Tạo động lực đổi mới, hiện đại hóa công tác quản lý
“Chiếc áo pháp lý” mới
Ông Đoàn Quang Hưng - Trưởng ban Khoa học và Công nghệ bảo quản (Cục Dự trữ Nhà nước) cho biết, năm 2018, quy định về quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ (KHCN) theo Quyết định số 490/QĐ-TCDT được ban hành đã đóng góp quan trọng vào việc hình thành hệ thống cơ sở lý luận, phục vụ bảo quản hàng dự trữ quốc gia.
Tuy nhiên, sau hơn 7 năm vận hành, mô hình tổ chức của ngành đã có sự thay đổi. Đồng thời, hành lang pháp lý cũng được hoàn thiện với sự ra đời của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (có hiệu lực từ ngày 1/10/2025); Nghị định số 265/2025/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo...
![]() |
| Thủ kho Chi cục Dự trữ Nhà nước khu vực XII kiểm tra chất lượng gạo dự trữ quốc gia. Ảnh: Đức Minh |
Trong quá trình thực hiện quản lý, tổ chức nghiên cứu các nhiệm vụ KHCN, một số nội dung quy định không phù hợp, quy định hướng dẫn chưa chi tiết, chưa có mẫu biểu hướng dẫn cụ thể, chưa quy định rõ trách nhiệm của đơn vị chủ trì và đơn vị thực hiện nhiệm vụ KHCN trong quá trình quản lý, tổ chức thực hiện nhiệm vụ.
Thực tiễn đó đòi hỏi phải có một quy chế mới thay thế để phù hợp với chức năng, thẩm quyền mới và giải quyết các vướng mắc phát sinh.
Năm điểm thay đổi đột phá tạo “luồng gió mới”
Đầu tháng 6/2026, Cục Dự trữ Nhà nước ban hành Quyết định số 277/QĐ-CDT về Quy chế quản lý nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở, thay thế quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 490/QĐ-TCDT ngày 25/6/2018.
Quy chế gồm 7 chương, 26 điều và 19 biểu mẫu hướng dẫn, chuẩn hóa toàn bộ quy trình từ khâu định hướng, lập kế hoạch cho đến nghiệm thu, ứng dụng kết quả nghiên cứu.
Đáng chú ý, với 5 điểm đổi mới mang tính bản lề, Quy chế mới đã giải quyết triệt để các tồn tại của quy định cũ.
Một là, chuyển dịch chu kỳ kế hoạch và cơ chế đột xuất. Thay vì xây dựng kế hoạch 3 năm như trước, việc lập danh mục và dự toán kinh phí KHCN hiện được thực hiện theo chu kỳ hằng năm. Sự thay đổi này giúp bám sát Luật Ngân sách nhà nước và linh hoạt theo nhu cầu thực tế.
Quy chế mới bổ sung quy trình xử lý các nhiệm vụ KHCN đột xuất theo yêu cầu của Cục trưởng Cục Dự trữ Nhà nước, giúp giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quản lý và bảo quản hàng dự trữ quốc gia. Đây là cơ sở để ngành Dự trữ Nhà nước chủ động nghiên cứu, giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong thực tiễn quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia và ứng dụng KHCN phục vụ nhiệm vụ chính trị của ngành.
Hai là, thống nhất phương thức giao trực tiếp nhiệm vụ. Do đặc thù chuyên sâu của ngành Dự trữ, Quy chế mới thống nhất áp dụng phương thức giao trực tiếp nhiệm vụ KHCN cấp cơ sở cho các đơn vị có chuyên môn phù hợp. Quy định này giúp rút ngắn thời gian chuẩn bị và tối ưu hóa hiệu quả thực hiện. Hồ sơ đăng ký (thuyết minh, lý lịch khoa học, năng lực...) cũng được chuẩn hóa ngay từ đầu.
Ba là, phân định rõ vai trò “đơn vị thực hiện” và “tổ chức chủ trì”. Quy chế mới đã giải quyết triệt để vướng mắc về thẩm quyền ký hợp đồng và quản lý kinh phí. Nếu đơn vị được giao là đơn vị sử dụng dự toán ngân sách, thì đơn vị đó đồng thời là tổ chức chủ trì. Nếu là các ban chuyên môn không sử dụng dự toán ngân sách, thì Văn phòng Cục Dự trữ Nhà nước sẽ đóng vai trò là tổ chức chủ trì.
Bên cạnh đó, vai trò chủ trì tham mưu của Ban Khoa học và Công nghệ bảo quản và thẩm quyền phê duyệt của Cục trưởng Cục Dự trữ Nhà nước cũng được quy định rõ ràng.
