So sánh kịch bản tác động tiền tệ 2 thời kỳ hậu suy thoái

Chí Tín
(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang xây dựng nghị định về việc thực thi gói cấp bù lãi suất 2% nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tăng động lực phát triển sau khó khăn dịch Covid-19. Việc xây dựng và thực thi chính sách lần này đã có những kinh nghiệm giá trị từ các giải pháp tiền tệ tương tự giai đoạn 2008-2009. Điều đó đặt ra kỳ vọng chính sách lần này sẽ đem lại hiệu quả cao, thúc đẩy nền kinh tế tăng tốc.
aa

Kịch bản năm 2009

Bối cảnh nền kinh tế 2022 và giai đoạn 2009 có chung một tính chất là kinh tế sau một giai đoạn suy thoái. Nếu như suy thoái của năm 2020 - 2021 có nguyên nhân từ sự ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch Covid-19 thì giai đoạn suy thoái năm 2008 xuất phát từ cuộc khủng hoảng phá sản của Ngân hàng Lehman Brother.

So sánh kịch bản tác động tiền tệ 2 thời kỳ hậu suy thoái

Trong giai đoạn 2008 - 2009, để hỗ trợ nền kinh tế khắc phục khủng hoảng, Chính phủ cũng đưa ra các gói kích thích kinh tế, chủ yếu tập trung vào phát triển kinh doanh và xuất khẩu, kích cầu đầu tư tiêu dùng, bảo đảm an sinh xã hội, với quy mô 122.000 tỷ đồng; trong đó riêng năm 2009 là 106.600 tỷ đồng.

Các gói kích thích này giúp đất nước vượt qua khủng hoảng, đạt tăng trưởng GDP cả năm 2009 là 5,2% - dù là năm có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp nhất trong vòng 10 năm nhưng Việt Nam vẫn là một trong số ít quốc gia có tăng trưởng dương năm 2009.

Một trong những chính sách tài khóa tiền tệ đáng chú ý được thực thi thời điểm đó là gói hỗ trợ lãi suất 4% cho doanh nghiệp vay vốn lưu động phục vụ sản xuất kinh doanh. Tổng giá trị gói hỗ trợ lên đến 17.000 tỷ đồng. Tính đến cuối năm 2009, tổng dư nợ cho vay hỗ trợ lãi suất đạt gần 420.000 tỷ đồng với khoảng 78.000 doanh nghiệp.

Sau giai đoạn khủng hoảng 2008 và gói hỗ trợ tiền tệ năm 2009 được bơm ra thì thị trường bất động sản bước vào giai đoạn sôi động và bủng nổ kéo dài từ 2009 đến 2010. Nhìn lại giai đoạn đó, một số con mắt hoài nghi cho rằng, sự bùng nổ của bất động sản thời kỳ đó có lý do từ việc một phần vốn bơm ra từ gói hỗ trợ lãi suất đã bị “rò rỉ” sang thị trường bất động sản.

Những bối cảnh khác nhau

Trong bối cảnh kinh tế năm 2021, khi doanh nghiệp ảnh hưởng của dịch Covid-19, chương trình phục hồi kinh tế sau đại dịch dự kiến cũng sẽ sử dụng một công cụ tương tự là gói cấp bù lãi suất 2% đễ hỗ trợ doanh nghiệp và nền kinh tế.

Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng, bối cảnh và tính chất các gói hỗ trợ giai đoạn 2022 đã có nhiều điểm khác so với thời kỳ năm 2009. Ngoài ra, việc tạo lập và thực thi chính sách cũng đã có các bài học kinh nghiệm từ quá khứ để có thể triển khai chính sách có hiệu quả hơn.

Một trong những điểm khác trong 2 gói chính sách của 2 giai đoạn là lãi suất chênh lệch được cấp bù của giai đoạn năm 2009 là 4%, mức chênh lệch cao gấp đôi so với con số lãi suất 2% dự kiến sẽ cấp bù của giai đoạn 2022 - 2023.

Mức chênh lệch lãi suất chỉ 2% trong giải pháp tiền tệ lần này nhỏ hơn so với thời kỳ năm 2009 sẽ khắc phục được “kẽ hở” đã từng xảy ra và bị lợi dụng thời gian trước. Ông Nguyễn Trí Hiếu - chuyên gia kinh tế cho rằng, việc triển khai gói hỗ trợ cấp bù lãi suất đã rút được những bài học từ quá khứ vì thời kỳ trước đã có tình trạng người vay không đưa vốn vào sản xuất kinh doanh mà mang tiền quay về gửi lại ngân hàng, “sống ký gửi chính sách”.

