải phóng” khi chính quyền của Tổng thống Trump áp loạt thuế quan mới, đặc biệt là khi giảm mạnh so với đồng Đài tệ (TWD), có thể đến từ việc nhiều doanh nghiệp xuất khẩu đồng loạt bán ra lượng USD tích trữ trước đó từ nguồn thu xuất khẩu.

"Chúng tôi giữ vững quan điểm rằng đồng USD sẽ tiếp tục suy yếu so với các đồng tiền mạnh khác. Điều này sẽ khiến chỉ số USD Index (DXY) giảm xuống vùng giao dịch mới dưới mốc 100 điểm và tiếp tục giảm về mức 96,9 điểm vào quý I/2026" - các chuyên gia của Ngân hàng UOB dự báo.

Song song đó, dự báo mới nhất của Ngân hàng UOB cho thấy tỷ giá EUR/USD và GBP/USD sẽ tiếp tục tăng lên lần lượt 1,17 và 1,39 vào quý I/2026. Với đồng AUD, đợt phục hồi hình chữ "V" có thể đã quá đà, do đó, dự báo mức tăng sẽ hạn chế hơn, chỉ đạt khoảng 0,66 trong quý I/2026. Riêng đồng JPY, với lộ trình tăng lãi suất nhẹ nhàng hơn của Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BOJ), sẽ có xu hướng tăng giá từ từ, đạt mức 140 USD/JPY vào quý I/2026.

Ngân hàng UOB dự báo đồng USD suy yếu, tỷ giá hạ nhiệt sau quý III/2025
Nguồn: Ngân hàng UOB (Singapore).

Về các đồng tiền châu Á (Asia FX), dù giai đoạn biến động mạnh đầu tháng 4 đã qua, vẫn còn nhiều rủi ro có thể kìm hãm đà phục hồi của các đồng tiền khu vực. Những yếu tố này được nhóm chuyên gia chỉ ra bao gồm: sự bất định xung quanh kết quả đàm phán thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc, cũng như việc các đồng tiền châu Á tăng giá nhanh trong khi triển vọng kinh tế và thương mại trong khu vực lại đang suy yếu.

Dù cho rằng đà phục hồi mạnh mẽ gần đây của các đồng tiền châu Á có phần quá mức, nhưng so với dự báo tháng trước, Ngân hàng UOB cũng điều chỉnh giảm các mức đỉnh dự kiến của tỷ giá USD/Asia trong quý III/2025, phản ánh khả năng giai đoạn căng thẳng nhất của chiến tranh thương mại đã qua. Theo đó, dự báo USD/CNY sẽ ở mức 7,32 trong quý III/2025; USD/SGD, USD/MYR, USD/THB, USD/IDR và USD/VND lần lượt ở mức 1,32; 4,38; 33,5; 16.800 và 26.300.

Tỷ giá USD/VND dự báo đạt đỉnh 26.300 đồng trong quý III/2025

"Nếu không đạt được thỏa thuận thương mại với Mỹ, chúng tôi cho rằng đồng VND sẽ duy trì ở biên độ yếu so với đồng USD. Dự báo cập nhật của chúng tôi đối với tỷ giá USD/VND lần lượt là: 26.100 trong quý II/2025, 26.300 trong quý III/2025, 26.000 trong quý IV/2025 và 25.800 trong quý I/2026" - Ngân hàng UOB dự báo.

"Đáng chú ý, đồng VND là trường hợp đặc biệt trong đợt phục hồi mạnh của các đồng tiền khu vực trong tháng 4, khi VND đã giảm 1,6% trong tháng, xuống còn 25.990 VND/USD" - Ngân hàng UOB đánh giá.

Thị trường có thể đã phản ứng trước tác động tiêu cực về kinh tế đối với Việt Nam, sau khi Mỹ tuyên bố áp thuế lên tới 46% đối với hàng hóa Việt, mức cao thứ hai toàn cầu, chỉ sau Trung Quốc.