Quy định này đã giải quyết những vướng mắc phát sinh trong thời gian qua liên quan đến việc xác định đơn vị chủ trì, chủ thể ký hợp đồng nghiên cứu khoa học, quản lý kinh phí và trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đồng thời, Quy chế cũng phân định rõ trách nhiệm của Văn phòng Cục Dự trữ Nhà nước, các ban chuyên môn, đơn vị sử dụng dự toán ngân sách, chủ nhiệm nhiệm vụ và các tổ chức, cá nhân tham gia nghiên cứu khoa học, bảo đảm rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm trong toàn bộ quá trình thực hiện nhiệm vụ KHCN.
Bốn là, tăng mức tạm ứng kinh phí lên đến 50%. Để tạo điều kiện thuận lợi về nguồn lực tài chính cho các nhà khoa học, Quy chế mới cho phép mức tạm ứng kinh phí lần đầu lên tới 50% tổng giá trị hợp đồng ngay sau khi ký kết. Bên cạnh đó, Quy chế quy định cụ thể điều kiện tạm ứng các đợt tiếp theo, hồ sơ thanh toán, chứng từ quyết toán và trách nhiệm của các bên liên quan trong quá trình quản lý, sử dụng kinh phí. Đây là cơ sở quan trọng để nâng cao hiệu quả sử dụng ngân sách nhà nước, đồng thời hạn chế các sai sót trong công tác thanh quyết toán.
Năm là, bắt buộc tự đánh giá trước khi nghiệm thu. Nhằm nâng cao chất lượng đầu ra, các đơn vị thực hiện phải tự rà soát, đánh giá mức độ hoàn thành mục tiêu và sản phẩm khoa học trước khi trình Hội đồng nghiệm thu cấp cơ sở đánh giá nghiệm thu. Hàng loạt biểu mẫu mới (phiếu nhận xét kết quả nghiên cứu, biên bản họp hội đồng, báo cáo tự đánh giá, biên bản thanh lý hợp đồng...) cũng được đưa vào áp dụng để chuẩn hóa quy trình.
Việc ban hành Quy chế không chỉ là một sửa đổi mang tính thủ tục, mà là minh chứng cho quyết tâm của ngành Dự trữ Nhà nước trong việc hiện đại hóa công tác quản lý. Quy chế mới được kỳ vọng sẽ tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thúc đẩy mạnh mẽ xu hướng chuyển đổi số, ứng dụng công nghệ hiện đại vào bảo quản hàng dự trữ quốc gia, đáp ứng toàn diện yêu cầu phát triển của ngành Dự trữ Nhà nước trong tình hình mới.
Phê duyệt Hệ thống kho dự trữ quốc gia thời kỳ 2026 - 2030Ngày 15/6/2026, Bộ Tài chính ban hành Quyết định số 1528/QĐ-BTC phê duyệt Hệ thống kho dự trữ quốc gia thuộc phạm vi quản lý của Bộ Tài chính (Cục Dự trữ Nhà nước) thời kỳ 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, có hiệu lực từ ngày 1/7/2026. Theo đó, Hệ thống kho dự trữ quốc gia được trang bị hệ thống thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại để tự động hóa quá trình nhập, xuất, bảo quản. Hệ thống kho dự trữ quốc gia được xây dựng phù hợp với quy hoạch tổng thể quốc gia, quy hoạch vùng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; các điểm kho được bố trí tại địa bàn hợp lý, chiến lược, đảm bảo khả năng ứng phó nhanh, kịp thời trong tình huống đột xuất, cấp bách theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện vật tư tại chỗ, hậu cần tại chỗ), đảm bảo liên kết vùng, các địa điểm lân cận trong trường hợp cần huy động. Hệ thống kho dự trữ quốc gia thời kỳ 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 có 171 điểm kho với tổng tích lượng 1.385.665 tấn kho, trong đó: 97 điểm kho đầu tư xây dựng mới, nhu cầu tích lượng đầu tư mới; 74 điểm kho hiện trạng (gồm 26 điểm kho giữ nguyên hiện trạng; 48 điểm kho nâng cấp, cải tạo). 34 điểm kho hiện trạng (gồm 129 kho) không thuộc hệ thống kho dự trữ quốc gia thời kỳ 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Theo lộ trình đầu tư xây dựng, hệ thống kho sẽ thực hiện xử lý tài sản theo quy định của pháp luật. |
Dành cho bạn
Đọc thêm
Hải Phòng triển khai Kế hoạch thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 – 2030
Hải Phòng thu ngân sách ước đạt 113.500 tỷ đồng, tăng 12,4% trong 6 tháng đầu năm 2026
Tăng trưởng vượt kỳ vọng song sức ép đang lớn dần
Bộ Tài chính tổ chức bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức
Tăng tốc trong nửa cuối năm, áp dụng “thước đo” mới chấm điểm giải ngân đầu tư công từ tháng 7
Đầu tư công bứt tốc trong tháng 6, kỳ vọng hoàn thành mục tiêu giải ngân cả năm