Về quy mô, số tiền hỗ trợ năm 2009 là 17.000 tỷ đồng, còn thời điểm hiện tại là 40.000 đồng. Tuy nhiên, thời gian triển khai gói tín dụng kéo dài trong 2 năm 2002 và 2023, nên nếu chia đều mỗi năm chỉ khoảng 20.000 tỷ đồng. So sánh về ảnh hưởng của các gói cấp bù lãi suất hiện tại và của giai đoạn năm 2008, ông Phan Lê Thành Long - Giám đốc Viện Kế toán quản trị công chứng Úc (CMA Australia) cho biết, nhà đầu tư cần lưu ý là quy mô GDP nền kinh tế năm 2009 nhỏ hơn thời điểm hiện tại rất nhiều.

Ngoài ra, một số chuyên gia cho biết, trong hơn 10 năm qua, nhiều văn bản pháp lý trong hoạt động tín dụng ngân hàng đã được sửa đổi, bổ sung và qua đó đã lấp được nhiều khoảng trống pháp lý. Quy trình vay vốn theo đó đã chặt chẽ, bám sát đối tượng hơn, đảm bảo tốt hơn việc người vay sử dụng vốn vay đúng mục đích.

Đặc biệt trong lần ban hành chính sách lần này, Ban soạn thảo nghị định có đề xuất một số phương án tăng cường kiểm soát dòng vốn. Dự thảo tờ trình Chính phủ của Ngân hàng Nhà nước cũng đề cập những nội dung rất cụ thể, lường trước những yếu tố có thể xảy ra để có giải pháp dự phòng, ngăn chặn.

Nội dung tờ trình đề cập những yêu cầu cụ thể khi xây dựng văn bản: “Tránh trường hợp ngân sách hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp có ngành kinh doanh thuộc nhóm được hỗ trợ lãi suất, nhưng doanh nghiệp đó lại vay vốn để phục vụ mục đích khác (ví dụ doanh nghiệp ngành nông - lâm - thủy sản vay vốn để kinh doanh bất động sản/xây dựng…)”.

Ưu việt và thách thức khi triển khai gói bù lãi suất

Một số điểm ưu việt và các thách thức sẽ phải đối mặt khi triển khai gói bù lãi suất theo đánh giá sơ bộ của Ban soạn thảo nghị định và thông tư hướng dẫn:

Mặt ưu việt: Thể hiện sự hỗ trợ của Nhà nước đối với cácdoanh nghiệp gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19, giúp doanh nghiệp giảm bớt chi phí kinh doanh, tạo công ăn việc làm cho người lao động, tạo nền tảng và động lực phát triển nền kinh tế; góp phần giảm giá thành các sản phẩm, dịch vụ, kích cầu tiêu dùng.

Thách thức: Lãi suất cho vay thấp có thể làm gia tăng hành vi sử dụng vốn thiếu cẩn trọng của doanh nghiệp; Nhà nước khó có thể kiểm soát, giám sát toàn bộ quá trình thực hiện hỗ trợ nên có thể xảy ra nguy cơ trục lợi chính sách.

Chí Tín

Đọc thêm

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

Bảo Việt Nhân thọ ra mắt phiên bản mới “An sinh giáo dục” – tiếp nối 30 năm đồng hành cùng tương lai các thế hệ Việt

(TBTCO) - Nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập, Tổng Công ty Bảo Việt Nhân thọ chính thức ra mắt phiên bản mới của sản phẩm “An Sinh Giáo Dục”. Đây là giải pháp bảo hiểm liên kết chung chuyên biệt dành cho trẻ em, kết hợp giữa tích lũy dài hạn và bảo vệ kép cho cả con và cha/mẹ, giúp các bậc phụ huynh chủ động chuẩn bị từ sớm cho tương lai con trẻ.
Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

Tỷ giá USD hôm nay (18/9): Tỷ giá trung tâm tăng, BoE giữ nguyên, BoJ có thể nâng lãi suất lên đỉnh 31 năm

(TBTCO) - Sáng 18/9, tỷ giá trung tâm tăng 5 đồng lên 25.637 đồng, trong khi chỉ số DXY nhích 0,02% lên 100,24 điểm. Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) giữ lãi suất ở 3,75% nhưng phát tín hiệu thắt chặt hơn. Tại Nhật Bản, thị trường đánh giá khả năng Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) tăng lãi suất 25 điểm cơ bản, lên mức cao nhất khoảng 31 năm.
Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

Fed tăng lãi suất lần đầu sau 3 năm, bài toán tỷ giá USD/VND và lãi suất cuối năm