Chỉ số PMI ngành sản xuất cũng giảm mạnh xuống 45,6, mức thấp nhất trong hai năm, cho thấy tâm lý thận trọng của các nhà sản xuất trong bối cảnh lo ngại hàng Việt Nam mất lợi thế cạnh tranh về giá tại thị trường xuất khẩu lớn nhất là Mỹ.

Về triển vọng lãi suất, nhóm phân tích tiếp tục giữ quan điểm rằng cả Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ. Dù thời điểm cắt giảm lãi suất của Fed đã được điều chỉnh lùi lại, dự báo Fed sẽ thực hiện ba đợt cắt giảm lãi suất, mỗi đợt 25 điểm cơ bản trong năm nay. Thời điểm cập nhật cho ba đợt cắt giảm này là tại các cuộc họp FOMC (Ủy ban Thị trường Mở Liên bang) vào tháng 9, tháng 10 và tháng 12, qua đó, đưa lãi suất chính sách từ 4,50% xuống còn 3,75% vào cuối năm 2025./.

Ánh Tuyết

Đọc thêm

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

Mastercard và MDP công bố hợp tác chiến lược

(TBTCO) - Mastercard và Công ty cổ phần Thanh toán số - MDP chính thức công bố hợp tác chiến lược nhằm nâng cấp hạ tầng tài chính và thúc đẩy các sáng kiến về thanh toán số. Sự kiện đánh dấu bước đi quan trọng trong việc đón đầu nhu cầu chuyển đổi số thông qua cung ứng các giải pháp thanh toán bảo mật, theo thời gian thực (real-time payment), đảm bảo kết nối thông suốt giữa mạng lưới thanh toán nội địa của Việt Nam và hệ thống thanh toán toàn cầu của Mastercard, tạo động lực tăng trưởng bền vững cho nền kinh tế số quốc gia.
Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

Tỷ giá USD hôm nay (14/5): USD tự do áp về sát ngân hàng, DXY lấy lại đà tăng khi Fed sắp có tân Chủ tịch

(TBTCO) - Sáng ngày 14/5, tỷ giá trung tâm ở mức 25.126 đồng, tăng 3 đồng; USD tự do giao dịch quanh 26.370 - 26.400 VND/USD và thu hẹp đáng kể chênh lệch bán ra với ngân hàng thương mại. Chỉ số DXY ở mức 98,46 điểm, phục hồi đáng kể nhờ dữ liệu lạm phát Mỹ vượt dự báo, củng cố kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ duy trì lãi suất cao lâu hơn dưới thời tân Chủ tịch Kevin Warsh.
SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

SSI Research cảnh báo áp lực “đua” huy động vốn nếu áp trần CDR ngay

Đánh giá tác động của Thông tư thay thế Thông tư số 22/2019/TT-NHNN, SSI Research cho rằng, điểm đáng lo ngại nằm ở trần tỷ lệ dư nợ cấp tín dụng so với huy động vốn (CDR) 85%, khi quy định này có thể buộc nhiều ngân hàng có CDR cao cạnh tranh quyết liệt để huy động vốn thị trường 1, làm chậm tăng trưởng tín dụng hoặc phát hành thêm chứng chỉ tiền gửi/trái phiếu dài hạn.
Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

Lộ diện các ngân hàng chia cổ tức tiền mặt “khủng”

(TBTCO) - Ba ngân hàng gồm LPBank, Techcombank và VPBank vừa đồng loạt công bố ngày chốt danh sách cổ đông để chi trả cổ tức tiền mặt trong tháng 5, với tổng số tiền dự kiến gần 18.000 tỷ đồng. Bên cạnh đó, 4 ngân hàng khác cũng dự kiến chia cổ tức bằng tiền mặt, nâng tổng quy mô chi trả của 7 nhà băng lên 35.783 tỷ đồng, mức cao trong nhiều năm.
CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