(TBTCO) - Fed tăng lãi suất lần đầu kể từ tháng 7/2023 hỗ trợ đồng USD. Tuy nhiên, áp lực tỷ giá USD/VND còn đến từ cung - cầu ngoại tệ trong nước, khi cán cân thương mại nhập siêu, nhà đầu tư nước ngoài mua 3,77 tỷ USD để rút vốn, chuyển lợi nhuận trong 7 tháng. Dư địa dự trữ ngoại hối hạn chế cũng đặt ra bài toán cân bằng tỷ giá và lãi suất.
Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

Vietcombank trao tặng 500 triệu đồng cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn tại chương trình “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026

(TBTCO) - Ngày 16/9/2026, tại Thành phố Hồ Chí Minh, chương trình nghệ thuật chính luận “Nghĩa tình Phương Nam - Cùng con đi tiếp cuộc đời” năm 2026 đã được tổ chức, đánh dấu chặng đường 5 năm chương trình “Cùng con đi tiếp cuộc đời” đồng hành, bảo trợ trẻ em mồ côi do đại dịch Covid-19.
Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam "siết" quản lý tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng

Bảo hiểm xã hội Việt Nam yêu cầu bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố tăng cường rà soát, chấn chỉnh hoạt động của các tổ chức hỗ trợ phát triển đối tượng, bảo đảm thu - nộp đúng quy định, quản lý chặt nguồn tiền và quyền lợi người tham gia.
Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

Mở rộng hưu trí tự nguyện, tăng nguồn lực tài chính dài hạn

(TBTCO) - Việt Nam đang đối mặt với tốc độ già hóa dân số nhanh, hưu trí tự nguyện được kỳ vọng bổ sung một lớp an sinh cho người lao động. Đồng thời trở thành công cụ phúc lợi giúp doanh nghiệp thu hút, giữ chân nhân tài.
Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

Mở thêm “van” tín dụng bất động sản cho khách sạn, khu nghỉ dưỡng tại 25 ngân hàng

(TBTCO) - Ngân hàng Nhà nước mở thêm dư địa tín dụng cho 25 ngân hàng, khi không tính phần dư nợ tăng thêm đối với nhà hàng, khách sạn, khu du lịch, sinh thái, nghỉ dưỡng vào dư nợ bất động sản khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng năm 2026. Cơ chế này tiếp nối chính sách tương tự đã áp dụng với nhà ở xã hội, khu công nghiệp và khu chế xuất.
Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

Ký kết hợp tác chiến lược toàn diện giữa Xuân Mai Corp và BAC A BANK - Hướng tới sự phát triển bền vững