CEO TPBank: Làm chủ trí tuệ nhân tạo là cách hữu hiệu để bảo vệ niềm tin số

(TBTCO) - Tại diễn đàn Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026, ông Nguyễn Hưng - Tổng Giám đốc TPBank khẳng định: “Trong kỷ nguyên AI, ngành ngân hàng vốn kinh doanh dựa trên niềm tin và uy tín suốt hàng trăm năm qua, giờ đây cần nỗ lực hơn nữa để khẳng định "vị thế tiên phong trong việc bảo vệ niềm tin số" cho khách hàng”. Và việc sử dụng AI hiệu quả, khai thác tối đa lợi ích trong khi giảm thiểu những “mặt tối” của AI, chính là cách thức hữu hiệu để bảo vệ tài sản và sự an tâm của người dùng.
TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

TH chung tay nâng tầm phúc lợi và sức khỏe người lao động ngành ngân hàng

(TBTCO) - Sáng 13/5, tại Hà Nội, Tập đoàn TH và Công đoàn Ngân hàng Việt Nam ký kết Thỏa thuận hợp tác triển khai Chương trình phúc lợi cho đoàn viên, người lao động, đánh dấu bước đi đột phá trong việc chăm sóc sức khỏe thể chất và tinh thần cho đội ngũ đoàn viên, người lao động toàn hệ thống ngành ngân hàng.
Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

Ngân hàng “án binh bất động”, lãi suất huy động khó giảm sâu

(TBTCO) - Sau làn sóng giảm lãi suất đồng loạt hồi đầu tháng 4 theo định hướng của Ngân hàng Nhà nước, việc hạ lãi suất dần chững lại khi phần lớn ngân hàng “án binh bất động”. Trong bối cảnh tín dụng tăng tốc trở lại, áp lực thanh khoản, lạm phát, tỷ giá hiện hữu, cùng lộ trình siết chuẩn theo Basel III khiến dư địa giảm lãi suất khó hơn.
Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

Bộ Tài chính sửa đổi thủ tục cấp giấy phép doanh nghiệp bảo hiểm, mở chi nhánh ở nước ngoài

(TBTCO) - Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 1103/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm. Quyết định sửa đổi hai thủ tục hành chính liên quan đến cấp giấy phép thành lập và hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm, cùng thủ tục mở chi nhánh, văn phòng đại diện ở nước ngoài của doanh nghiệp môi giới bảo hiểm.
Xem thêm