(TBTCO) - Ngày 16/09/2026, tại Hà Nội, Lễ ký kết Hợp tác chiến lược toàn diện giữa Công ty Cổ phần Đầu tư và Xây dựng Xuân Mai (Xuân Mai Corp) và Ngân hàng TMCP Bắc Á (BAC A BANK) - Chi nhánh Thăng Long và Chi nhánh Hà Nội đã diễn ra thành công tốt đẹp. Sự kiện đánh dấu một cột mốc quan trọng, nâng tầm mối quan hệ hợp tác gắn bó suốt nhiều năm qua trở thành đối tác chiến lược sâu rộng, mở ra hành trình bứt phá mạnh mẽ cho cả hai bên trong tương lai.
Xem thêm
PNJ Giá mua Giá bán
TPHCM - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Hà Nội - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đà Nẵng - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Miền Tây - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Tây Nguyên - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
Đông Nam Bộ - PNJ 144,600 ▲1800K 147,600 ▲1800K
AJC Giá mua Giá bán
Miếng SJC Hà Nội 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Nghệ An 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
Miếng SJC Thái Bình 14,460 ▲180K 14,760 ▲180K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình 14,410 ▲130K 14,760 ▲130K
NL 99.99 13,600 ▲50K
Nhẫn Tròn Thái Bình 13,500 ▲50K
Trang sức 99.9 14,070 ▲130K 14,670 ▲130K
Trang sức 99.99 14,080 ▲130K 14,680 ▲130K
SJC Giá mua Giá bán
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 5 chỉ 1,446 ▲18K 14,762 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ 1,446 ▲18K 14,763 ▲180K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ 1,441 ▲18K 1,471 ▲18K
Hồ Chí Minh - Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ 1,441 ▲18K 1,472 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99,99% 1,416 ▲18K 1,461 ▲18K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 99% 137,653 ▲1782K 144,653 ▲1782K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 75% 99,936 ▲1350K 109,736 ▲1350K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 68% 89,708 ▲1224K 99,508 ▲1224K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 61% 7,948 ▼70434K 8,928 ▼79254K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 58,3% 75,535 ▲1050K 85,335 ▲1050K
Hồ Chí Minh - Nữ trang 41,7% 5,128 ▼45401K 6,108 ▼54221K
Miền Bắc - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hạ Long - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Hải Phòng - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Trung - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Huế - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Quảng Ngãi - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Nha Trang - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Biên Hòa - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Miền Tây - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Bạc Liêu - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cà Mau - Vàng SJC 1L, 10L, 1KG 1,446 ▲18K 1,476 ▲18K
Cập nhật: 18/09/2026 18:00
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng TCB
AUD 18000 18275 18859
CAD 18053 18328 18947
CHF 30906 31283 31922
CNY 0 3842 3938
EUR 29250 29470 30551
GBP 33976 34366 35301
HKD 0 3185 3388
JPY 157 161 168
KRW 0 18 20
NZD 0 14559 15155
SGD 19825 20107 20688
THB 696 759 812
USD (1,2) 25754 0 0
USD (5,10,20) 25793 0 0
USD (50,100) 25821 25835 26205
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng BIDV
USD 25,810 25,810 26,190
USD(1-2-5) 24,778 - -
USD(10-20) 24,778 - -
EUR 29,263 29,286 30,675
JPY 160.57 160.86 170.59
GBP 34,119 34,211 35,399
AUD 18,172 18,238 18,935
CAD 18,222 18,280 18,952
CHF 31,129 31,226 32,146
SGD 19,944 20,006 20,791
CNY - 3,807 3,953
HKD 3,247 3,257 3,394
KRW 17.31 18.05 19.65
THB 744.84 754.04 806.89
NZD 14,542 14,677 15,113
SEK - 2,603 2,697
DKK - 3,925 4,064
NOK - 2,707 2,802
LAK - 0.88 1.23
MYR 5,947.58 - 6,714.78
TWD 737.16 - 892.54
SAR - 6,802.55 7,165.57
KWD - 82,316 87,591
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Agribank
USD 25,790 25,820 26,200
EUR 29,305 29,423 30,618
GBP 34,129 34,266 35,290
HKD 3,247 3,260 3,378
CHF 31,017 31,142 32,082
JPY 162.53 163.18 171.16
AUD 18,165 18,238 18,831
SGD 20,035 20,115 20,705
THB 762 765 803
CAD 18,259 18,332 18,922
NZD 14,637 15,180
KRW 17.99 19.93
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng Sacombank
USD 25830 25830 26200
AUD 18186 18286 19208
CAD 18231 18331 19342
CHF 31126 31156 32741
CNY 3824.1 3849.1 3984.3
CZK 0 1190 0
DKK 0 4010 0
EUR 29420 29450 31176
GBP 34274 34324 36077
HKD 0 3305 0
JPY 161.19 161.69 172.2
KHR 0 6.097 0
KRW 0 18.8 0
LAK 0 1.0945 0
MYR 0 6470 0
NOK 0 2820 0
NZD 0 14665 0
PHP 0 380 0
SEK 0 2660 0
SGD 19984 20114 20836
THB 0 725.5 0
TWD 0 810 0
SJC 9999 14460000 14460000 14760000
SBJ 13000000 13000000 14760000
Ngoại tệ Mua Bán
Tiền mặt Chuyển khoản
Ngân hàng OCB
USD100 25,708 25,828 26,250
USD20 25,678 25,828 26,250
USD1 25,658 25,828 26,250
AUD 18,218 18,318 19,426
EUR 29,196 29,296 30,953
CAD 18,190 18,290 19,598
SGD 20,078 20,228 20,783
JPY 162.9 164.4 169.96
GBP 34,136 34,286 35,352
XAU 14,278,000 0 14,582,000
CNY 0 3,731 0
THB 0 762 0
CHF 0 0 0
KRW 0 0 0
Cập nhật: 18/09/2026 18:00
Ngân hàng KKH 1 tuần 2 tuần 3 tuần 1 tháng 2 tháng 3 tháng 6 tháng 9 tháng 12 tháng 24 tháng
Vietcombank 0,10 0,20 0,20 - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
BIDV 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
VietinBank 0,10 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 5,90 6,00
Agribank 0,20 - - - 2,60 2,60 2,90 4,00 4,00 5,90 6,00
ACB 0,50 - - - 4,00 4,20 4,40 4,50 4,70 5,30 5,40
Sacombank 0,50 - - - 4,75 4,75 4,75 6,30 6,30 6,10 6,80
Techcombank 0,05 - - - 4,20 4,20 4,50 6,20 6,20 6,40 5,50
LPBank 0,20 - - - 2,10 2,10 2,40 3,50 3,50 4,60 4,60
Vikki Bank 0,49 0,49 - - 4,64 4,64 4,64 5,75 5,52 5,76 5,43
Eximbank 0,20 0,20 0,20 0,20 2,80 3,00 3,10 4,20 4.00 4,70 5,30