Mới nhất Đọc nhiều

DOJI Giá mua Giá bán
SJC -Bán Lẻ 16,200 16,500
Kim TT/AVPL 16,200 16,500
NHẪN TRÒN 9999 HƯNG THỊNH VƯỢNG 16,200 16,500
Nguyên Liệu 99.99 15,300 15,500
Nguyên Liệu 99.9 15,250 15,450
NỮ TRANG 9999 - BÁN LẺ 16,000 16,400
NỮ TRANG 999 - BÁN LẺ 15,950 16,350
Nữ trang 99 - Bán Lẻ 15,880 16,330
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 162,000 165,000
Hà Nội - PNJ 162,000 165,000
Đà Nẵng - PNJ 162,000 165,000
Miền Tây - PNJ 162,000 165,000
Tây Nguyên - PNJ 162,000 165,000
Đông Nam Bộ - PNJ 162,000 165,000
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 16,200 16,500
Miếng SJC Nghệ An 16,200 16,500
Miếng SJC Thái Bình 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 16,200 16,500
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 16,200 16,500
NL 99.90 15,050
NL 99.99, Nhẫn Tròn Thái Bình 15,100
Trang sức 99.9 15,690 16,390
Trang sức 99.99 15,700 16,400
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 162 16,502
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 162 16,503
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,618 1,648
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,618 1,649
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,598 1,633
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 155,183 161,683
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 113,737 122,637
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 102,305 111,205
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 90,873 99,773
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 86,463 95,363
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 59,353 68,253
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 162 165
Cập nhật: 15/05/2026 06:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18557 18834 19410
CAD 18685 18963 19579
CHF 33040 33426 34072
CNY 0 3842 3934
EUR 30210 30484 31509
GBP 34791 35184 36118
HKD 0 3233 3435
JPY 160 164 170
KRW 0 16 18
NZD 0 15327 15915
SGD 20149 20432 20955
THB 730 793 847
USD (1,2) 26081 0 0
USD (5,10,20) 26122 0 0
USD (50,100) 26150 26170 26382
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 26,132 26,132 26,382
USD(1-2-5) 25,087 - -
USD(10-20) 25,087 - -
EUR 30,414 30,438 31,732
JPY 162.74 163.03 171.99
GBP 35,074 35,169 36,213
AUD 18,821 18,889 19,510
CAD 18,911 18,972 19,575
CHF 33,384 33,488 34,303
SGD 20,316 20,379 21,083
CNY - 3,818 3,944
HKD 3,304 3,314 3,435
KRW 16.34 17.04 18.45
THB 778.51 788.13 839.31
NZD 15,344 15,486 15,866
SEK - 2,787 2,871
DKK - 4,070 4,193
NOK - 2,832 2,917
LAK - 0.92 1.27
MYR 6,280.96 - 7,057.03
TWD 756.58 - 911.95
SAR - 6,919.69 7,251.69
KWD - 83,906 88,827
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 26,122 26,142 26,382
EUR 30,280 30,402 31,584
GBP 34,995 35,136 36,146
HKD 3,295 3,308 3,423
CHF 33,108 33,241 34,179
JPY 162.87 163.52 170.92
AUD 18,735 18,810 19,404
SGD 20,338 20,420 21,005
THB 795 798 833
CAD 18,863 18,939 19,513
NZD 15,368 15,903
KRW 16.94 18.59
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 26212 26212 26382
AUD 18744 18844 19772
CAD 18867 18967 19982
CHF 33296 33326 34909
CNY 3823 3848 3983.1
CZK 0 1220 0
DKK 0 4140 0
EUR 30397 30427 32152
GBP 35105 35155 36916
HKD 0 3355 0
JPY 163.33 163.83 174.36
KHR 0 6.097 0
KRW 0 17.1 0
LAK 0 1.165 0
MYR 0 6920 0
NOK 0 2850 0
NZD 0 15440 0
PHP 0 400 0
SEK 0 2840 0
SGD 20310 20440 21168
THB 0 759.2 0
TWD 0 820 0
SJC 9999 16200000 16200000 16500000
SBJ 14000000 14000000 16500000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 26,174 26,224 26,382
USD20 26,174 26,224 26,382
USD1 26,174 26,224 26,382
AUD 18,784 18,884 19,991
EUR 30,538 30,538 31,947
CAD 18,810 18,910 20,217
SGD 20,381 20,531 21,485
JPY 163.8 165.3 169.83
GBP 34,970 35,320 36,195
XAU 16,198,000 0 16,502,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 795 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 15/05/2026 06:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 1,60 1,60 1,90 2,90 2,90 4,60 4,70
BIDV 0,10 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,70
VietinBank 0,10 0,20 0,20 0,20 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
ACB 0,01 0,50 0,50 0,50 2,30 2,50 2,70 3,50 3,70 4,40 4,50
Sacombank - 0,50 0,50 0,50 2,80 2,90 3,20 4,20 4,30 4,90 5,00
Techcombank 0,05 - - - 3,10 3,10 3,30 4,40 4,40 4,80 4,80
LPBank 0.20 0,20 0,20 0,20 3,00 3,00 3,20 4,20 4,20 5,30 5,60
DongA Bank 0,50 0,50 0,50 0,50 3,90 3,90 4,10 5,55 5,70 5,80 6,10
Agribank 0,20 - - - 1,70 1,70 2,00 3,00 3,00 4,70 4,80
Eximbank 0,10 0,50 0,50 0,50 3,10 3,30 3,40 4,70 4,30 5,00 5,80